Sự việc sách Áo Tím GL của Bích Vi (Võ Thị Hai)- Feb 20 16

LGT: đây là chuỗi mails về sự việc Bích Vi ( Võ Thị Hai) và sách Áo Tím Gia Long

Các bạn

Tuần qua, vài người gửi cho HLC, thư liên quan đến một cuốn sách ảnh “Một thời Áo Tím-Gia Long “. Mãi sau, HLC mới có thì giờ viết ý kiến của HLC dưới dạng thư gửi tác giả Bích Vi và copy cho một số Thầy Cô cũng như cựu nữ sinh Gia Long.

Sau mail đó, một vài Gia Long gửi mail cho HLC, cám ơn, đã cho họ biết tin tức.

Hôm nay, HLC, gửi rộng rãi mail này. Nếu các bạn có người nhà là Gia Long thì fw. Để mọi Gia Long hải ngoại hiểu hơn về cuốn sách ảnh này.

Thân mến

Hoàng Lan Chi

From: HoangLanChi [mailto:hoanglanchi]
Sent: Wednesday, February 24, 2016 8:03 PM
To:
Subject: Vài góp ý với sách ảnh MỘT THỜI ÁO TÍM-GIA LONG ( Bích Vi-Võ thị Hai)

Vài góp ý với sách ảnh

MỘT THỜI ÁO TÍM-GIA LONG

Tôi là Hoàng Lan Chi, GL (60-67).

Bích Vi (Võ thị Hai), (GL 63-70), là tác giả cuốn sách ảnh MỘT THỜI ÁO TÍM – GIA LONG, dự định phát hành tại Việt Nam vào tháng 3/2016.

Dựa vào nội dung lá thư của cô Bích Vi-Võ Thị Hai trả lời một cựu nữ sinh Gia Long, tôi có vài ý kiến như sau:

Hoàng Lan Chi xin được phép nêu vài ý kiến, thắc mắc với Bích Vi-Võ Thị Hai, dựa trên tình đồng môn.

Thưa Bích Vi-Võ Thị Hai, tôi hoàn toàn ủng hộ bất cứ hình thức nào nhằm nêu cao, gìn giữ, vinh danh những truyền thống tốt đẹp của trường Gia Long. Biên niên sử Gia Long với hàng ngàn hình ảnh là một sử liệu quý giá.

Tuy vậy có vài điều sau đây:

1-Nơi in ấn:

Bích Vi muốn in ở VN với lý do đẹp, rẻ. Tuy vậy, sẽ bị hạn chế bởi các điều sau đây:

1.1- Cuốn sách của Gia Long chúng ta sẽ bị mang tên của một nhà xuất bản của VC. Vd sẽ như sau: Nhà Xuất Bản Trẻ, TP…Hồ..

Chắc chắn nữ sinh Gia Long quốc gia, dù sinh sống trong hay ngoài VN, đều khó chấp nhận “vết tích đó” ở ngay bìa sau của sách.

1.2-Cuốn sách sẽ bị nhà xuất bản Trẻ (hoạt động dưới gọng kìm cs) hiệu đính rất nhiều cho phù hợp với tinh thần của họ.

KL: Bích Vi nên xét lại vụ in này. Tôi tin rằng, Gia Long hải ngoại, có lẽ sẽ không “cân đong đo đếm” giá cả nếu như tài liệu đó xứng đáng.

2-Bài vở trích đăng: Chúng tôi nhận thấy hai điều:1- Không phong phú lắm vì không đa dạng tác giả; 2-Bài của các gíao sư, nhât là Cô Châu Thị Ngọc Minh, đã có xin phép chưa? Lý do: dù bài xuất hiện ở net, hay đặc san Gia Long nhưng vài Thầy Cô hoặc nữ sinh Gia Long hoàn toàn không muốn tác phẩm của mình xuất hiện trong sách của Bích Vi và xuất bản trong nước.

KL: Phải chăng Bích Vi nên xin phép tác giả và nên đa dạng hoá tác giả cho dù đây là sách ảnh?

3-Hình ảnh: được chia làm nhiều giai đoạn. Số lượng ít nhất là thập niên 1950: chấp nhận được. Nhưng số lượng ảnh của chính Gia Long, từ khi thiết lập hai nền cộng hoà, từ 1955-1975, tổng cộng là khoảng 160 ảnh. Số lượng cho sau 75 là khoảng 603 ảnh. Riêng Làng Gia Long là 292 ảnh.

Có lẽ nhiều Gia Long hải ngoại sẽ tự hỏi, trong số 603 ảnh sau 1975, có bao nhiêu ảnh mang vết tích vc? (Vd tên NTMK trên cổng trường?) Bao nhiêu ảnh có hình ảnh “cán bộ vc chính gốc, cán bộ nằm vùng vc” ở trong?

Mặt khác, Làng Gia Long đã không đạt được mục đích nào đó vì sự tranh chấp này nọ mà kết quả là một kỷ niệm không đẹp cho người Gia Long thì với 292 ảnh, không hiểu có những hình ảnh nào Thật, những hình ảnh nào “được dàn dựng” ( là tôi nói ví dụ chứ tôi không biết) và có ý nghĩa gì? Không lẽ đơn thuần là quảng cáo cho một việc làm thuộc quá khứ, trong một giai đoạn, của Bích Vi-Bạch Huệ?

KL: Gia Long hải ngoại có thể sẽ đắn đo trước số lượng ảnh sau 1975 quá nhiều; đồng thời có thể nghĩ sai về Bích Vi-Võ Thị Hai, khi cố tình “khơi lại” đống tro không đẹp Làng Gia Long.

4-Mục đích: Ban Chủ Biên ghi vầy “ Mục tiêu trên hết của tập ảnh là bày tỏ lòng chân thành biết ơn quý thầy cô đã tận tuỵ bồi đắp kiến thức văn hoá, chăm lo trau giồi đức hạnh và tôn tạo các giá trị tinh thần cho lớp lớp nữ sinh Gia Long”. Như thế những hình ảnh nào “nói lên” sự biết ơn đó, Bích Vi có thể bật mí thêm được không? Vd cụ thể: hình ảnh nữ sinh tham gia Ngày Hai Bà Trưng, nữ sinh đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc, nữ sinh nhận hoa mai vàng, nữ sinh thăm viếng và biếu quà cho quý thầy cô: có thể coi là vài hình ảnh tiêu biểu cho sự dạy dỗ của quý thầy cô. Còn hình ảnh nữ sinh vui chơi, du lịch đây đó, bơi lội: hoàn toàn không nói được mục tiêu trên.

5-Thành phần Ban Chủ Biên:

Ban Chủ Biên gồm Bích Vi-Võ Thị Hai (Santa Ana-Hoa Kỳ) và Huỳnh Thi Kim Phụng (Sài Gòn, Việt Nam)

Danh tiếng của Bích Vi-Võ Thị Hai có lẽ khá nhiều người biết. Dường như tôi có đọc đâu đó về Võ Thị Hai nhưng không giữ. Bạn Gia Long nào có, xin gửi cho tôi. Sau 1975, Võ T Hai làm tờ Phụ Nữ thành phố. Chức vụ to, chỉ dành cho đảng viên: Trưởng Ban Kinh Tế Chính Trị Xã Hội. ( Bạn tôi làm cùng toà báo Phụ Nữ với Bích Vi thời đó.)

KL: một người từng cộng tác báo Phụ Nữ TP thành Hồ (Cs rất chú trọng mảng truyền thông và lọc lựa nhân sự rất kỹ cho mảng này) thì có lẽ sẽ bị bất lợi nhiều khi đứng tên chủ biên in sách về Gia Long ngày tháng cũ, Bích Vi có thấy thế không? Giả dụ, giả dụ thôi nhé, Bích Vi sẽ viết, BV đã ra khỏi đảng, đã không còn cộng tác bất cứ cái gì với CSVN, thế nhưng “cái dấu vết” sẽ rất khó xoá nhoà trong lòng nhiều người quốc gia, nhất là khi “vết tích” ấy dính líu đến quốc-cộng, một vấn đề mà cho đến bây giờ vẫn là hàng rào ngăn cách người Việt?

LỜI CUỐI: Trên đây là vài ý kiến, thắc mắc, cũng như góp ý của Gia Long Hoàng Lan Chi cho Gia Long Bích Vi-Võ Thị Hai.

Quyền quyết định sẽ in ở đâu, sẽ gồm hình ảnh gì, sẽ nhắm vào đối tượng trong hay ngoài nước: là của Bích Vi-Kim Phụng.

Quyền quyết định sẽ mua và quảng bá hay không: là của khối Gia Long quốc gia hải ngoại và khối Gia Long ở VN.

Mỗi người tự chọn cho mình một quyết định riêng. Hoàng Lan Chi không có ý kiến gì nữa cả. Dù Bích Vi nhắm vào thị trường nào, Hoàng Lan Chi cũng xin chúc Bích Vi sức khoẻ, may mắn và thành công vì tâm nguyện của Bích Vi là “Tôi mong ước sẽ thiết lập và tôn tạo một giá trị vĩnh cữu cho ngôi trường Gia Long của tất cả các giáo sư và nữ sinh GL ở khắp nơi.”

Hoàng Lan Chi

Gia Long 60-67

24/2/2016

PS: danh sách người nhận chỉ toàn người Gia Long.

PHỤ LỤC

THƯ CỦA BÍCH VI-VÕ THỊ HAI

Lời nói đầu

Trân trọng kính mời quý cựu giáo sư, cựu nhân viên hành chính và cựu nữ sinh Gia Long cùng gia đình, cũng như quý thân hữu khắp năm châu dành ít phút để cùng chúng tôi lần giở lại biên niên sử của trường nữ Trung học Gia Long Sài Gòn, để cùng hồi tưởng về vô vàn kỷ niệm vui buồn suốt sáu thập niên qua dưới mái trường, cùng những minh chứng cho lòng tôn sư trọng đạo của cựu nữ sinh Gia Long Sài Gòn, cũng như hoạt động thiện nguyện đầy tận tuỵ của cựu nữ sinh Gia Long khắp thế giới ngày nay.

Tập ảnh chắc chắn còn nhiều điều hạn chế, và không bao quát toàn bộ hoạt động của cựu nữ sinh Gia Long khắp nơi, thuộc nhiều thế hệ, kính mong quý vị thông cảm và tha lỗi.

Mục tiêu trên hết của tập ảnh là bày tỏ lòng chân thành biết ơn quý thầy cô đã tận tuỵ bồi đắp kiến thức văn hoá, chăm lo trau giồi đức hạnh và tôn tạo các giá trị tinh thần cho lớp lớp nữ sinh Gia Long. Đây cũng là dịp giúp chúng ta hồi nhớ về những năm tháng tươi đẹp và hạnh phúc không-thể-nào-quên của các cựu nữ sinh Gia Long.

Chúng tôi cũng xin phép được trích đăng các bài viết của các cựu giáo sư và cựu nữ sinh Gia Long khắp nơi đã gửi cho cuộc thi viết về Gia Long của web site “Gia Long Yêu Thương” trước đây, và một số hình ảnh về Gia Long trên mạng xã hội. Chúng tôi xin tri ân sự đóng góp quý báu của quý vị cho sự hoàn thành cuốn sách ảnh này.

Thay mặt nhóm ấn hành Tập ảnh “Áo Tím – Gia Long Một Thời Để Nhớ.”

Võ Thị Hai

(Cựu nữ sinh Gia Long 1963 – 1970)

*

Tôi ra trường năm 1970, không dính líu đến MK và đã phải sống lưu vong vì bị lãnh đạo của nhóm Áo Tím, 2 vị giáo sư GL đấu tố 5 lần vì Làng Gia Long, nên không có lý do gì để “vinh danh MK” trong cuốn sách ảnh. Tôi đã im lặng, mặc dù có nhận được thư thắc mắc y như bạn cách nay 3 hôm, nhưng không trực tiếp gửi cho tôi. Theo dự tính thì cuốn sách ảnh được phát hành ở VN nhờ giá rẻ và đẹp. Ở hải ngoại chỉ nhận phát hành ở góc độ cá nhân, ai mua thì bán, không ra mắt, cũng không phát hành rộng rãi. Tôi định để nội dung cuốn sách, sau khi được phát hành sẽ nói thay mọi điều, và biết đâu đó lại chính là sự quảng cáo đầy thu hút đối với cuốn sách ảnh hiện nay.

Tuy nhiên, theo yêu cầu của Huệ, nên tôi thành thật trả lời như sau:

– Đó cuốn sách ghi lại hoạt động của cựu giáo sư và cựu nữ sinh Gia Long nhiều thập niên, tức là GL hải ngoại, GL Sài Gòn từ năm 1950 cho đến nay, chứ không phải sự phân chia về thời gian của ngôi trường, cho nên không có MK trong đó. Bạn xem cuốn sách, bảo đảm không thấy có một chữ MK nào. Và tôi quan niệm rằng, nên thừa nhận các bạn thi đậu vào Gia Long trước năm 1975 là nữ sinh Gia Long, cho nên có thể có hình hoạt động của họ, chẳng hạn như lớp cùng thời 72-79 của Bạch Huệ. Nam sinh MK thì lại càng không thể là GL rồi. Một minh chứng nữa là trong “Danh sách các hiệu trưởng trường Gia Long”, chỉ tính đến trước 1975, tức vị hiệu trưởng cuối cùng của Gia Long là cô Phạm Văn Tất. Bạn cũng biết là nếu kể MK thì có hàng chục người nữa, đúng không?

-Sau 2 tháng nộp nội dung cho nhà xuất bản Trẻ, khi tôi viết những dòng này thì cuốn sách ảnh vẫn chưa được cấp phép. Tôi được người đại diện ở VN thông báo lập luận của Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ ở SG như sau: “Sách nói về Gia Long, tức là về giai đoạn trước giải phóng (nguyên văn của họ), là rất nhạy cảm, nên cần được xem xét kỹ.” Tôi đang cân nhắc xem có nên in ở Mỹ hay không, đắt và có thể không đẹp bằng in ở VN.

-Tựa đề ban đầu của cuốn sách là “Biên Niên Sử Gia Long” nhưng nhà xuất bản không đồng ý, sửa lại hết là “Một thời Áo Tím – GL.” Họ nói rằng chỉ có trường MK mới có quyền làm biên niên sử.

– Tôi cố gắng thực hiện cuốn sách ảnh, với kho tài liệu lên đến vài ngàn tấm, nghĩ rằng chỉ có GL mới làm được biên niên sử, chứ các trường khác không chắc làm được. Tôi mong ước sẽ thiết lập và tôn tạo một giá trị vĩnh cữu cho ngôi trường Gia Long của tất cả các giáo sư và nữ sinh GL ở khắp nơi.

Cám ơn sự quan tâm của bạn. Và trả lời như thế hẳn đã đủ?

Chúc bạn vui khoẻ.

Võ Thị Hai

********

SÁCH ẢNH “MỘT THỜI ÁO TÍM – GIA LONG” phát hành vào đầu tháng 3/2016

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng Quý thầy cô cựu giáo sư, quý nhân viên hành chánh và các bạn cựu học sinh Áo Tím – Gia Long – Minh Khai khắp nơi về cuốn sách ảnh “Một thời Áo Tím – Gia Long”
ghi lại hoạt động của các cựu GS và cựu nữ sinh trong 7 thập niên,
từ 1950 đến nay, gồm:
– Thập niên 1950: 30 ảnh
– Thập niên 1960: 134 ảnh
– Thập niên 1970: 21 ảnh
– Thập niên 1980: 3 ảnh
– Thập niên 1990: 452 ảnh
– Thập niên 2000: 82 ảnh
– Thập niên 2010: 76 ảnh
– Chương tưởng niệm: 22 ảnh
– Chương Làng Gia Long: 292 ảnh.
Nội dung sách ảnh bao gồm:
1.112 tấm hình và 27 đoản văn của các tác giả sau đây:
1. Âm thanh trường xưa (tác giả NGỌC PHƯƠNG)
2. Các thầy cô Việt Văn của tôi (CHÂU THỊ NGỌC MINH)
3. Đời nội trú (LÊ THỊ PHỤNG)
4. Gia Long và tôi (NGUYỄN NGỌC CHUNG)
5. Lịch sử trường Gia Long (Cựu giám học NGUYỄN NGỌC ANH)
6. Lược sử trường Gia Long (GS BẠCH THU HÀ)
7. Thời nội trú (TRẦN THÀNH MỸ)
8. Thuở học trò (LÊ THỊ PHỤNG)
9. Chúng tôi là người Gia Long (BÍCH VI)
10. Dưới mái trường xưa (NGUYỄN THỊ KIM NGA)
11. Hồ bơi trường Gia Long được xây dựng trong trường hợp nào?
(VÕ THỊ Hai)
12. Khung trời dĩ vãng (GS NGUYỄN LÂN)
13. Thời vụng dại (LÊ THỊ LIÊN HƯƠNG)
14. Tình bạn (SONG THANH)
15. Tôi đi nhận nhiệm sở (GS LÊ THỊ HỒNG MẬN)
16. Thơ Gia Long Yêu Dấu (MAI AURELIE)
17. Chuyện bây giờ mới kể (BÍCH VI)
18. Về Làng (BÍCH VI)
19. Chuyện vui quanh Làng (VÕ THỊ HAI)
20. Mãi mãi Gia Long (BÍCH VI)
21. 20 tháng 11 trong tôi (BÍCH VI)
22. Tôi yêu những bài giảng huấn biết đi (VÕ THỊ HAI)
23. Gia Long Dễ thương (MÃ THỊ HUỲNH ĐIỂU)
24. Gia Long hoài nhớ (BÍCH LIÊN)
25. Gia Long lưu lạc (BÍCH VÂN)
26. Gia Long trong tôi (VÕ THỊ HAI)
27. Đêm rằm tháng Giêng ở Làng (BÍCH VI)…

28. Có một thời (Đỗ Kim Trâm)
Sách ảnh “Một thời Áo Tím – Gia Long” do Công ty Trường Phát ở Sài Gòn phát hành vào đầu tháng 3/ 2016 tại Việt Nam, dày 450 trang, in 4 màu.
Các bạn cựu học sịnh và đọc giả tại Sài Gòn vui lòng liên lạc để mua sách tại:
. Cửa hàng Sách 24, đường sách Nguyễn Văn Bình, Q1.
. Tổng Công ty phát hành Trường Phát, số 179 Lý Chính Thắng, Q3.
. hoặc gặp trực tiếp chị Huỳnh Kim Phụng, điện thoại số: 0903705283.
Giá bán tại Việt Nam: 350.000 đồng.
Giá bán tại Hoa Kỳ và hải ngoại: 25 USD.
Kính mời Quý thầy cô và các bạn đón xem.
Các giáo sư và nhân viên hành chánh của trường được tặng một bản sách.
Tiền lời thu được từ việc bán sách (nếu có) sẽ được sung vào Quỹ săn sóc thầy cô giáo Gia Long.
Thay mặt ban chủ biên:
. Bích Vi – Võ Thị Hai (Santa Ana, Nam California)
. Huỳnh Thi Kim Phụng (Sài Gòn, Việt Nam).

Ở Mỹ và hải ngoại muốn mua sách xin gửi check payable to Hai Vo có kèm tên họ, địa chỉ gửi về số 9353 Bolsa Ave #H18, Westminster CA 92683, USA
Phone 714-548-9008
Email : vothihai90350
Giá sách ở Mỹ: 25 USD
Cộng với cước phí gửi trong nước Mỹ: 10 USD
Cước phí gửi ngoài nước Mỹ: 15 USD

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Sự việc sách Áo Tím GL của Bích Vi (Võ Thị Hai)- Feb 20 16

Phan Lạc Phúc- Nhớ Phạm Đình Chương

Nhớ Phạm Đình Chương

Phan Lạc Phúc

6-7308-1391793593.jpg

Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc Phạm Đình Chương

Nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương ra đời tại Hà Nội vào năm 1929, trong một gia đình nghệ sĩ, học Trường Bư Thanh Hóa sau Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp 1945. Sáng tác nhạc trước tuổi 20, ông là tác giả những ca khúc dân tộc như Tiếng Dân Chài, Ly Rượu Mừng, Hội Trùng Dương, hay những sầu khúc nhạc phổ thơ như Nửa Hồn Thương Đau, Mắt Biếc, Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi …

Tới Hoa Kỳ được ít năm, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California vào ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi, nhằm ngày 22 tháng 8 năm 1991. Bài dưới đây của nhà bỉnh bút Phan Lạc Phúc, hay Ký giả Lô Răng, một bạn học của nhạc sĩ từ Trường Bưởi, được viết ngay sau khi có tin buồn.

Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya. Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: "Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa". Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương – Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta Phạm Đình Chương đã đi thật rồi, một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt.

Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942 – 1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. "Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi"(1). Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương Hoàng Xá (2).

Ngày ấy, chúng tôi say mê hát "Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm" (3), "Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi" (4) và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây "kịch" và anh Phạm Đình Viêm, một cây "tenor". Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu "bất thành văn" của suốt một miền Bạch Mai – Phố Huế. Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên ’50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.

Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ – người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn "phi cao đẳng bất thành phu phụ". Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn: "Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu". Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá.

Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến thứ hai đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải "phòng thủ thụ động", các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình. Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá. Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi (phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối. Đến động Hoàng Xá tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đán nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày (Sài Sơn) thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. "Hội chùa Thày vui thay Cắc Cớ, Trai không vợ nhớ hội chùa Thày – Gái không chồng nhớ ngày mà đi". Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không? Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không? Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi. Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi.

Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai – Sơn Tây vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận mình là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn Khi mùa Xuân đã cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn đã tưng bừng nở đỏ thì cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. "Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc" (5), con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại vừa ôn thi.

Nhưng đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại vừa ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu Đức – Ý – Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang Chiến Khu Việt Minh. Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8 Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát "Lên Đường", lao đầu vào một cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung đoàn thủ đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(Quang Dũng)

Những năm đầu kháng chiến (1948, 1949, 1950) có những thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ …

Đầu mùa đông năm 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách"Quán Thăng Long". Ở trên vách quán, có treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm. Hai vị này tôi biết: ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N. T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây Thăng Long Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư mà vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan.

Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm "quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi". Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài"con vỏi con voi""con mèo trèo cây cau" nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương vừa mới được giải thưởng về bài hát "gì mà có con cò bay lả bay la".

À ra thế bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm (6) có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta "Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng" (7).

Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: "Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu". Đúng như thế, dạng "tạch, tạch, sè" (tiểu tư sản) như Chương và tôi thì dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho "tổ chức" mà thôi. Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã "áo bào thay chiếu …" (8) còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau "dinh tê" về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã trở thành một nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49 còn Chương và gia đình hồi cư năm 51.

Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh: Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng đã trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi cũng không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết là ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp.

Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo ban Hợp ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu. Người Sài Gòn vốn bộc trực "yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét" mà đã yêu thì yêu hết mình; chương trình của Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe – trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Ngưới ta mua "giấy" báo xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa "đã". Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế.

Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy tôi có lúc đã tự hỏi: "Vì sao mà trong một thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?" Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường thôi nên không dám đưa ra ý kiến có tính cách kỹ thuật nào. Bằng vào cái cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui. Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí(Ngựa Phi Đường Xa), vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng (Được Mùa), vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước (Tiếng Dân Chài), vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về (Ly Rượu Mừng). Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu, nên nó dễ dàng thấm đượm lòng người.

Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể nó thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng được niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam, Hoài Bắc – Khánh Ngọc một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức.

Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu của mình. Năm ấy ban Hợp ca cùng với "quái kiệt" Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề – Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân chúng Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn.

Nhưng mà ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi lững thững đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá một cây công tử Càn Long Hà Nội tôi mới được vào (bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc?).

Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng mà lần này, người Hà Nội bị ban Hợp ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch … chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi. Bây giờ Ban Hợp ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này.

Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho những nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết rằng trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt.

Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của ban Hợp ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của ban Hợp ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng … đều xuất hiện trong giai đoạn này.

Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ rằng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng thì đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn còn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có một nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui. Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con của người mẹ già hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá:

Quê hương tôi nghèo lắm ai ơiMùa đông thiếu áo (9) …

Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm (contrepoint), chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải là người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu cũng là đặc điểm của Ban Hợp ca Thăng Long …

Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào khoảng cuối thập niên ’50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về một căn nhà nhỏ đường Võ Tánh (Frères Louis cũ). Chính tại ngôi nhà này tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng với Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến "hầu bài" bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán …

Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu jeune premier đã tắt và đặc biệt Chương để một hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương: Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương.

Ban Hợp ca Thăng Long, với sự phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm ’60, ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung – Hoài Bắc – Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng đó chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và nhân ái của Phạm Đình Chương cũng không còn xuất hiện. Trong thời kỳ này ban Hợp ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh: Bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng.

Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương đã khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải là nghề của chàng. Như đã nói, Chương không phải là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau thì có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không. Cho nên những khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn … Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng của nó, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự "Chẳng đặng đừng". Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương có vẻ đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tân hồn nhân ái của tác giả.

Nói cho ngay từ thập niên ’60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự "chẳng đặng đừng". Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay cả việc trông coi phòng trà ca nhạc "Đêm Màu Hồng" Chương cũng làm chơi chơi, cho có. Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy nó lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một ban Hợp ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có mang hơi rượu cùng với nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu.

Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào thì chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì phải Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm "Hồ Trường, Hồ trường ta biết rót về đâu". Thanh Tâm Tuyền thì phải Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông? Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình (ít khi lắm). Hát tiếng Tây "Un jour si tu m’abandonnes" (Ngày nào, nếu em bỏ ta). Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên "Quang Minh Đỉnh".

Trong những năm "Đêm Màu Hồng" tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi kiếm một bó hoa thường là hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương phủ Quốc gửi vào.

Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu,uống cho say, uống cho quên uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo "Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu".

Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5 năm 1975 khi "đứt phim" được chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo. Bữa rượu im ắng thê lương.

Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trước. Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: "đi nhé". Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi. Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại. Đi nhé! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương.

Phan Lạc Phúc

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Phan Lạc Phúc- Nhớ Phạm Đình Chương

Phỏng vấn Bs Nha Khoa Chu văn Cương-UCV Dân Biểu Texas KV 149

LGT: Đầu năm 2016, cá nhân tôi “hên” khi gặp, tình cờ, rồi phỏng vấn Nha sĩ Chu Văn Cương. Đây là một trong những cuộc phỏng vấn về đề tài “thời sự chính trị” mà tôi ưng ý. Người được phỏng vấn đã trả lời đầy đủ, rõ ràng, cô đọng, súc tích, kể cả những cái tạm gọi là “khá nhạy cảm”. Đó là nếu CỘNG SẢN VIỆT NAM cử người đối thoại công khai với cộng đồng thì sao, hay đường hướng đấu tranh của cộng đồng phải thay đổi như thế nào để có hiệu quả tối ưu?

Trò Chuyện với Lan Chi tháng 1/2016

Phỏng vấn Nha Sĩ Chu Văn Cương

UCV Dân Biểu Texas, KV 149

Hoàng Lan Chi: Xin chào Nha sĩ Chu Văn Cương. Texas, được xem như thủ phủ thứ hai của cộng đồng Mỹ Việt đã có Dân Biểu Hubert Võ từ Đảng Dân Chủ. Được biết ông sẽ là đại diện Đảng Cộng Hòa ứng cử chức vụ Dân Biểu Tiểu Bang Texas, Địa Hạt 149 trong nhiệm kỳ 2017-2018. Xin Nha Sĩ cho biết vài nét khái quát về tiểu sử?

Chu Văn Cương: Mến chào chị Lan Chi. Tôi đến Hoa Kỳ cùng cha mẹ vào năm 1980 lúc mới 14 tuổi. Tốt nghiệp Kỹ sư Điện tử và sau 10 năm làm việc, tôi và vợ tôi quyết định trở lại đại học để lấy thêm bằng Kỹ sư Hóa Học và sau đó tốt nghiệp Bác sĩ ngành Nha Khoa. Tôi gia nhập Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam năm 1989 và tham gia đảng Cộng Hòa vài năm sau đó. Vợ tôi là Bác sĩ Nha Khoa Phạm Thùy Linh và chúng tôi rất diễm phúc có tất cả 3 đứa con trai hiện đang là sinh viên đại học năm thứ 4. Cậu lớn, 24 tuổi, đang học ngành Xã Hội Học và hai cậu sinh đôi, 22 tuổi, đang theo học ngành Vật Lý. Tôi hiện đang hành nghề nha khoa tại thành phố Houston từ năm 2006 cho đến nay. Trong Cộng Đồng NVQG Houston, tôi hiện là một trong bốn Ủy viên của Hội Đồng Cố Vấn.

HLC: Được biết thân phụ ông là một nhà xuất nhập khẩu trước 1975, như thế gia đình gốc thương mại, bản thân tốt nghiệp Kỹ sư hạng Ưu, trở lại Đại Học ở tuổi ngoài 30 để lấy mảnh bằng Nha sĩ. Xem ra có vẻ con đường hoạn lộ rất suông sẻ, hanh thông với ông. Phải chăng sự hanh thông nầy đã khiến ông muốn “thử thời vận” khi bước vào chính trường Hoa Kỳ hay còn nguyên nhân nào khác thưa ông?

CVC: Tôi tốt nghiệp trường Nha lúc 39 tuổi, lộ trình để lấy được mảnh bằng Nha sĩ quả thật không phải suông sẻ hanh thông như nhiều người nghĩ. Với 3 đứa con nhỏ cần sự chăm sóc của cha mẹ trong tuổi còn thơ, chúng tôi vừa đi học, vừa đi làm và vừa lo cho 3 cháu ăn học nên thời gian 8 năm trở lại trường đại học quả thật rất là cam go, vất vả. Khi tham gia vào chính trường Hoa Kỳ, cá nhân tôi không bao giờ có ý tưởng muốn thử thời vận hay có tham vọng chính trị trở thành một người quyền uy chức lớn. Ba lý do chính thôi thúc tôi quyết định tham gia vào chính trị dòng chính là tôi muốn trả ơn lại cho đất nước Hoa Kỳ đã cho chúng tôi có được sự nghiệp thành công ngày hôm nay. Thứ hai, tôi muốn đem lại nhiều an sinh phúc lợi và quyền lợi về cho những cư dân trong Khu vực 149, nhất là cho Cộng Đồng NVQG Houston là nơi mà tôi đã sinh hoạt trong suốt thời gian 9 năm qua khi tôi đặt chân đến Texas. Qua những cuộc thăm dò, tôi nhận thấy rất nhiều người dân đang muốn thấy có một sự thay đổi toàn diện trong Khu Vực để họ có được một người Dân Biểu xứng đáng là người đại diện cho họ tại Austin. Thêm nữa, tham gia vào dòng chính sẽ giúp tôi đóng góp hiệu quả cho công việc dân chủ hóa Việt Nam qua ngã ngoại vận.

Tốt Nghiệp Nha Khoa lúc 39 tuổi

HLC: Được biết ông từng giúp đỡ một số khuôn mặt Cộng Hòa như Dân Biểu Edward Royce (California, Khu Vực 39, 2003-hiện tại), Dân Biểu Dana Rohrabacher (California, Khu Vực 48, 1989-hiện tại) và Dân Biểu Helen Bentley (Maryland, Khu Vực 2, 1985-1995). Xin kể rõ cụ thể ông đã giúp họ những gì và phải chăng đường lối, chiến lược của Đảng Cộng Hòa đã thu hút ông?

CVC: Đa số là tôi giúp cho họ với vai trò của một thiện nguyện viên trong giai đoạn họ đang tranh cử. Những công việc mà tôi đã làm bao gồm những việc như đi gõ cửa từng nhà để vận động cử tri, phân phát truyền đơn, gọi điện thoại nhắc nhở cử tri đi bầu và tổ chức, điều hợp làm MC cho những buổi sinh hoạt gây quỹ tranh cử. Trong thời gian đó, tôi hấp thụ được những đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng Cộng Hòa.Tôi nhận ra rằng đó là con đường mà tôi muốn đeo đuổi vì đối với tôi, sự cứng rắn và cương quyết của chính quyền Hoa Kỳ trên thế giới mới có thể đem lại sự an toàn cho người dân và nền kinh tế vững mạnh lâu dài trong nước. Đặc biệt, chính sách của Đảng Cộng Hòa chống lại sự bành trướng của cộng sản lúc đó là yếu tố mà tôi rất thích vì tôi đã là thành viên của Tổ Chức Phục Hưng lúc bấy giờ mà mục tiêu tối hậu của Tổ Chức là giải thể cái chế độ phản dân hại nước của nhà cầm quyền Hà Nội.

HLC: Được biết Dân Biểu Helen Bentley, người mà ông đã giúp khi ra tái tranh cử Quốc Hội, đã đệ trình Đạo Luật HR# 5413 lên Quốc Hội năm 1990 khi bà đắc cử. Kết quả là Đài Á Châu Tự Do (RFA) được thành hình và tài trợ bởi bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Cho hỏi ông đã đóng góp gì cho nội dung Đạo Luật này hay chỉ là giúp bà Helen Bentley khi tranh cử?

CVC: Bà Helen Bentley lúc đó đã là Dân Biểu trong Quốc Hội Hoa Kỳ và Bà quyết ra tái tranh cử. Trước đó, Bà đã đệ trình lên Quốc Hội một đạo luật để thành lập một Đài Phát Thanh quảng bá cho phong trào dân chủ hóa các quốc gia còn đang bị những chế độ độc tài hay cộng sản cai trị. Vì thế, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam đã phối hợp với Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, nguyên là Chủ Tịch Ủy Ban Vận Động Thành Lập Đài Á Châu Tự Do, để đẩy mạnh chiến dịch ủng hộ cho Bà Bentley tiếp tục trở thành vị Dân Biểu của tiểu bang Maryland, Khu Vực 2. Khi Bà Bentley tái đắc cử, Bà đã tiếp tục tranh đấu trong Quốc Hội và Đài Á Châu Tự Do được thành hình và hoạt động cho đến ngày hôm nay. Cá nhân tôi chỉ giúp cho Bà Bentley trong việc tái tranh cử chứ không có đóng góp gì về nội dung của đạo luật.

HLC: Với quá khứ từng ủng hộ rồi tham gia Đảng Cộng Hòa nên Đảng đã yểm trợ cho ông ra ứng cử dân biểu tiểu bang kỳ này. Tôi tò mò muốn biết sao không là sớm hơn?

CVC: Tôi nghĩ rằng trước khi ra ứng cử cho một chức vụ quan trọng như là Dân Biểu Tiểu Bang, thì người ứng cử viên phải có một quá trình hoạt động chính trị và một bề dày kinh nghiệm trong những sinh hoạt của Cộng Đồng để chứng minh cho những cư dân và đồng hương thấy là mình có đầy đủ những tiêu chuẩn và khả năng cho chức vụ đó. Tôi đã sinh hoạt chính trị và cộng đồng hơn 27 năm nay, tôi tin rằng đa số đồng hương nhận thấy được sự dấn thân làm việc của tôi phát xuất từ nguyện vọng là vì tôi muốn tranh đấu cho người dân có được những quyền lợi cho họ và cho đất nước chứ không phải cho quyền lợi cá nhân. Vì vậy, tôi nghĩ rằng thời điểm bây giờ đã chín muồi, tuổi tôi cũng còn tương đối trẻ và tôi đã có những thành tích đáng kể đóng góp cho quê hương dân tộc và cho cộng đồng nơi tôi sinh sống, cho nên việc tôi ra tranh cử lúc này là thời điểm tuyệt vời đối với cá nhân tôi.

HLC: Ông có những kinh nghiệm gì trong quá khứ khi sinh hoạt cộng đồng để thuyết phục cử tri tin rằng ông sẽ làm tròn nhiệm vụ của một dân biểu thật xuất sắc?

CVC: Đối với những sinh hoạt cộng đồng, tôi chỉ xin tóm tắt là kể từ khi tôi đặt chân đến thành phố Houston cách đây gần 9 năm, tôi đã phối hợp với những đoàn thể và cá nhân liên tục tổ chức rất nhiều những chương trình mang tính chất văn hóa, chính trị và xã hội đến cho đồng hương Houston. Những chương trình điển hình như triển lãm văn khố thuyền nhân, gây quỹ cho đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi, quảng bá DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh, DVD Sự Thực về Hồ Chí Minh: The Man and The Myth, DVD Thảm Hoạ Đỏ, hội thảo về tình hình biển Đông, Công Đoàn Lao Động Độc Lập của Lao Động Việt, Bách Việt của Nhóm Việt Học, Hiệp Ước TPP, v.v. Kể từ khi tham gia vào Tổ Chức CĐNVQG Houston và Vùng Phụ Cận, tôi cũng đã sát cánh với những anh em trong HĐĐDCĐ & HĐCV giúp đem lại sự ổn định và phát triển trong những sinh hoạt của Cộng Đồng ngày hôm nay. Ngoài ra, tôi đã từng là Tổng Thư Ký của Hội Vietnamese Lions Club of Houston và là Chủ Tịch Hội Nha Sĩ Người Mỹ Gốc Á (HAADS). Tôi thiết nghĩ với bản chất của một người hăng say làm việc, một lý tưởng trong sáng và với những kinh nghiệm tích tụ trong nhiều năm dấn thân cho cộng đồng, tôi tin là đồng hương Việt Nam sẽ dồn phiếu cho tôi trong kỳ bầu cử tháng 11 tới đây. Khi đắc cử dân biểu, tôi tin chắc sẽ đem lại sự hãnh diện và niềm vinh dự về cho tất cả mọi thành phần trong khối người Việt đang sinh sống tại thành phố Houston và các Vùng Phụ Cận.

Gây quỹ phát thanh Đài Đáp Lời Sông Núi

HLC: Với cử tri Mỹ Việt, nguồn gốc thành viên Tổ Chức Phục Hưng, theo ông có những thuận lợi/bất lợi nào nếu ông ứng cử dân biểu?

CVC: TCPHVN là một đoàn thể chính trị ra đời cách đây 38 năm với mục đích giải thể chế độ độc tài đảng trị của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Qua sự đào tạo và huấn luyện từ khi còn thời sinh viên, tôi đã trở thành một cán bộ cách mạng để đi đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho đất nước của mình. Một số đoàn thể và cá nhân trong quá khứ đã làm xấu đi ý nghĩa “chính trị”, cho nên đồng hương Việt Nam cho rằng đi làm chính trị là đồng nghĩa với tham quyền cố vị, tham nhũng, bè phái, v.v. Theo tôi, làm chính trị là để phục vụ cho quê hương dân tộc là điều tốt và mọi người cần phải làm chính trị hoặc phải có thái độ chính trị. Người làm chính trị cần phải có đạo đức và có cái tâm tốt. Tôi rất lấy làm tự hào là đã tham gia vào TCPHVN trong gần 27 năm qua vì trong Tổ Chức, tôi đã học hỏi, chung vai sát cánh với những anh em chiến hữu sống chết có nhau trên con đường quang phục quê hương. Dĩ nhiên sẽ có một số người lạm dụng từ “chính trị” để bêu xấu cá nhân tôi, cho rằng việc tôi ra tranh cử hay làm việc Cộng Đồng là lợi dụng để đem lợi riêng về cho Đảng. Tôi nghĩ rằng đa số những cử tri người Việt rất hiểu biết và sáng suốt biết nhận diện ra thế nào là lợi dụng, thế nào là thuận lợi cho việc tranh cử của tôi vì họ chỉ việc nhìn vào những việc làm của tôi trong suốt 27 năm qua thì sẽ rõ.

Đêm Thắp Nến

HLC: Xin đồng ý với sự giải thích rõ ràng hai chữ “chính trị”. Cá nhân tôi cũng nghĩ rằng, con người phải có thái độ chính trị, lập trường chính trị và tư tưởng chính trị. Trong bối cảnh hải ngoại hiện nay, tạm hiểu rằng thái độ chính trị là tẩy chay vc, vd tẩy chay ca sĩ đảng viên cộng sản hát ở hải ngoại, lập trường chính trị là lập trường quốc gia dân tộc, tư tưởng chính trị là không thoả hiệp với cộng sản. Ông hứa hẹn điều gì với cử tri nói chung và cử tri Mỹ Việt nói riêng nếu đắc cử?

CVC: Khi đắc cử, tôi sẽ thực hiện những điều sau đây: (1) Tạo điều kiện thuận lợi, thay đổi hoặc đơn giản hoá tối đa những luật lệ rườm rà về thương mại để những cơ sở làm ăn dễ dàng phát triển. Qua đó, tiểu bang Texas sẽ thu hút được thêm nhiều đầu tư của những thương gia từ các tiểu bang hoặc quốc gia khác; (2) Đệ đạt và thông qua những đạo luật gia tăng phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở cho phù hợp với sự phát triển về dân số ngày càng gia tăng ở khu vực; (3) Về phương diện giáo dục, tôi sẽ vận động cho chương trình “School Voucher” được thông qua để cho phụ huynh học sinh có quyền lựa chọn nơi con cái mình đi học; (4) Về vấn đề nhập cư bất hợp pháp, tôi sẽ tranh đấu để bảo vệ biên giới, giảm tối đa số người di dân vượt qua biên giới bất hợp lệ và hợp thức hoá những di dân nào đã ở tại Hoa Kỳ hơn 10 năm nếu họ đã từng đi làm và có đóng thuế như những công dân Hoa Kỳ. Đối với cử tri người Mỹ gốc Việt, tôi sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Cộng Đồng nơi mình sinh hoạt qua việc hợp tác làm việc chặt chẽ với văn phòng Nghị Viên Thành Phố và CĐNVQG Houston và Vùng Phụ Cận. Tôi sẽ đặt vấn đề an ninh trong khu vực lên hàng đầu để các cơ sở thương mại luôn cảm thấy an toàn và an tâm làm ăn. Và như đã nói trên, với cương vị Dân Biểu, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội để trình bày về tình trạng mất nhân quyền, phản dân chủ tại VN hiện nay và sẽ làm tất cả những gì có thể được để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa VN.

HLC: Xin cảm ơn về những mục tiêu rất rõ ràng mà ông sẽ thực hiện nếu đắc cử dân biểu. Cá nhân tôi chú trọng yếu tố sau: an ninh trong cộng đồng. Lý do: vài năm qua, nhiều tệ nạn xã hội đã xảy ra ở Houston; Hai, tôi cũng chú ý đến vấn đề phải bảo vệ biên giới chặt chẽ hơn nữa và thứ ba, phải gia tăng việc giúp các tổ chức xã hội dân sự ở VN được quyền hoạt động.

Về mặt đảng, xin cho biết những thành tựu đã, đang và sẽ của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam mà hiện giờ ông đang là Chủ Tịch.

CVC: TCPHVN đã được thành lập trên 38 năm và có địa bàn hoạt động trải rộng khắp nơi trên thế giới. Những thành tựu mà Tổ Chức đã đạt được trong suốt 38 năm quá nhiều, tôi không thể liệt kê hết được trong vòng vài hàng. Tuy nhiên, tôi có thể nêu ra những điểm chính sau đây. TCPHVN luôn luôn chú trọng vào mặt truyền thông vì đó là vũ khí sắc bén nhất mà cộng sản lúc nào cũng sợ hãi. Từ khi mới thành lập, TCPHVN đã có những đài phát thanh như Tiếng Nói Tự Do từ Mạc Tư Khoa, Đài Diễn Đàn Dân Chủ và hiện nay là Đài Đáp Lời Sông Núi, liên tục phát về Việt Nam. Ngoài ra, Tổ Chức đã phối hợp với Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sàigòn (PTQDĐTTSG) để sản xuất ra phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” và “Ho Chi Minh: The Man and The Myth” nhằm đả phá hệ tư tưởng Hồ Chí Minh mà cộng sản tự lập ra để nhồi sọ người dân VN. Cách đây 6 năm, TCPHVN đã cùng PTQDĐTTSG và Tập Hợp Đồng Tâm thành lập ra Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc và liên minh này đã hoạt động liên tục cho đến nay. Về mặt ngoại vi thì Tổ Chức đã thành lập và duy trì Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang (TTVNVL) với trên 1,000 học sinh và 200 thầy cô giáo tại thành phố San José, California hơn 37 năm qua với mục đích phục hưng văn hóa dân tộc. TTVN Văn Lang còn có mặt tại một số nơi khác ở Hoa Kỳ và Âu Châu. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, TCPHVN luôn luôn sát cánh với các HĐĐD để hỗ trợ Ban Chấp Hành trong mọi công tác với mục tiêu giữ vững tinh thần đoàn kết và thành trì chống cộng của NVQG. TCPHVN có một đội ngũ cán bộ trẻ trung, được huấn luyện đào tạo trong tinh thần kỷ luật và dân chủ, luôn luôn đặt quyền lợi của đất nước và cộng đồng lên trên mọi quyền lợi cá nhân. Tôi rất lấy làm vinh dự đã được anh em thành viên ủy thác tôi vào chức vụ Chủ Tịch để tiếp tục lèo lái con tàu Phục Hưng cho đến ngày đất nước không còn bóng cộng sản.

HLC: Một lần nữa, cá nhân tôi xin được đồng ý về việc vũ khí mạnh của hải ngoại là “truyền thông”. Với sức mạnh của internet hiện nay, truyền thông sẽ giúp trong- ngoài chuyển đổi tin tức cần thiết.

Thưa ông, cộng đồng Mỹ Việt luôn chú trọng đến khuynh hướng, đường lối chính trị của một “public figure” đối với vấn đề Việt Nam. Là ứng cử viên dân biểu, ông có quan điểm gì trong tình thế hiện nay? Đường hướng đấu tranh của cộng đồng phải thay đổi như thế nào để có hiệu quả tối ưu?

CVC: Trong phạm vi quyền hạn của một vị dân biểu tiểu bang, thì sự ảnh hưởng của dân biểu trên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ rất là giới hạn. Quan điểm của tôi trong tình huống hiện nay là chúng ta phải thật khéo léo, dựa vào những luật lệ quốc tế để áp lực phía nhà cầm quyền CSVN phải tuân thủ theo những điều kiện mà họ đã ký kết để được hưởng những quyền lợi về kinh tế, vay mượn hay viện trợ (thí dụ như TPP). Con đường quốc tế vận cần được khai dụng tối đa để hỗ trợ cho những nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước. Để cho những nhà đấu tranh vững tâm hoạt động, người dân biểu luôn luôn phải sẵn sàng lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho họ một khi họ bị sa cơ thất thế, không để cho họ bị trù dập và bị bỏ tù dài hạn. Đường lối đấu tranh của cộng đồng cũng phải được điều chỉnh để cho phù hợp với bối cảnh và để đạt được hiệu quả tốt hơn. Với kỹ thuật tin học hiện đại ngày nay, mỗi người chúng ta đều có thể tận dụng những laptop, cell phone để làm vũ khí đánh giặc. Các trang mạng xã hội như facebook, twitter, youtube là những chiến trường tư tưởng giữa người quốc gia và người cộng sản. Những cuộc biểu tình tuy có tác dụng giữ lửa nhưng không hữu hiệu bằng những hình ảnh tin tức trên mạng vì số người coi và đọc được có thể lên đến hàng triệu. Trong nước, các đoàn thể xã hội dân sự và công đoàn độc lập cần được động viên thành lập để thoát ra ngoài vòng kiểm soát của nhà cầm quyền. Ở ngoài nước, cộng đồng cần hỗ trợ tài chánh và tinh thần khi có những hội đoàn XHDS trong nước được hình thành. Và sau cùng, cộng đồng cần đầu tư vào giới trẻ để huấn luyện đào tạo một thế hệ mới chuẩn bị tiếp tay và thay thế cho cha anh là những người đang lâm vào tình trạng bị lão hóa. Chỉ có như thế thì chúng ta mới đấu tranh đường dài được.

HLC: Một lần nữa, xin đồng ý. Hải ngoại phải luôn ở tư thế hỗ trợ tài chánh và tinh thần cho các tổ chức dân sự trong nước. Chúng tôi xin phép sẽ trở lại đề tài mà tôi cho là hay “Làm thế nào để đào tạo một thế hệ kế thừa ở hải ngoại”. Đề tài này sẽ được mở rộng cho các cựu và đương kim chủ tịch tổ chức cộng đồng. (những người có trách nhiệm cao nhất trong việc đào tạo nầy).

Thưa ông, Texas, thời gian qua gây chú ý vì sự tranh luận công khai giữa ô Hoàng Duy Hùng và ô Trần Trí Hoàng. Tôi tò mò muốn được ông chia sẻ nhận định của ông về ông Hoàng Duy Hùng nếu không có gì trở ngại?

CVC: Mỗi người chúng ta đều có những phương thức chống cộng riêng và tôi tôn trọng cái quyền riêng tư đó. Chúng ta đang sống trên một đất nước tự do và dân chủ, chúng ta cần phải học được tinh thần dân chủ đó thì mới có thể áp dụng cho đất nước Việt Nam thời hậu cộng sản. Tôi không nghĩ cả hai ông Hoàng Duy Hùng hay ông Trần Trí Hoàng là Việt gian vì tôi không thấy có chứng cớ gì để cho rằng hai ông đó là thân cộng. Đối với tôi và đa số đồng hương, cũng như trong một tòa án hình sự, hai ông phải trưng bày chứng cớ rõ ràng không thể chối cải (beyond a reasonable doubt) thì tôi mới có thể kết luận là người nào là Việt gian. Điều tốt nhất là hai ông hãy nên tập trung năng lực vào kẻ thù là CSVN chứ không nên người này chụp mũ người kia, làm cho cộng đồng thêm hoang mang và mất đi sự đoàn kết.

HLC: Tiếp tục vấn đề Việt Nam, theo ông nếu CỘNG SẢN VIỆT NAM cử người đối thoại công khai với cộng đồng thì ý kiến ông thế nào?

CVC: Việc công khai đối thoại với CSVN đã gây ra khá nhiều tranh cải trong quá khứ cộng đồng của chúng ta. Trong số những người có đi gặp Thứ Trưởng CSVN Nguyễn Thanh Sơn khi ông ta đến Houston, ông Hoàng Duy Hùng là người duy nhất bị dư luận đánh nặng nhất, ngay cả trước khi ông có chuyến đi về Việt Nam. Theo tôi thì đàng sau hậu trường có những động lực nào đó mà ít ai biết được lý do tại sao ông Hùng bị đánh nặng như vậy. Nhận xét của tôi là CĐNVQG có phản ứng mạnh về ông Hoàng Duy Hùng vì họ cho rằng ông Hùng và phái đoàn bí mật đối thoại với CSVN trong phòng kín mà không có sự có mặt của phía truyền thông. Vì thế không ai biết là ông Hùng nói gì với ông Nguyễn Thanh Sơn cho dù ông Hùng đã nhiều lần thổ lộ nội dung của buổi nói chuyện. Ý kiến của tôi là khi biết tin của phái đoàn cộng sản muốn gặp đại diện của CĐNV hải ngoại, chúng ta cần triệu tập khẩn cấp một phiên họp để lấy ý kiến của đa số. Nếu đa số đồng ý trực diện đối thoại với phái đoàn CSVN, thì chúng ta cần phải chọn ra một số vị có uy tín và khả năng trong cộng đồng để đại diện đi nói chuyện. Điều kiện bắt buộc để cuộc đối thoại có thể diễn ra là phải có sự hiện diện của các cơ quan truyền thông trực tiếp truyền thanh và truyền hình những câu đối thoại của cả hai bên để tránh bị hiểu lầm hay bị chụp mũ. Riêng cá nhân tôi thì tôi duy trì lập trường không “đối thoại” khi mà CSVN còn duy trì điều 4 Hiến pháp và còn giam giữ các tù nhân lương tâm.

HLC: Thưa ông, chưa có một người nào mà tôi đồng ý khá nhiều khi tôi phỏng vấn nhất là trong lãnh vực cộng đồng như với ông. Đúng vậy, quan điểm của tôi tương tự ông: tập trung vào sức mạnh truyền thông để hỗ trợ người trong nước vì chính họ sẽ là người viết trang sử mới. Đối thoại với cs là điều không nên, không cần trong bất cứ giai đoạn nào. Một người bạn viết cho tôi: hẹn gặp nhau ở Sài Gòn trong năm mới này. Tôi rất ước ao được như vậy. Tôi cũng xin hẹn ông như thế!

Trước khi tạm biệt xin chúc ông và bà nhà sức khoẻ để vững tiến trên con đường tranh cử. Cá nhân tôi cũng đã đưa vài nhận định và đã được “người Houston hay bạn Houston” tiếp tay chuyển rộng rãi.

Đó là: Chúng ta nên bầu cho Nha Sĩ Chu Văn Cương vì các lý do sau đây:

Một, chúng ta cần sự đổi mới. Ứng cử viên đảng Dân Chủ, ô Hubert Võ, đã có 11 năm phục vụ, nay sẽ đến phiên UCV Cộng Hòa.

Hai, chúng ta cần có nhiều khuôn mặt Mỹ-Việt trong chính trường Hoa Kỳ. Ông Hubert Võ đã xong vai trò của ông, giờ đến phiên Chu Văn Cương.

Ba, một vài dân biểu/nghị viên Mỹ- Việt luôn biện minh rằng họ là người của Hoa Kỳ do đó phải tuân thủ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Tuy vậy, Nha sĩ Chu Văn Cương cho biết, nếu đắc cử, ông sẽ vận dụng mọi quyền hạn của một dân biểu tiểu bang để phục vụ đất nước Hoa Kỳ, cộng đồng Mỹ-Việt và cả cho một Việt Nam tự do-dân chủ.

Bốn, lần đầu tiên, một đảng viên Cộng Hoà và cũng là chủ tịch một tổ chức chính trị hoạt động 38 năm với lập trường dân tộc quốc gia và có nhiều thành tích phục vụ cộng đồng cùng quê hương: Tổ Chức Phục Hưng.

Hoàng Lan Chi thực hiện 1/2016

Web site của Nha sĩ Chu Văn Cương: www.nhasichuvancuong.com. Quý vị có thể liên lạc, nêu thắc mắc, yểm trợ…

Posted in Phỏng Vấn | Comments Off on Phỏng vấn Bs Nha Khoa Chu văn Cương-UCV Dân Biểu Texas KV 149

Bản tin HNA số 11-(Kim Tuyến tuyệt vời-Xem lại vụ Nguyễn Đạc Thành-Trách nhiệm, quyền hạn của toàn quyền Úc-VN sẽ ra sao khi VC dâng nước cho Tàu-Những điều nên biết về Trump)-August 8, 2016

Bản tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 11- August 8, 2016

(Tuần báo Thương Mại Miền Đông, Virginia)

LGT: Bản Tin TS Hoàng Ngọc An được viết cho Tuần Báo TMMD –Virginia, gồm các tin cộng đồng Hoa Thịnh Đốn và các tin đặc biệt trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Có nhiều links trong bản tin. Để hiểu rõ vấn đề hầu có được nhận định chính xác, quý độc giả cần theo links để xem. Hãy dành ít thời gian để đọc: đó cũng là một sự đóng góp vào con đường tranh đấu.

Trong số này: Kim Tuyến trả lời phỏng vấn, một tài liệu lịch sử- Xem lại trường hợp Ô Nguyễn Đạc Thành trong vụ “Bông hồng trên mộ hoang” năm 2013- Vụ ô Lê Văn Hiếu: LS giải đáp về quyền hạn và trách nhiệm của một toàn quyền Úc- Một bài viết chống Tàu rất hiệu quả-Bầu cử ở Mỹ, những điều nên biết về Trump.

Hoàng Ngọc An

*********************************************

Người nghệ sĩ cải lương tuyệt vời-Kim Tuyến

Nghệ Sĩ Kim Tuyến, đã chỉ thẳng mặt Kim Cương mắng tại Little Sài Gòn vào tháng 7/2016, vừa có một bài trả lời phỏng vấn tuyệt vời với Tuấn Khanh. Trong bài này, Kim Tuyến kể lại vài kỷ niệm sau 1975 khi vc vào thành. Những kỷ niệm này là có thể nói là tài liệu lịch sử được. Kim Tuyến đã tỏ thái độ ngay 75, sau 75, cả sau khi đến Mỹ thời gian đâu và thời gian từ 1993 với (Hoàng Thi Thơ), ngay cả khi vì tình cũ mà tiếp Bạch Tuyết nhưng khi BT có lời lẽ thân cộng, cả khi gặp Kim Cương 2016 ở Little Sài Gòn. Thật ngậm ngùi khi nhớ rằng, có một số người quốc gia, thành phần trí thức, cựu tù vc, đã ngả nghiêng sau 2005 ( thời gian mà Vc tung NQ 36 ra mua chuộc). Họ đã không giữ vững được khí tiết mà họ đã có vào những năm 75, 85 hay 95 chỉ vì họ hám danh chớ không phải vì họ nghèo không tiền. Khi đọc bài phỏng vấn, tôi có cảm giác sung sướng. Khi tôi chuyển tiếp thì một ông bạn già, Bùi Xuân Cảnh, Virginia, cũng bảo tôi là ông “sướng rên cả người”. Hóa ra, khi người ta cùng tư tưởng với quốc gia dân tộc thì cái cảm giác sung sướng khi được đọc tài liệu thật, kể thật về người có khí phách, làm cho người ta có cảm giác sung sướng như nhau. Tôi đang ngậm ngùi, không biết giới văn nghệ sĩ thủ đô Hoa Thịnh Đốn có ai có cảm giác sung sướng thế không nhỉ? Hay là họ chỉ sung sướng khi lễ sinh nhật của nhóm họ/ tổ chức của họ được ..bán hết bàn (!), khi nhạc họ được lancer, khi văn họ được ca tụng?! Coi đây đủ bài phỏng vấn Kim Tuyến ở đây:

Có cần thiết quỵ lụy vc để quyên góp bá tánh dưới chiêu bài xây mộ không

Năm 2010, ô Nguyễn Đạc Thành từ Mỹ sang Úc gây quỹ (Bông hồng trên nấm mộ hoang) và đã bị nhiều người quốc gia toàn thế giới cũng như toàn thể các chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng ở Úc phản đối vì phương cách của ông. LS Võ Trí Dũng, CT CĐNVTD Úc châu đã kết luận trong thông báo: vì đặc biệt lo ngại về phương cách và quan điểm của tổ chức đứng ra thực hiện công việc này khi biết họ chủ trương đối thoại và thương lượng với nhà cầm quyền CSVN trong việc cải táng mộ phần của các tử sĩ QLVNCH tại các trại lao tù (cải tạo) nên : “Vì những nhận xét nêu trên, chúng tôi kêu gọi các hội đoàn, đoàn thể và đồng hương tại Úc Châu, không tham gia, tiếp tay hoặc ủng hộ các chương trình gây quỹ cho việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”. Xem tại link sau: TL về vụ Nguyễn Đạc Thành ( Bông hồng trên mộ hoa ng) ( 2010 và 2013)

Mới đây nhất, July 2016, Tạp Chí Dân Văn lại phổ biến tin tức liên quan đến hội VAF của ô Nguyễn Đạc Thành. Với chúng tôi, sự việc này đã khép vì CĐNVTD Úc cũng đã bày tỏ thái độ. Tuy vậy, nghe theo lời kêu gọi của CĐNVTD Úc hay không là quyền của mỗi công dân Úc-Việt. Tuy ở Mỹ nhưng chúng tôi nghe theo lời kêu gọi đó của CĐNVTD Úc Châu! Và vào năm 2013, trong một bài viết về vụ này, ý kiến cá nhân của chúng tôi là như sau:

Tóm lại, về vấn đề mà Nguyễn Đạc Thành kêu gọi, Báo Túm nghĩ rằng cộng đồng hải ngoại không cần phí thì giờ làm gì nữa. Hãy “ignore”.

Các cựu chiến sĩ của quân lực VNCH đã được người nhà di dời khá nhiều.

Dù chưa di dời thì họ, đã hy sinh đời trai cho tổ quốc, họ sẽ không cần chi cái gọi là “nắm xương tàn” để cho những kẻ hoạt đầu lợi dụng. Vc chỉ nắm giữ tạm thời guồng máy chính quyền, còn đất đai vẫn là của người Việt Nam. Xương máu họ đã hòa tan trong lòng đất mẹ. Họ, các chiến sĩ đã hy sinh, đang cần chúng ta làm những điều hữu ích cho đồng bào, những người còn sống và đang chịu ách bạo tàn của cộng sản thay vì chúng ta phải phân tán đủ thứ để lo cho những gìvĩnh viễn thuộc đất mẹ, của đất mẹ vì từ đất mẹ mà ra.Nhất là vì sự ưu tư này mà chúng ta đã bị đám phản bội gây rối loạn cộng đồng.

Nếu bọn Vc cày nát nơi an nghỉ của các chiến sĩ mà gia đình chưa có điều kiện dời được thì đề nghị chúng ta có hai biện pháp: (1) Chúng ta quyên góp và dời (2) Tố cáo mạnh mẽ trước quốc tế hành động bất nhân bất nghĩa này của vc.(ngưng trích).

Toàn Quyền Nam Úc, ô Lê Văn Hiếu có xứng đáng là công dân Úc không

Kể ra hỏi như trên cũng hơi tréo ngoe. Một vị toàn quyền mà lại bị đăt vấn đề là có xứng đáng là công dân Úc không? Thật ra, một công dân Úc-Việt là phải có một tư cách như thế nào đó, còn ô Hiếu đã cố tình phe lờ những câu hỏi chính đáng của cộng đồng người quốc gia trên thế giới thì chứng tỏ ông không xứng đáng là công dân của một người tự do-dân chủ. Loạt bài từ Hữu Nguyên với chứng cớ cho thấy có những khó hiểu trong nhân thân của ô Hiếu, trong sự kiện ông theo Thủ Hiến Úc về VN kêu gọi du học sinh qua Úc du học ở Adelaide. Những vị nào cho rằng TQ Hiếu chỉ làm theo lịnh cấp trên, chỉ có bổn phận với nước Úc thì hãy vui lòng xem bài viết của người khác trước khi phát biểu nếu không quý vị sẽ ở vào tình trạng biết một và chưa biết hai. Đây là một bài ngắn, điển hình: Tại Sao Phải Quan Tâm Vụ Toàn Quyền Nam Úc- Ô Lê Văn Hiếu-July 18, 2016

Một giáo sư tại Adelaide, Gs Kym Tran, người đi chung chuyến tàu với ô Hiếu đã lên tiếng. Đồng thời LS Mai Thành Đức từ Adelaide cũng giải đáp một số vấn đề liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của một toản quyền. Mời xem tại links sau:

Một bài viết chống Tàu hiệu quả
Một bài viết chống Tàu cộng rất hiệu quả. Bài viết kêu gọi công an, bộ đội trong nước hãy đứng dậy lật đổ nhà cầm quyền cs. Bài viết vạch rõ các hậu quả sẽ xảy ra cho dân VN nếu như Tàu Cộng chiếm VN theo Mật ước Thành Đô. Những kẻ nào nghĩ rằng sẽ cộng tác với Tàu và được trọng dụng là hoang tưởng. Căn cứ vào những gì Tàu đã làm với Tây Tạng, bài viết vạch ra những điều sẽ xảy cho dân chúng VN: là một vũ khí chống Tàu rất hiệu quả và tôi cho rằng có kết quả hơn rất nhiều so với các bài “cao siêu” của các ngài trí thức. Coi tại link sau:

§ Ngọc Ẩn-Điều gì xảy ra khi VC dâng nước qua mật ước Thành Đô? Nên xem nhất là các bạn còn kẹt ở VN của tôi nếu các bạn không muốn chết

Bầu cử ở Mỹ-Những điều nên biết về Trump

Mặt trận bầu cử vẫn sôi động. Đó là một sinh hoạt chỉ có ở các quốc gia dân chủ. Đặc biệt trong tranh cử, đôi bên ứng cử viên dùng đủ trò để tranh thắng. Người dân khôn ngoan là đọc hết, xem hết và sau đó tự quyết định. Thái độ chụp mũ cho người khác ý kiến mình (vd: nhận tiền nên dù không phải công dân Mỹ cũng viết bài đả kích Hillary) là điều không nên có ở người quốc gia VNCH nhất là chúng ta đã may mắn thoát cộng sản và đang sinh sống ở các quốc gia thuộc khối tự do.

Chỉ cần lấy cái đầu ra suy nghĩ vài điều: Một kẻ tâm thần có thành công trong thương trường vậy không? Một kẻ không ra gì có dạy được cả 5 người con nên người không? Tổng thống Hoa Kỳ có được toàn quyền làm mọi thứ theo ý muốn cá nhân hay bị kềm bởi chính đảng của họ và chính Quốc Hội, ( còn nói theo mặt đen thì bị kềm bởi tập đoàn siêu quyền lực)? Nói cách khác, những tuyên bố rầm rộ khi tranh cử có được thực hiện (một nửa) không? Bọn tài phiệt Mỹ có “ngu xuẩn” để nước Mỹ bị sập rồi họ chạy sang Ma rốc để ở không?

Trong bản tin HNA hôm nay, xin giới thiệu Vĩnh Tường với bài (Trump, Những điều cần biết). Tác giả nêu những điều cần biết về tiểu sử, hoạt động của Trump cho mọi người xem. Sau khi coi bài Vĩnh Tường, câu này của Trump làm cá nhân tôi rất “khoái” ( Từ 25, 30 năm về trước ông đã nói các nước tiếp tục lột da Hoa Kỳ trong những thoả thuận mậu dịch. Hoa Kỳ tiếp tục thiệt thòi cho đến ngày sẽ là con nợ lớn. Ông từng trả lời: “Tôi sẽ đòi đồng minh chia phần trách nhiệm công bằng. Chúng ta là đất nước nợ nần; một số vấn đề sẽ xảy ra trong những năm sắp tới đối với đất nước này, bỡi bạn không thể tiếp tục mất $200 tỉ. Và chúng ta đã để Nhật Bản đổ mọi thứ trên thị trường caủa chúng ta và mọi thứ nhé – đó không phải là tự do mậu dịch. Bây giờ nếu bạn đến Nhật bạn cố gắng bán thứ gì, miễn đi, Oparah. Hãy bỏ đi. Hầu như là không thể được. Họ không có luật lệ chống đối nhưng họ làm cho nó không thể thực hiện.”).

Thật vậy, hầu như nhiều quốc gia đều coi Mỹ là kẻ đứng đầu phải lo an ninh cho toàn thế giới nhưng vẫn “quạc” mồm ra chửi Mỹ khi cần. Điều kỳ lạ là chửi Mỹ nhưng không phát minh được cái gì cả, cứ hưởng các sản phẩm do trí tuệ của người Mỹ làm ra. Hưởng xong và chửi cho sướng miệng. Ố là la. C’est là vie!

Tôi ủng hộ việc Hoa Kỳ chú trọng lo cho quốc gia mình và Nato phài đóng góp nhiều hơn cho nền hòa bình thế giới. Chống cộng sản, chống phát xít hay chống Isis: không phải là nhiệm vụ của một mình Hoa Kỳ! (Tương tự, chống việt gian đang lũng đoạn cộng đồng người Việt hải ngoại là nhiệm vụ chung, không phải của vài người!) ( tương tự, người dân VN phải tự quyết định vận mạng mình, nỗ lực hành động, không dựa hoàn toàn vào Mỹ rồi chửi Mỹ!). Tôi chưa quyết định sẽ bầu ai hay không bầu ai. Vẫn wait and see! (xin phép cười cười).

Mời xem bài của Vĩnh Tường ở link sau:

§ Vĩnh Tường- Trump: Những Điều Cần Biết

Hoàng Ngọc An

8/2016

Bài cũ

§ Bản Tin HNA số 10-Mặt trận yên tĩnh-Thư Ray Starmann phản bác Khizr Khan-Song Chi tiếc nuối văn học miền Nam-Nhất Hùng vẫn nhả tơ dù đi vation-August 4, 2016

§ Bản Tin HNA số 9-Hai nhà truyền thông ở DC làm gì-Thái độ chính trị của Thế Sơn-Khi TQLC Trần Quang Duật nhớ lời thề số 3 của bộ đội vc-Bà TNHH kêu gọi VT đừng thâu tóm cộng đồng

§ Bản Tin Thời Sự số 8-July 27, 2016 -Khi ông Phạm Trần chụp mũ người khác là xía mũi-Tấm lòng “lương thiện” của ô DHC-Tường trình đại hội Cộng Hòa Và Dân Chủ

§ Bản Tin TS HNA số 7-Nhóm UCV Đinh Hùng Cường náo lọan Eden-Hai c hủ báo thị sát mặt trận-Chân dung người tài đức theo tiêu chuẩn của bà Tuyết Mai

§ Bản Tin HNA số 6 ( TT Lân ủng hộ bà Trúc Nương, Mũ Đỏ Phi vs Mùi -Lý luận của luật gia Bích Hà-Văn của Toàn Phong NXV-Hùng Ngô lên cơn-Bài chống Tàu hay-July 21, 2016

§ Bản tin Hoàng Ngọc An số 5-UCV Đinh Hùng Cường( rời VN trước ô Thiệu-Xe hoa July 4th 2008 có sao vàng trên nền đỏ ) -July 20, 2016

§ Bản tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 4-July 18, 2016

§ Bản tin HNA số 3-Mặt Trận miền Đông tạm lắng-Khi bà TM ấm ức-Michell Phương Thảo-Bằng Phong khóc một tình bạn -July 15, 2016

§ Bản Tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 2-July 12, 2016

§ Bản Tin Thời Sự Hoàng Ngọc An -July 7, 2016

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Bản tin HNA số 11-(Kim Tuyến tuyệt vời-Xem lại vụ Nguyễn Đạc Thành-Trách nhiệm, quyền hạn của toàn quyền Úc-VN sẽ ra sao khi VC dâng nước cho Tàu-Những điều nên biết về Trump)-August 8, 2016

Vĩnh Định -Thử xét nghiệm cách gieo vần trong thơ mới

LGT: Tôi không biết tác giả Vĩnh Định này. Tôi nhận từ net. Tác giả nhận xét về Nhất Hùng, một nhiếp ảnh gia ở cộng đồng thủ đô, trong mục thơ Đường Luật. Người thứ hai ở DC được nhắc đến là ô Lưu Nguyễn Đạt, thơ mới. Thời trung học, chúng tôi phải học Kim Văn, Cổ Văn. Đường luật với niêm luật của nó khiến người làm thơ sẽ mất thì giờ nhưng nếu đã quen thì chắc không tốn nhiều thời gian. Tuy thế, để châm biếm thì Đường Luật ưu thế. Tôi ưa văn hơn thơ. Thỉnh thoảng viết thơ, tôi nghiêng về kiểu 7 chữ và một vần hay 8 chữ và hai vần. Lục bát đễ làm thơ trở thành ca dao. Thơ tân hình thức cũng có cái nét độc đáo riêng. Trở lại với Nhất Hùng. Ngoài nhiếp ảnh, ông tình nguyện làm người đưa tin trong cộng đồng. Tuy thế, có vài ông vừa qua của Hoa Thịnh Đốn đã có thái độ không trưởng thành. Họ nặng bè phái nên khi thấy Nhất Hùng chuyển bài viết từ tôi thì họ bài xích. Kẻ vô lý nhất trong vụ này là ông Sơn Tùng, môt người đã từng là chủ tịch Hội Văn Bút Hải Ngoại. Vì tư cách của ông trong vụ bà Lưu Lệ Ngọc (giám đốc Đài VNHN cũ) giao du với cán cộng nên tôi đặt tên cho ông là “cú già Hoa Thịnh Đố”. Có vẻ ô Sơn Tùng rất cay cú Nhất Hùng nên đã đả kích, không phải một mà nhiều lần, chỉ vì ông Nhất Hùng phổ biến mails từ cả đôi bên. Càng già, càng thâm thúy nhưng Sơn Tùng thì càng già càng thiếu tư cách.

Hoàng Lan Chi

*********

THỬ XÉT NGHIỆM CÁCH GIEO VẦN TRONG THƠ MỚI

Vĩnh Định -NVD

Thơ trong văn chương Pháp là tuyệt điểm của nghê thuật. Nhà thơ Sully Prud’homme của Pháp lãnh giải Nobel Văn chương đầu tiên năm 1911. Từ mấy thế kỷ trước đó, thi sĩ Pháp, kể cả Sully đều làm thơ theo thi pháp đúng với lý thuyết thi ca, cho mãi đến giữa thế kỷ XX mới có nhiều nhà thơ phá thể làm thơ Tư Do mà họ gọi là Wers Libres, trong số có Jacques Prevert với quyển thơ Histoire là nổi bật hơn cả. Vậy, lý thuyết thơ Pháp trải nhiều thế kỷ gồm những loại thơ nào? Quan trọng hơn là cách gieo vần ra sao? Nếu thơ không vần thì chỉ là văn xuôi -prose.

Cả thế giới, thi sĩ làm thơ nhất định phải có vần. Đường Thi có rất nhiều bài thơ tuyệt tác. Thơ Việt Nam từ nghìn xưa phỏng theo theo thơ Trung Hoa, nhưng các nhà thơ VN, từ ngày có chữ nôm, đã chứng tỏ bản sắc riêng với Song Thất Lục Bát như Chinh Phu Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, và thơ Lục Bát với Thiên Nam Ngữ Lục và Đọan Trường Tân Thanh. Hai thể thơ nầy còn được trân trọng giữ gìn đến ngày nay. Nhưng song song với thơ Đường Luật, Song Thất Lục Bát, Lục Bát, đến các thập niên ba mươi, bốn mươi, năm mươi thế kỷ XX, các nhà tân học từ Âu Châu, nhất là từ Pháp về đã mang vào thi ca Việt Nam những dòng thơ phỏng theo kiến trúc lý thuyết thi ca Pháp, gọi là "Thơ Mới". Bản sắc của Thơ Mới là tư tưởng mới và hình thức mới, như ngủ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyết hay bát ngôn tứ tuyệt, phần lớn là thơ lãng mạn, nhưng cách gieo vần đúng như các loại thơ Pháp có thay đổi ít nhiêu. Gọi tứ tuyệt vì một đoạn gồm bốn câu, hay thường gọi là một khổ thơ có bốn câu. Một bài Thơ Mới có bao nhiêu đoạn cũng được.

Trở lại các thể loại thơ và cách gieo vần thơ Pháp, ta thấy họ có rất nhiều thể thơ như Anh hùng ca -la poésie épique, Thơ Trữ tình -la poésie lyrique, thơ Giao huấn -la poésie dictatique, và Kịch thơ -la poésie dramatique. Các cước thơ -differentes sortes de pieds: trong mỗi câu thơ có từ một đến mười hai âm tiết -gọi là pieds- thề hiện trong các loai thơ Tám Câu Hai Vần -le Triolet; Mười Ba Câu, ba đoạn, hai vần -le Rondeau; Thơ Ba Đoạn hai vần và thêm một nửa đoạn -la Ballade; và Thơ Mười Bốn Câu -le Sonnet- thí dụ như bài Sonet của Arvers "lòng ta chôn chặt mộ́i tinh, tình trong giây phút mà thành thiên thu" -mon âme a son secret, ma vie a son mystère, un amour éternel en un moment concu… mà ai học Trung học chương trình Pháp đều biết. Thơ mười hai cước-12 pieds là l’ Alexandrin hay Roman d’ Alexandre. Nhưng cách gieo vần trong bất cứ thể loại thơ nào cũng rất chặt chẽ, không thề tùy tiện. Vần gieo trong từng một khổ bốn câu thơ, hay một tứ tuyệt. Câu hỏi đặt ra là vần trong một tứ tuyệt gieo như thế nào?

Gieo vần bắt buộc phải theo quy tắc sau đây:

1) Gieo vần suông -Rimes Plates hay Survies (les rimes se suivent deux a deux: là cách gieo vần trong một khổ thơ -hay đoan bốn câu, nếu đoạn thơ dài tám câu hay mười hai câu thơ, cũng chỉ tính vần gieo ở mỗi khổ bốn câu:

Chữ cuối câu 1 và câu 2 cùng một vần,

Chữ cuối câu 3 và câu 4 cùng một vần với nhau.

Bài thơ có bao nhiêu đoan bốn câu, cũng được. Nhưng suốt bài thơ phải theo cách gieo vần suông, nghĩa là tất cả các đoạn bốn câu đều gieo vần giống nhau. Cho dù nội dung của bài thơ thật hay, nhưng chỉ một đoạn bốn câu nào đó trong toàn bài thơ có nhiều khổ, gieo khác vần, thì các nhà bình luận phái Formalisme – Hình thức luận, sẽ không cho là tuyệt mỹ.

Khi các thi sĩ tân học VN mang cách gieo vần này vào thơ, gọi là Thơ Mới, ta thấy có một thay đổi nhỏ chấp nhận được vì nó giúp cho dòng thơ mạnh thêm, hay hơn. Xin đọc một vài đoạn thơ của Thế Lữ dưới đây:

HỔ NHỚ RỪNG

Gặm một mối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.

Khinh lũ người ngạo mạn, ngẫn ngơ,

Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm.

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,

Để làm trò lạ mắt thứ đồ chơi.

Chịu ngang hàng cùng bọn thú dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tư lự

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,

Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già,

Với tiếng gió gào ngàn với giọng nguồn hét núi.

Với khi thét khúc trường ca dữ dội

Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,

Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc.

Trong hang tối mắt thần khi đã quắc,

Là khiến cho mọi vật thảy im hơi.

Ta biết ta là chúa tể của muôn loài,

Giữa chốn thảo nguyên không tên không tuổi.

Nào những đêm trăng vàng bên bờ suối

……………………………………………………………

…………………………………………………………….

Trên đây là biến thể của cách gieo vần suông -rimes plates- của thơ Pháp do các thi sĩ tân học VN đem từ thơ Pháp về Việt Nam, đến ngày nay nhiều thi nhân VN đều theo. Nhìn kỹ suốt bài thơ: chữ chót của câu thứ nhất đoạn dưới bắt vần với chữ chót của câu chót đoạn trên, dù là đoạn thơ bốn câu, tám câu hay mười hai câu.

2) Gieo vần cách hàng -Rimes Croisées ̣(alternant une à une):

Câu 1 bắt vần với câu 3,

Câu 2 bắt vần với câu 4 trong một khổ tứ tuyệt.

Nghĩa là gieo vần cách một câu, gọi là vần cách, câu lẻ ăn vần theo câu lẻ, câu chẵn ăn vần theo câu chẵn, từ đầu cho đến cuối bài thơ dù cóbao nhiêu đoan bốn câu, tám câu, hay xuyên suốt.Xin đọc bài thơ dưới đây của nhà thơ Huy Văn:

MỘT MÙA HỌC TRÒ

Mái tóc Em dài như bóng nắng

đổ mền như suối, nhe như sương

Gần trong tay với mà xa vắng

nên chi lặng thầm, thương nhớ thương.

Tôi thường theo em vào lớp học

ngồi ngắm bờ vai xoả tóc huyền

Những chiều đếm bước về học

Em trước tôi sau…thả dốc nghiêng

Từ lâu tôi chỉ là chiếc bóng

thầm lặng theo em bước chung đường

Em là hoa thắm vườn xuân mộng

còn tôi con bướm lạc chiều sương

Một mùa trọ học, mấy mùa hoa

Em vẫn vô tình mãi cách xa

Con nước về xuôi cho suối nhớ

Tình như gió thoảng chốn quan

Chia tay khi chiều buông nắng nhạt

Nói chi thêm thừa câu vấn vương

Em sẽ là Em: ơi Đà Lạ̣t !

Tôi mãi là tôi của dậm trường !

HUY VĂN

(Nhớ mùa Tổng Động Viên 1972)

Bài thơ nầy kết vần theo quy cách rimes croisée; nội dung thì đẹp, mà hình thức thì hoàn toàn… hỏng. Chỉ nội bốn câu áp chót gieo vần không thống nhất là sẽ không được… coi là bài thơ hay hợp cách. Huống chi toàn bài không bỏ dấu, thỉnh thoảng lại bỏ dấu; đến đoạn bốn câu chót lại thêm vào dấu (:) và (!). Đây là lối kiểu cách tự phá hỏng vẻ thẩm mỹ của thơ. Và kiểu cách bỏ các dấu lung tung…cũng không hợp cách.

3). Gieo vần ôm -Rimes Embrassées. Trong một đoạn hay khổ bốn câu thơ, câu 1 ăn vần với 4, câu 2 ăn vần với câu 3. Tức là câu đầu và câu chót của khổ tứ tuyệt ôm hai câu vần khác vào giữa. Xin xem bài thơ dưới đây của Tế Hanh:

RÉT VÀO BÂN

Khi em đan áo cho anh

Gió thổi qua bàn tay lạnh

Những đôi chim tìm nhau ủ cánh

Mây đầy trời rơi rớt nắng mong manh

Em vội dệt thời gian sợi thẩm

Những giờ trưa không nghỉ những đêm thâu

Sợi len mịn so sợi lòng rối rấm

Áo đan rồi, mùa lạnh hết còn đâu !

Em gởi áo lo anh giận dỗi

Nhận áo em anh lại ngại em phiền

Đời cán bộ ít giờ nhàn rổi

Vì việc chung đôi lúc nhẹ niềm riêng

Hoa bắt đầu rơi rớt giữa đường Xuân

Cành cây đã sum suê lá đậm

Tháng ba đến với những ngày nắng ấm

Bỗng mùa Đông trở lại ! Rét nàng Bân

Nàng Bân xưa đan áo ấm cho chồng

Áo đan xong không còn mùa lạnh nữa

Nàng Bân khóc, đất trời thương lệ

Cho rét về đáp lại nỗi chờ mong

Anh mặc áo của em và cảm thấy

Bàn tay yêu nhân ấm hai lần

Thời gian hiểu lòng ta biết mấy !

Có tình người nên có rét nàng Bân

Tế Hanh

1957

Nhà thơ Tể Hanh, theo phê bình chung của nhiều người không phải là nhà thơ lớn của VN, nhưng là một nhà thơ nổi tiếng. Mặc dù ông có được bài thơ hay nhất là Quê Hương, nhưng ông không thể là một Thế Lữ, một Xuân Diệu hay một Hàn Mạc Tử. Xem bài thơ trên đây ta thấy rằng nhận xét trên là đúng. Tế Hanh mắc phải sai lầm như Huy Văn, mắc dù ông là tiền bối trong Thơ Mới. Bài thơ nầy ông làm hai mươi năm sau bài thơ Quê Hương nổi tiếng là tuyệt tác của ông năm 1937. Tôi không hiểu tại sao đã lão luyện trong Thơ Mới trên hai thập niên mà ông còn phạm sai lầm như vậy? Hay là ông sáng tác tùy hứng, bất cần thi pháp, hay ông muốn làm một cải cách thơ?

Trước tiên phải ghi nhận về nội dung bài thơ gói ghém tâm tình của chàng… đi bộ đội ở xa bỏ người vợ, nàng Bân, ở lại quê nhà. Chàng nhớ thương nàng và nàng gởi gấm nổi thương yêu chồng, sơ muà Đông rét mướt, vào tấm áo len đan. Nhưng khi tấm áo đan xong… mùa Đông đã qua rồi. Khi chàng nhận được chiếc áo trễ, mặc vào người mới cảm thấy được cái… rét trong tấm lòng người vợ. Tình cảm nhẹ nhàng nhưng lời thơ ray rức, tùng chữ làm cho lòng người đọc rung động, từng chữ của từng câu thơ mang trong nó sự rung cảm nhẹ nhàng nhưng diệu vợi như câu này chẳng hạn "Mây đầy trời rơi rớt nắng mong manh". Đẹp và buồn. Nhưng khi những chữ và những dòng thơ nầy kết hợp lại với nhau…thành một bài thơ thì chẳng khác nào chiếc áo may bằng thứ vải quí bị rách vá chùm vá đụp.

Thử xét nghiệm lại: Khổ thơ bốn câu đầu, câu dài câu ngắn, gieo một loại vần… lạ mà mãi đến sáu bảy mưới năm sau mới có một nhà thơ khác chuyên dụng. Tôi sẽ nói sau về nhà thơ nầy. Khổ thơ thứ hai, thứ ba và khổ thơ chót tác giả gieo vần song cách -rimes croisées, số chữ cũng không thống nhất. Khổ thơ thứ tư và thứ năm gieo vần ôm -rimes embrassées, là thứ vần mà tôi đề cập ở mục nầy.

Tóm lại bài thơ có chất liệu cảm xúc và từ ngữ vô cùng tuyệt vời, chẳng khác nào một kiến trúc sư có vật liệu quí hiếm, nhưng ngôi nhà xây lên xoàng xĩnh. Bài thơ này cuả Tế Hanh gọi là Thơ Mới không phải, gọi là thơ Tư Do cũng là cưỡng chế. Người làm thơ không thể viện lý do "cảm hứng đến đâu thì viết tới đó". Nếu nói như vậy và làm thơ như vậy là tự mình làm mất đi vẻ tuyệt hảo của thi ca do mình sáng tạo. Cái đẹp của thi ca là đẹp cả nội dung lẫn hình thức, dù là bài thơ ngắn hay dài, nếu nói về Thơ Mới gieo vần theo lối thơ Pháp mà các nhà thơ tân học mang về VN từ các thập niên ba mươi, bốn mươi thế kỷ XX cho đến nay. Vì muốn thoát ra khỏi sư gò bó của cách gieo vần theo Thơ Mới nên sau đó it́ lâu nhiều thi sĩ đã làm thơ Tự Do, phóng túng hơn về số chữ trong mỗi câu thơ và cách gieo vần.

4). Gieo vần ôm biến thể -transformation des rimes embrassées: Nhiều nhà thơ tân học thời điểm đó rất nhiều vị uyên thâm chữ Nho, cũng nhấn thấy rằng ba cách gieo vần của thơ Pháp quá khắt khe nên họ cũng du nhập cách gieo vần thơ Hán-Nho vào trong Thơ Mới. Cách gieo vần nầy giống với cách gieo vần rimes embrassées của thơ Pháp, nhưng có thể áp dụng phong phú hơn và đọc hay ngâm lên nghe êm tai hơn. Cách gieo vần biến thề nầy là trong một khổ thơ bốn câu, câu 1, 2 và 4 hợp một vần với nhau, không để ý đến câu 3. Xin xem bài thơ Hán-Nho dưới đây:

Thanh Bình Điệu

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung

Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng

Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến

Hội hướng Giao Đài nguyệt hạ phùng

Lý Bạch (701-762)

( Dịch: Xiêm áo như mây, mặt như hoa. Gió xuân bên ngoài lất phất ngát sương hoa. Người đẹp, nếu như không thấy ở đầu núi Quần Ngọc. Thì ắt là đã gặp đâu đó dưới trăng ở Dao Đài. PKT 02/12/2016). Bây giơ xin xem bài thơ dưới đây của Hàn Mặc Tử, cũng gieo vần như bài Thanh Bình Điệu:

Một Nửa Trăng

Hôm nay còn một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn mất rồi !

Ta nhớ mình ta thương đứt ruột !

Gió làm nên tội buổi chia phôi !

Và một bài thơ Trăng khác cúa Hàn Mặc Tử:

Trăng Vàng Trăng Ngọc

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, là Trăng!

Ai mua trăng ta bán trăng cho

Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…

Bao giờ đậu trạng vinh qui đã

Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

Không, không ! Tôi chẳng bán hồn trăng

Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng

Tôi nói thiệt, là anh dại quá:

Trăng vàng trăng ngọc bán sao đang.

Trăng! Trăng! Trăng! là Trăng, Trăng, Trăng!

Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi

Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi,

Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi

Trăng mới là trăng của rạng ngời.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, là Trăng!..

Trên đây là hai bài thơ Trăng tuyệt tác của Hàn Mặc Tử, gieo vần theo Hán-Nho, hay gieo vần theo vần ôm -embrassées- biến thể của thơ Pháp do những nhà thơ tân học của thế kỷ trước mang vào vào VN gọi là Thơ Mới làm cho thi ca Việt Nam sáng chói một thời. Nhưng sau đó, từ nửa hậu bán thế kỷ XX, nhiều thi sĩ tân học mới hơn cũng học từ các trường Pháp trở về như Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa hay những thi sĩ trong nước ở Miền Nam như Thanh Tâm Tuyền, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tô Thuỳ Yên, hay ở Miền Bắc như Hoàng Cầm, Quang Dũng đã đem thơ Tư Do vào thi ca, không còn bị gò bó vào cách gieo vần và số chữ trong mỗi câu như một bài thơ thuộc loại Thơ Mới trước đó. Tuy nhiên Thơ Mới vẫn được không ít thi sĩ VN trong nước và nhất là ở hải ngoại vẫn dùng để sáng tác. Nhưng đã chọn sáng tác bằng Thơ Mới thi phải theo đúng cách gieo vần và số chữ thống nhất trong các khổ tứ tuyệt cho cả toàn bài thơ. Thà dùng vật liệu bình thường mà cất một căn nhà với kiến trúc đẹp cân đối còn hơn dùng vật liệu tốt mà cất căn nhà thiếu vẻ thẩm mỹ. Một nhà phê bình nghiêm túc hay một người biết thưởng thức thơ không thể bỏ qua những xù xì, nhám nhúa của một bài Thơ Mới không theo đúng quy cách sáng tạo về lý thuyết.

Bây giờ tìm được một bài thơ Thơ Mới trác tuyệt về nội dung cả hình thức thât là…không phải dễ. Xin nói thêm là mặc dù hiện nay thơ Tự Do phổ biến hơn, được dùng để sáng tác rộng rãi hơn, nhưng các nhà thơ VN vẫn tiếp tục sáng tác thơ Đường Luật, Lục Bát và Thơ Mới. Thi sĩ ở hải ngoại vẫn giữ đúng quy cách của Thơ Mới. Đến nay đã hơn bốn thấp niên, loại thơ nầy vẫn còn mang giá trị truyền cảm đậm đà. Đặc biệt có nhiều thi sĩ còn muốn chuyển hóa cách gieo vần độc đáo thể loại Thơ Mới nầy. Lục Bát thì có quá nhiều người sử dụng đề sáng tác. Đường Luật, nỗi bật nhất là Nhất Hùng. Ông nầy là một nghiếp ảnh gia ở Virginia và Washington D.C. nhưng là một nhà thơ Đường Luật xuất sắc. Ông sáng tác hơn cả trăm bài thơ Đường Luật viết về mọi thề tài… rất điêu luyện. Nhưng Thơ Mới thì quả thật không thể đếm hết những thi sĩ, quá nhiều, ở hải ngoại. Đặc biệt, có một nhà thơ trí thức ở hải ngoại hình như muốn hồi phục lại Thơ Mới với lối gieo vần gây ấn tượng.

Thi sĩ này là Tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt, người chủ trương website Việt Thức, một mạng thông tin điện tử bình luận chính trị và văn học nổi tiếng thế giới, cũng ở Virginia và Washington D.C. Ông này chuyên làm thơ Tự Do, nhất là Thơ Mới với cách gieo vần đặc biệt là trong mỗi khổ thơ bốn câu đều chỉ gieo có một vần, dù bài thơ dài bao nhiêu khổ cũng vậy. Xin bỏ chút thì giờ quay lại đọc khổ thơ bốn câu đầu của bài thơ "Rét vào Bân" của Tế Hanh và khổ thơ cuối bài thơ "Trăng Vàng Trăng Ngọc" của Hàn Mặc Tử. Lối gieo vần nầy các nhà thơ trên chỉ sử dụng có một lần, nhưng Lưu Nguyễn Đạt sử dụng rất nhiều lần viết rất nhiều bài thơ trong tập thơ ông mới xuất bản trong năm qua. Tôi không biết tựa của tập thơ. Trước khi xuất bản TS. LNĐ có gởi bản thảo tập thơ hỏi ý kiến tôi. Tôi chỉ có thể nói rằng những bài thơ tiếng Việt của ông, tuy có lối kiến trúc khá độc đáo về lối gieo vần như đã nói, nhưng không đặc sắc như những bài thơ dịch ra tiếng Pháp của ông.

Bài thơ dưới đây là bài duy nhất do tôi làm gieo chỉ có một vần trong mỗi khổ tứ tuyệt…

ĐƯỜNG CHIỀU

Nắng nhạt đường chiều buông lửng lơ,

Chẳng ai hò hẹn chẳng ai chờ…

Mây không vương vấn buồn không gió,

Trời vắng ngày hoang đến hững hờ!

Bước bước ngập ngừng theo bóng ai,

Đường sương lành lạnh ánh trăng dài…

Hỏi thôi mấy nẻo rừng quan ải…

Ai biết ai chờ, ai đợi ai

Hoang vắng tưởng chừng đêm đã qua

Bàng hoàng nghe nở một loài hoa…

Thoảng hương khuya lạnh thương thương quá,

Mộng đã không thành ta trách ta !

Bỏ lỡ một đời có biết không?

Mang chi cho nặng gánh tang bồng,

Trời xa đã mõn cánh chim hồng…

Bao giờ trả hết nợ non sông ?..

Hãy trả cho nhau một chút tình,

Em xinh em mộng vẫn còn xinh.

Chỉ riêng ta mãi còn mê tĩnh,

Trời đất muôn trùng thăm thẳm xanh…

Văn Nguyên Dưỡng

Tháng 7-2016

Vĩnh Định -NVD

Tháng 7/2016

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Vĩnh Định -Thử xét nghiệm cách gieo vần trong thơ mới

Nghệ Sĩ Kim Tuyến: Tôi chọn tự do và không hối tiếc”. Bài phỏng vấn đặc sắc- môt tài liệu lịch sử không nên bỏ qua. -August 201 6

Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”

LGT: Nghệ sĩ Kim Tuyến, người đã chỉ thẳng mặt Kim Cương vào tháng trước ở Little Sài Gòn đã trả lời phỏng vấn của Tuấn Khanh. Đây là một tài liệu lịch sử rất đáng giá. Tôi rớt nước mắt khi nghe Kim Tuyến kể về Hiền Tài Nguyễn Văn Trảng. Kim Tuyến đã kể rất hay, thật về vài nghệ sĩ có khí tiết. Kim Tuyến cũng kể rất thật về giao du với Bạch Tuyết. Những điều kể của KT cho thấy nếu ai đó ngày xưa định mời Bạch Tuyết hát ở hải ngoại thì nên coi lại những tâm sự giữa Bạch Tuyết-Kim Tuyến, về chế độ. KT cũng bật mí về kế hoạch đưa người ít bị chống đối ( vd Út Bạch Lan) ra hải ngoại dò đường trước. KT không kể vì sao KT không cộng tác với Hoàng Thi Thơ, Thành Được khi VC có kế hoạch “giao lưu” ( sau 1993) nhưng tôi tin là nhiều người đoán được lý do. KT chỉ cộng tác với Nhật Trường. KT đáng khen hơn nhiều vị cựu quân nhân là KT biết dùng “nhà cầm quyền” trong khi các ông cứ vô tư ( chính quyền cs!) hay vô tư ( học tập cải tạo –lẽ ra phải ghi tù vc hay phải bỏ trong ngoặc kép). Tôi hết sức kinh ngạc trước một cô đào cải lương mà đã có khí phách ngay sau 1975. Cái “khí phách” ấy còn nguyên vẹn nên cô đã thẳng thắn trong cư xử với Bạch Tuyết và mới đây với Kim Cương.

Thật đáng xấu hổ cho những tay trí thức, cựu quân nhân, cái đám gọi là người trẻ thành công ở hải ngoại, đã “bò” về VN cộng tác với cộng sản. Tư cách đám người này là zero so với người phụ nữ-nghệ sĩ cải lương-Kim Tuyến. Xin cảm ơn Thượng Đế khi Việt Nam chúng tôi còn những người như Kim Tuyến

Hoàng Lan Chi

*********************

NGUYEN TUAN KHANH·THURSDAY, AUGUST 4, 2016

Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa… Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.

Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.

Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.

Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.

Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy. Tôi xin giữ lại câu chuyện này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.

 

Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa… Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.

Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.

Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ. Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.

Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.

Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy. Tôi xin giữ lại câu chuyện này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.

*********

Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: “Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở đường Thống Nhất”.

Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: “Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy”. Tôi hơi bực nói : “Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả”.

Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giả với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói “Chị ơi em buồn quá”. Chị Kim Cương kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc vỗ về: “Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường”. Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn “Mọi người vào trong, đến giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: “Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ …”. Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: “Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con”.

Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước ???Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : “Kim Tuyến, con đi đâu đây?”. Tôi chào Bác và trả lời “Dạ, đây là nhà con”. Bác nói tiếp: “Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời”. Tôi chỉ còn biết đáp: “Dạ…Dạ…tại con bịnh”.

Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng, “cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con”, vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.

Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó ra sao?

Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hỗm trên salon và nói là “Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)”. Lần lượt cán bộ, rồi tới ‘Cách Mạng 30’ (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo: “Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày… “. Tiền lương thì không có.

Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân: “Ta lên giây đàn… từng tưng…”. Mọi người nhìn theo anh nầy, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.

Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hỗm có cái lỗ ?…

Hoàn cảnh chị thì như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?

Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: “Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?” Họ đáp “À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi”. Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: “Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?”. Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: “Chúng đã tiếp tay cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở”. Tôi hỏi: “Vậy ai sẽ ở?”. Hắn đáp: “Chúng tôi, những người có công với cách mạng”. Tôi nói tiếp: “Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở, thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại”.

Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi. Em có vẻ ngạc nhiên nói: “Trời ! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em”. Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: “Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm…Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra”. Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.

Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: “Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R nầy mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết”.

Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hỗm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản “Những Đồi Hoa Sim”, rồi “Tình Đầu Tình Cuối”, và “Tình Đời” song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch. Vãn hát xong, thì Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói: “Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế ? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé”. Tôi nghĩ thầm: “Danh hài mà không cho diễu là sao?”. Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: “Xin lỗi anh, anh tên gì ?” Anh ta đáp: “Chị cứ gọi tôi là anh Ba”. Tôi nói tiếp: “Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm”. Anh Ba nhìn tôi lên giọng: “Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy”. Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: “Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài nầy”. Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói : “Chú Lâm, chắc con nghỉ hát”. Các em trong ban nhạc nhốn nháo: “Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn”.

Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào … Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.

Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Sô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Sô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắc máu kiểu Cộng Sản “Thề phanh thây uống máu quân thù”.

Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?

Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ : “Thăm thẳm chiều trôi… khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…” tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thung cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát…Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh v.v… Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.

Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?

Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.

Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh. Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến… hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội… thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi THơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…

Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?

Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 75 rất khó nghe.

Hầu như những người Bắc đến sau năm 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ: “Quyết tâm làm sạch đường phố”… hết ‘quyết tâm’ này đến ‘quyết tâm’ kia, hết ‘phường văn hóa’ đến ‘khóm văn hóa’, mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản. Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.

Chị chọn lựa ra đi và thật sự không hối tiếc? Được biết chế độ mới ở Việt Nam cũng nhiều lần mời chị trở lại sân khấu và sống với nghề như cũ. Thử nghĩ lại, chị ra đi chỉ vì bất mãn tạm thời hay có thêm những kinh nghiệm nào khác?

Sau 10 năm định cư trên nước Mỹ tôi mới nộp đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Ngày tuyên thệ tôi thấy lòng ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình cũng có một quê hương, tại sao hôm nay mình phải xin được trở thành công dân của một nước khác không cùng màu da? Nước mắt tủi hờn lại có dịp rơi.

Sau khi quyết định nghỉ hát tại Việt Nam (1975), tôi không theo dõi các chương trình TV và ít giao thiệp, nên không rõ các sự việc xảy ra cho các nghệ sĩ đồng nghiệp ở Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ trước khi ra đi là có một ngày anh Nhật Trường đến nhà tìm tôi để mời tôi hát cho anh lưu diễn miền Tây, nhưng tôi bận rộn lo chuyện vượt biên. Một kỷ niệm khác là vào một buổi tối, tôi gặp Bà Năm Sa Đéc trước một tiệm phở trên đường Hiền Vương (*nay là đường Võ Thị Sáu). Bà Năm Sa Đéc (Má Năm) có đóng chung với tôi trong phim “Đỉnh Núi Mây Hồng”. Má Năm vừa đưa tay chỉ lên đầu vừa nói với tôi: “Tụi nó bắt Má Năm học tập cải tạo, nhưng đầu này có sạn rồi… còn lâu ! “. Ánh mắt Má Năm sáng rực nỗi phẫn uất trong đêm tối.

Tôi có một người em kết nghĩa tên Nguyễn Văn Trảng là đệ tử của ông Anh Lân, khi viết kịch hay viết báo em lấy biệt hiệu là Vương Thế Trung. Em tiếp tục học và đã tốt nghiệp kỹ sư (Phú Thọ), tôi có dự lễ tốt nghiệp của Trảng năm 1973. Mẹ Trảng tu ở chùa Cao Đài, Ba Trảng mất sớm. Một ngày nọ (1975), Trảng ghé nhà tôi và cho biết em đang hoạt động cho Phục Quốc Quân tại Tây Ninh, tôi gởi cho em một số tiền để em hoạt động. Năm 1978 tôi được tin Trảng đã bị bắt.

Năm 1983, soạn giả Trần Trung Quân từ Pháp sang mời tôi thu hình vở cải lương “Nước Mắt Người Đi” với Dũng Thanh Lâm, nội dung kể lại cuộc đời của các chiến sĩ phục quốc anh hùng. Tôi kể chuyện tôi có cậu em kết nghĩa tên Trảng theo Phục Quốc Quân bị cộng sản bắt, không biết giờ ra sao. Bất ngờ, anh Trần Trung Quân cho biết anh có bà Mẹ hay đi chùa Cao Đài ở Tây Ninh vừa qua Pháp đoàn tụ với anh, bà Mẹ kể rằng Hiền Tài Nguyễn Văn Trảng hoạt động phục quốc bị cộng sản gài bắt và đưa ra xử trước tòa án nhân dân. Cộng sản kết tội Nguyễn Văn Trảng là phản động. Trảng hiên ngang hét lớn: “Tôi không phản động, Hồ Chí Minh mới là kẻ phản động”. Trảng bị bắn chết ngay tại chổ. Anh Trần Trung Quân nói anh đã đưa câu nói này của Hiền Tài Trảng vào trong vở tuồng do Dũng Thanh Lâm đóng vai chiến sĩ VNCH. Tôi lặng người đau đớn nát cả lòng, nhớ đến hình ảnh Trảng đạp xe đạp lộc cộc đến chỗ tập kịch. Tôi đề nghị giúp Trảng mua xe mobilette để làm phương tiện di chuyển . Trảng hứa trả lại sau khi ra trường làm việc. Tôi thương em như thương chính tôi vì nhớ cảnh tôi phải bỏ dở việc học để đi hát kiếm tiền phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em, khi Ba tôi gặp khó khăn tài chánh vì Việt Cộng liên tục đắp mô đặt mìn trên tuyến đường Sài Gòn – Vĩnh Bình, làm cho chiếc xe đò của Ba tôi không hoạt động được. Tôi nói Trảng cứ yên tâm, tôi tặng Trảng vì nghèo, mồ côi cha, hiếu học, xem như tôi đóng 2 show kịch TV không lãnh thù lao. Trảng cảm động rưng rưng nước mắt.

Năm 1995, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Tiếc Thương ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa gọi điện thoại tìm tôi. Anh cho biết anh có 1 cô bạn là nữ quân nhân vừa qua Mỹ đang ở Boston đi diện HO có biết một số tin tức về Nguyễn Văn Trảng.. Tôi hẹn gặp chị tại nơi anh Thu cư trú ở Garden Grove , California. Chị cho tôi biết là có 1 thời gian ngắn chị bị giam chung với Trảng, Trảng thường nhắc đến Kim Tuyến và nói nếu chị ra được khỏi tù thì nhờ chị tìm gặp chị Tuyến, nhắn rằng em lúc nào cũng thương chị Tuyến. Nhưng tiếc thương thay cộng sản đã giết Em. Anh Nguyễn Thanh Thu có ý định tạc một bức tượng của Trảng, nhưng không thành vì lúc đó không ai có được một bức hình của Trảng. Chắc anh Nguyễn Thanh Thu còn nhớ câu chuyện của Trảng. Tôi mong được gặp lại chị nữ quân nhân mà tôi đã gặp 20 năm trước. Nhớ đến Trảng tôi cảm thương và liên tưởng đến các thanh niên nam nữ trẻ tuổi như Trảng đã anh dũng tham gia phong trào Phục Quốc bị tra tấn, tù đày và sát hại. Tôi có một ông cậu ruột (cậu Lữ Minh Bạch) là một sĩ quan hải quân VNCH, cũng hoạt động phục quốc, đã bị cộng sản bắt và bị kết án 18 năm tù.

Tôi đã khóc khi đọc những bài viết của những người Tù chính trị sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO kể về những nhục hình mà những người Cộng sản đã trả thù tàn độc , tôi lại càng căm thù chủ nghĩa Cộng sản.

Sau một thời gian sống và làm việc ở Mỹ, chắc chị rồi cũng dần dần gặp lại ít nhiều các đồng nghiệp trong Việt Nam qua Mỹ du lịch hoặc biểu diễn, cảm giác của chị thế nào?

Bận rộn với gia đình và các sinh hoạt văn nghệ ở Mỹ, nhưng tôi vẫn thường liên lạc với chị Như Mai và Kim Hoàng vì có mối thân tình từ lúc chị mời tôi đóng vai chánh trong các vở kịch và tuồng cải lương trên TV, đài phát thanh và đóng phim “Vực Nước Mắt”. Lúc chị Như Mai điều hành Chùa Nghệ Sĩ, tôi có trợ giúp cho chi phí xây một bức tường quanh nghĩa trang nghệ sĩ. Năm 1993, tình cờ tôi được biết qua chị Như Mai là Lê Duy Hạnh, chủ tịch Hội Sân Khấu trong Việt Nam, đang có kế hoạch giao lưu văn hóa. Bắt đầu họ sẽ gởi một hai ca nghệ sĩ ít hoặc không bị chống đối đến Mỹ hát trước để tránh bị biểu tình phản đối, sau đó họ sẽ tiếp tục gởi tiếp nhiều ca nghệ sĩ khác ra hải ngoại. Chị Út Bạch Lan đến Mỹ trước tiên. Cô chủ nhà hàng Anh Thy và cô Sáu Châu gọi báo cho tôi biết và muốn tôi cùng gặp chị Út Bạch Lan. Tôi đến nhà hàng Anh Thy, nhìn thấy anh Duy Khánh và Lâm Tường Dũ, hai anh đưa cho tôi xem tờ quảng cáo quay roneo có hàng chữ: Tái ngộ sầu nữ Út Bạch Lan… với sự bảo trợ của Duy Khánh, Kim Tuyến, Lâm Tường Vũ. Họ tự động ghi tên tôi vào thành phần ban tổ chức mà không hề hỏi xem tôi có đồng ý không. Tôi nói: “Tôi chỉ muốn đến thăm chị Út Bạch Lan như một đồng nghiệp đàn em chào mừng chị, nhưng tôi không muốn có tên trong danh sách bảo trợ hay ban tổ chức, dù rằng tôi thương mến chị Út Bạch Lan”. Sau đó tôi được biết nhà hàng Seafood World từ chối cho thuê để tổ chức văn nghệ vì ngại sẽ có cuộc biểu tình chống đối, nên tất cả kéo về tổ chức tại quán Anh Thy, một nhà hàng nhỏ hơn.

Từ năm 1993 khi được biết cộng sản phát động kế hoạch giao lưu văn hóa, tôi có suy nghĩ nếu tiếp tục hoạt động văn nghệ thì vô tình tôi tiếp tay cho cộng sản thực hiện ý đồ ru ngủ và đánh phá cộng dồng người Việt tỵ nạn. Tôi đã bất hợp tác từ Việt Nam và đã vượt qua quá nhiều nghiệt ngã, cuối cùng thoát khỏi cộng sản VN, thì tại nơi đất Mỹ này tôi vẫn có cơ hội sống bằng trí óc và đôi tay của mình. Tôi quyết định ngưng hát. Từ năm 1993 tôi chỉ hát một lần để ủy lạo các gia đình H.O. theo lời mời của anh Nguyễn Mậu Quý, chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị. Trong thời điểm đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã book tour bên Âu Châu và mời tôi tiếp tục trình diễn nhạc kịch Ả Đào Say, nhưng tôi từ chối. Em Chí Tâm cũng muốn tôi kết hợp trình diễn với anh Thành Được, và rất nhiều nơi mời tôi đi hát, nhưng tôi vẫn không nhận lời mời. Điều tôi suy nghĩ có thể không đúng với những người khác, nhưng tôi không thể, hay đúng hơn không muốn giải bày. Năm 2002, anh Nhật Trường mời tôi hát giúp cho 2 đêm Văn Nghệ Giã Từ Sân Khấu, tôi nhận lời vì tôi cùng quan điểm với anh khi nghe anh nói anh chống lại kế hoạch giao lưu văn hóa và không muốn đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ do cộng sản đưa sang.

Năm 2002, chị Bạch Tuyết qua Mỹ và gọi điện thoại cho tôi, chị nói muốn đến nhà thăm tôi. Tôi vui mừng vì chúng tôi đã từng đi hát chung ở đoàn Thống Nhứt lúc tôi còn là “đào con”. Chị Bạch Tuyết may mắn giờ chót được thay thế vai của chị Diệu Hiền trong vở “Đẹp Duyên Chùa Tháp” tức “Tiếng Hát Muồng Tênh” của soạn giả Mộc Linh. Hai ông bầu Út Trà Ôn và Hoàng Giang sắp xếp cho Bạch Tuyết thế vai vì Diệu Hiền bỗng nhiên biến mất, trong khi Bạch Tuyết chưa có vai trò nào trong vở tuồng này, còn tôi được đóng vai người em gái nhỏ. Thời gian sau tôi rất thích chị đóng chung với anh Hùng Cường ở đoàn Dạ Lý Hương, vì hai người diễn rất sống động, rất thật trong các vở tuồng xã hội cùng với Ngọc Giàu, Văn Chung, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú.

Phương Uyên lái xe chở chị Bạch Tuyết đến nhà chúng tôi. Sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, tôi mời chị và Uyên đi ăn tối tại restaurant COCO. Chị bảo là chị ăn chay và chỉ ăn được món nào có tôm. Tôi tưởng chị là người Công Giáo. Tôi hỏi thăm về tin chồng chị là ông Đức bị bắt và bị Việt Cộng tịch thu tài sản, và chắc chị khổ với Việt Cộng vì ngày xưa chị có bức hình đội nón sắt có hàng chữ “Bỏ Bom Hà Nội” và chị đưa ngón tay cái lên. Chị nói ” Em ơi… ờ thì…nhưng chị không coi trọng tiền bạc, vật chất. Chị tu rồi em ơi, thỉnh thoảng chị được thầy Thích Thanh Từ là thầy của chị, vì bận quá, phật tử đông quá, đã giao cho chị đi thuyết pháp . Vấn đề anh Đức ở tù thì khi hoạn nạn mình phải chấp nhận, khi nào trời quang mây tạnh thì hai đứa che dù đi chung”. Tôi hỏi thăm về sinh hoạt và cuộc sống của chị tại VN thì chị cho biết chị có nhiều bạn trẻ thương yêu, các bạn này có hãng nước uống và cho chị vào một phần hùn nhỏ để sống nên chị không phải bận tâm. Chia tay ra về tôi thấy vui cho chị vì nghĩ rằng chị đã tu đến mức đã đạt được chữ “ngộ” rồi, vì nhà cửa bị tịch thu, chồng bị bắt bỏ tù mà không oán hận. Tôi thầm nghĩ, nếu là tôi thì tôi sẽ thù ghét CS lắm.

Bạch Tuyết điện thoại cho tôi: “Chị có thằng con trai học Bang Giao Quốc Tế ở bên Anh quốc. Hôm đám cưới cháu chị không qua được, chỉ có cô em kết nghĩa là mẹ nuôi của nó đứng ra tổ chức. Chị muốn nó ra mắt cô chú đồng nghiệp cho phải lễ. Chị mời em và ông xã đến rồi tụi mình đập bồn đập trống cho vui”. Tôi nhận lời ngay. Đến nhà hàng Palace Seafood nơi tổ chức tôi nhận thấy đây là một đám cưới vì cô dâu chú rễ mặc khăn đống áo dài theo trang phục đám cưới. Có nhiều ca nghệ sĩ đến tham dự và chúng tôi cùng ca hát đóng góp thật sôi nổi với MC Trần Quốc Bảo. Cô dâu Mỹ trông khá xinh xắn dễ thương. Trước khi tiệc tàn, chị đến siết tay tôi và hẹn đến chơi nhà tôi vài hôm trước khi về lại Việt Nam.

Một buổi chiều, trên đường đến rước chị, chúng tôi ghé mua tờ Việt Báo. Tôi giở tờ báo ra xem thì giật mình khi thấy hình chị Bạch Tuyết đang quỳ lạy khán giả trên sân khấu tại San Jose với hàng tít to: “Bạch Tuyết đã quỳ lạy khán giả vì bị biểu tình phản đối”. Chúng tôi rước chị ở khu mobile home trên đường Bolsa. Trong khi ông xã tôi đổ thêm xăng tại góc đường Brookhurst và Hazard thì chị cầm tờ Việt Báo lên đọc rồi chị nói lớn: “Cũng thằng Mỹ nữa”. Tôi nói : “Chuyện gì vậy chị?”. Chị tiếp: “Thằng Mỹ không có tư cách gì để lật đổ chế độ Taliban”. Tôi hỏi: “Sao vậy chị ?”. Chị nói “Em ở Mỹ lâu mà em không biết gì sao Tuyến, thằng Mỹ làm giàu nhờ bán vũ khí, nó muốn quậy lên để bán vũ khí”. Trời ơi, sao luận điệu và giọng nói này của Bạch Tuyết giống y như phát ngôn viên Việt Cộng Phan Thúy Thanh mà mỗi sáng lái xe di làm tôi hay nghe tin tức từ đài VOA và BBC.Về đến nhà, chị cầm tay tôi xem, thoạt đầu, tôi nghĩ chị biết coi bói. Chị hỏi : “Tuyến, em có bao nhiêu căn nhà?”. Tôi đáp: ” Một căn nhà mà còn trả chưa xong đây chị”. Chị lại hỏi: “Em có bao nhiêu tiền trong nhà băng?”. Tôi ngạc nhiên với 2 câu hỏi này. Chị bảo tôi về Việt Nam chơi và ở với chị. Tôi nói: “Em ghét Việt Cộng. Vượt biên suýt chết rồi chị”. Chị nói: “Thôi mà em, đừng nghĩ vậy, chế độ bây giờ tốt đẹp hơn chế độ trước nhiều lắm”. Ông xã tôi bất bình nói: “Chị nói chế độ bây giờ tốt đẹp tại sao sau khi chấm dứt chiến tranh họ lại bắt sĩ quan, công chức và những nhà trí thức VNCH giam cầm đày ải bỏ đói cho đến chết trong các trại tù cải tạo?”. Chị lại nói: “Anh không biết chứ Tuyết vô thư viện bên Anh đọc sách, có nhiều nước tan chiến tranh rồi họ đem bắn bỏ hết, rồi ai làm gì họ”. Tôi bực mình nói: “Tốt đẹp gì chị, chế độ gì không có tự do tôn giáo, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị nhốt vào tù, Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế”. Bạch Tuyết nói: “Ai biểu sống trong chế độ của người ta mà chống đối thì là chuyện đương nhiên”. Tôi thất vọng ở tầm kiến thức nhỏ hẹp lệch lạc và lối lý luận sặc mùi cộng sản của ‘tiến sĩ’ Bạch Tuyết. Chị còn hết lời ca tụng tâng bốc Nguyễn Minh Triết nói anh ta giỏi đủ mọi thứ, trong khi ở thời điểm đó Nguyễn Minh Triết còn hoạt động ở Sài Gòn và tôi chưa biết anh ta là ai.

Khi cuộc bàn luận quá căng thẳng tôi đổi đề tài để nói về văn nghệ. Tôi nói “Má em hay xem cải lương, thỉnh thoảng em cũng xem và thấy Tài Linh diễn xúc động, chắc Tài Linh hiền lắm hả chị?”. Bạch Tuyết nói : “Những người nổi tiếng không ai hiền hết em”. Rồi chị kể về anh Hùng Cường, chị bảo là Hùng Cường yêu chị lắm và muốn cưới chị nhưng chị từ chối (?). Chị không biết rằng trong thời gian sống ở Mỹ anh Hùng Cường rất thân với chúng tôi và hay kể về những cuộc tình của anh, dĩ nhiên trong đó có Bạch Tuyết, anh Hùng Cường đã có mối quan hệ sâu đậm từ Bạch Tuyết ra sao, và chị đã năn nỉ anh thế nào. Tôi nghĩ nếu Hùng Cường còn sống tôi sẽ gọi anh đến để nghe Bạch Tuyết nói dóc. Đêm khuya quá, chẳng lẽ tôi đẩy Bạch Tuyết ra khỏi nhà, còn đưa về thì tôi mệt rồi sau một ngày dài làm việc. Chị hỏi tôi có muốn gởi tiền giúp Chùa Nghệ Sĩ không, tôi nói đã giúp rồi, và lần này chỉ gởi ít tiền tặng Má Bảy Phùng Há.

Trước đây theo lời kêu gọi của Má Bảy và 2 chị Như Mai Kim Hoàng, Chùa Nghệ Sĩ không có rào nên thỉnh thoảng phát giác ra mồ mả bị đào bới vì họ muốn kíếm vàng bạc, đồng thời số nghệ sĩ già không nhà cửa phải sống lang thang, nên yêu cầu chúng tôi giúp đỡ tiền xây rào và mua tôn lợp phía sau chùa cho các cô bác có chỗ tạm trú. Chúng tôi đã gởi tiền giúp. Sau đó chị Như Mai cho biết ông Võ Văn Kiệt chấp thuận cấp cho 1 miếng đất ở quận 8 để xây Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Tiền chúng tôi đã gởi, chị Như Mai lo xây rào và trùng tu trong Chùa vẫn còn dư. Tôi yêu cầu chị Như Mai bỏ số tiền đó vào bank để lấy lời lo thuốc thang cho những nghệ sĩ già đau yếu, còn Nhà Dưỡng Lão hãy để cho chính quyền cộng sản lo.

Tôi không bao giờ quên ơn Má Bảy Phùng Há, người mời tôi đóng nhiều vở tuồng trên TV, đã chỉ dạy thêm cho chúng tôi từ anh Thanh Sang đến anh Thành Được. Má Bảy cũng từng nói: “Mấy ổng muốn mời Má làm chức này chức kia, nhưng Má nói Má không thích làm chính trị, Má chỉ thích làm Văn Nghệ mà thôi”. Tôi lấy 100 dollars bỏ vào bao thơ trao cho chị Bạch Tuyết nhờ chị đem về trao cho Má Bảy. Vài tuần sau tôi gọi điện thoại thăm Má Bảy và hỏi xem Má Bảy có nhận được tiền không. Lúc đó có mặt ông bầu Xuân, tôi nghe tiếng Má Bảy nói lớn: “Ông Xuân ơi, Kim Tuyến nói có gởi Bạch Tuyết đem về cho tôi 100 mà sao không thấy?”. Ông Xuân nói: “Bạch Tuyết bảo sung vào quỹ của Chùa”. Tôi không hiểu tại sao chị Bạch Tuyết lại làm khác lời dặn của tôi, để cuối cùng Má Bảy không nhận được gì cả !

Một lần nọ anh Hùng Cường dẫn anh Sáu Thanh đến nhà thăm chúng tôi. Anh Sáu Thanh là 1 đại thương gia trước năm 1975, chính anh là người cung cấp toàn bộ tiền bạc và phương tiện để thành lập đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết . Sáu Thanh giao đoàn cải lương cho Hùng Cường và chị Bạch Tuyết vì anh rất bận với các công ty lớn của anh. Đoàn cải lương này là một đại ban, được khán giả nhiệt tình ủng hộ, lần trình diễn nào cũng bán hết vé, thế mà Bạch Tuyết khai lỗ. Trước mặt chúng tôi, anh anh Sáu Thanh nói với Hùng Cường: “Anh lập đoàn hát này cho chú mầy mà chú mầy ham chơi quá, để cho con Tuyết lộng hành, nó đưa người nhà của nó vào, nó kiểm soát mọi chi thu, cứ khai lỗ, để cuối cùng phải giải tán đoàn hát”.

Ngày 27/10/2002 Bạch Tuyết tổ chức ra mắt CD Kinh Pháp Cú chuyển thể cải lương tại Chùa Việt Nam trên đường Magnolia của Thượng Tọa Thích Pháp Châu. Ông Thượng Tọa này từng có tai tiếng vì đã lăng nhăng tình ái với một nữ Phật tử trẻ. Cuộc điện đàm hẹn hò dâm dục ở hotel của ông sư này với cô gái đã bị thu băng toàn bộ. Vì vậy cho nên truyền thông và báo chí hải ngoại kêu gọi biểu tình chống Việt Cộng Bạch Tuyết và Thượng Tọa Pháp Châu. Hôm đó có rất nhiều người đến biểu tình, trong đó có tôi, trước cửa chùa. Người biểu tình cho phát thanh cuốn tape dâm dục của Thượng Tọa Pháp Châu và hô đả đảo Bạch Tuyết. Tôi nghĩ nếu anh Hùng Cường còn sống chắc anh cũng sẽ đến biểu tình chống Bạch Tuyết, vì anh là người rất căm thù cộng sản. Dù rằng khi còn sống anh đã từng kể chính anh là người giới thiệu anh Đức ( một “Việt Kiều Yêu Nước” tại Pháp) cho Bạch Tuyết sau vụ Bạch Tuyết bị vợ của ĐT Hoàng Đức Ninh làm nhục.

Trong một dịp thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và đi ăn tối với anh, chúng tôi có kể cho anh nghe về Bạch Tuyết và Kim Cương. Trong một lần nói chuyện trên Radio, anh Thiện đã có đề cập đến Việt Cộng Kim Cương và Bạch Tuyết. Tôi quý mến anh Nguyễn Chí Thiện vì tư cách và sự dũng cảm của anh. Chỉ vì can đảm dám nói lên sự thật của lịch sử và sự thật tàn ác của chế độ cộng sản mà anh bị gần 30 năm tù ở miền Bắc. Trong tù anh vẫn đứng thẳng, hiên ngang làm thơ vạch trần sự dã man của chế độ và dám chửi thẳng Hồ Chí Minh.

Những gì tôi kể về Bạch Tuyết là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt, không trái với lương tâm. Một số đông trong đó có tôi vẫn còn nhiều hoài nghi về Bạch Tuyết: – Bạch Tuyết không học Trung Học, không học Đại Học thì làm sao có bằng Tiến Sĩ ? – Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu. – Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức thì làm Luận Án Tiến Sĩ bằng tiếng gì ? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt ? – Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường Đại Học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng Tiến Sĩ giấy. – Bạch Tuyết thù ghét Mỹ, vậy tại sao thích đi sang Mỹ, cho con học ở Mỹ, đi làm ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Phải chăng Bạch Tuyết muốn tìm một “bãi đáp an toàn” sau này ở Mỹ ?

Những câu chuyện của hôm qua bao giờ cũng thật xúc động, dù chỉ là kỷ niệm. Nhưng có khi nào chị nhìn thấy sân khấu ở quê nhà, sự rộn rịp hoặc giàu có của giới đồng nghiệp mà chạnh lòng? Hoặc chị có lúc nào nghĩ rằng nếu chị nhượng bộ, ở lại, thì cũng đã có một cuộc sống sinh hoạt sôi nổi, nhiều thu nhập như các nghệ sĩ khác?

Sau 37 năm sống trên đất Mỹ và 41 năm miền Bắc cai trị miền Nam, tôi vẫn thường theo dõi các tin tức từ quê nhà và rất buồn khi thấy cộng sản đã tạo ra một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, con ông cháu cha, tư bản đỏ, giai cấp này lộng hành, áp bức bóc lột người dân khốn cùng. Luân lý, đạo đức suy đồi, cuộc sống bất an, luật pháp bất minh, môi trường nhiểm độc, tham nhũng tràn đầy… Trong khi đó chính quyền lại “ác với dân, hèn với giặc” trước hiểm họa mất nước vào tay giặc Tàu.

Tôi không dùng danh từ “chính quyền” cho CSVN, vì không ai bầu cái Đảng cướp này cả . Chúng cưỡng chiếm miền Nam , áp đặt chể độ độc tài đảng trị, thì không thể dùng danh từ Chính quyền. CSVN thắng VNCH do tuyên truyền dối trá , quỷ quyệt, gian manh do HCM đem chủ thuyết ngoại lai quái đản từ Liên Sô,Trung Cộng đặt lên đầu dân VN. CSVN xem văn nghệ sĩ là bộ môn tuyên truyền hữu hiệu nhất, họ dùng nghệ sĩ để ru ngủ đồng bào quên đi tội ác mà chúng gây ra. Kim Cương là một điển hình cùng một số văn nghệ sĩ được họ sử dụng.

Tôi thấy mình đã quyết định đúng khi vượt biên rời khỏi chế độ cộng sản VN để cho gia đình và con cháu tôi có một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn. Tôi đã quyết định đúng khi chọn nước Mỹ, một nước tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền, một nước thật sự của dân, do dân và vì dân.

Dạ, xin cám ơn chị, 28/7/2016

Tuấn Khanh (ghi)

 

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Nghệ Sĩ Kim Tuyến: Tôi chọn tự do và không hối tiếc”. Bài phỏng vấn đặc sắc- môt tài liệu lịch sử không nên bỏ qua. -August 201 6

Thống Đốc Nam Úc ơi, can đảm lên chứ!

Quyền Được Bày Tỏ Thái Độ

Tôi hỏi thăm một người về thái độ của ông A đối với vụ ông Lê Văn Hiếu, Thống Đốc Nam Úc. Tôi nói rằng “Ông A có toàn quyền trong hành động của ông nhưng tôi cần biết để tôi toàn quyền …có thái độ với ông A”. Nói nôm na ra là tôi sẽ là chiến hữu, hay bạn hữu, hay chỉ là “bè” của A tùy vào lập trường chính trị và thái độ chính trị của A.

Một nghệ sĩ cải lương mà tôi rất ngạc nhiên về tư cách và khí phách là Kim Tuyến. Chị đã có một lập trường chính trị rõ ràng ngay năm 1975. Cái lập trường chính trị ấy không được hô suông mà được thể hiện bằng “thái độ chính trị” cũng rất rõ ràng ngay sau 1975. Nhiều năm trôi qua, lập trường chính trị của Kim Tuyến không thay đổi và chị có thái độ chính trị y như thế: không cộng tác với Hoàng Thi Thơ hay Thành Được và chỉ cộng tác với Nhật Trường. Năm 2016, khi mà rất nhiều kẻ sau đây đã phản bội lý tưởng quốc gia, lập trường dân tộc vì ham về VN hát hò, viết báo, du hí, dạy học kiếm danh.., thì Kim Tuyến vẫn son sắt một lòng. Chị đã chỉ thẳng tay vào mặt Kim Cương khi vô tình gặp “mụ vc” này ở Little Sài Gòn. Khoảng gần một tháng sau, qua một bài trả lời phỏng vấn với Tuấn Khanh, Kim Tuyến đã thố lộ nhiều điều mà tôi nói đó là những tài liệu lịch sử quý giá. Viết đến đây, tôi “ngán ngẩm” khi nhớ đến vài ông. Họ, từ chối phỏng vấn vì ( không muốn show off!). Tôi đã nói, quý vị là người cũ, quý vị có nghĩa vụ kể lại cho đời sau biết. Từ những gì quý vị kể, các nhà viết sử thừa sức lọc lựa, đối chiếu để viết nên những trang sử gần sự thật nhất. Quý vị đừng tự khoe, tự biện bác thì làm sao “show off’ được? Nhất là, với những câu hỏi của Hoàng Lan Chi thì làm gì quý vị có cơ hội “show off” bản thân cá nhân quá nhiều? Tôi hy vọng mọi người nên kể lại những gì mình trải qua, mình chứng kiến, nhất là trong phạm vi (lằn ranh quốc cộng) để lại cho đời sau.

Và sau khi nghe nhiều người kể thì chúng ta có quyền bày tỏ thái độ. Tôi phổ biến bài phỏng vấn nghệ sĩ Kim Tuyến, tôi phổ biến bức thư của GS Kym Tran về vụ ông Lê Văn Hiếu: tôi xem đó là tôi có thái độ chính trị rõ ràng! (Cười).

Một người phải có lập trường chính trị, tư tưởng chính trị và thái độ chính trị phân minh, mới xứng đáng là NGƯỜI. Chúa/Phật đều dạy thế.

§ NS Kim Tuyến: Tôi chọn tự do và không hối tiếc . Bài phỏng vấn đặc sắc- một tài liệu lịch sử không nên bỏ qua.

Fans Việt Tân

Một anh bạn từng hỏi tôi về VT vào cuối 2014 và tôi nói anh hãy tự google lấy, tài liệu về MT thiếu gì và từ từ sẽ “thấy” nhiều hơn.

Đến nay đã gần hai năm và tôi nghĩ là bạn tôi “thấy” được nhiều hơn.

Thấy số 1 là qua vụ phim Terror in Little Sài Gòn. VT, nếu ngay thẳng thì phải cộng tác với FBI và cổ vũ cho việc mở lại hồ sơ ám sát Đạm Phong-Lê Triết (tôi không nói mấy vụ kia). Đằng này, VT nhảy như đỉa phải vôi và kéo cộng đồng vào để lên án AC Thompson là “mạ lị cộng đồng”. Cũng may là cộng đồng hải ngoại cũng còn những người người không (ngốc nghếch). Trình độ của Bs Đặng Vũ Chấn, UV trung ương đảng VT, đã được chứng minh qua bài phỏng vấn ông ta bởi báo của VT. Xem tại đây:

§ Hoàng Ngọc An-Nhận xét bài trả lời PV của Uỷ Viên TUĐ Việt Tân, Bs Đặng Vũ Chấn

Thấy số 2 là một loạt các thông báo từ ô Nguyễn Thanh Tú, con trai cố ký giả Đạm Phong. Ông Tú, dành buổi tối để google, phân tích tài liệu nhận được từ cựu đảng viên MT để viết các thông báo. Những bằng cớ quá hiển nhiên, rõ ràng. RFA, Nguyễn Văn Khanh, không dám hỗ trợ VT như trước kia nữa. Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả vào cuộc. Nhiều phần trăm là FBI sẽ mở lại hồ sơ ám sát ký giả. Nhiều phần trăm là những tổ chức dính líu việc gây quỹ sẽ bị sờ gáy bởi luật RICO.

Thấy số 3 là hành vi bằng mọi giá cướp cho được các Tổ Chức Cộng Đồng ở những thành phố lớn. Điển hình là tại Florida và DC. Họ, thừa tiền (Người ngu nhất thế giới cũng phải biết, tiền từ 90 đã được đẻ ra tiền. Người ngu nhất thế giới cũng thừa biết vc có nhiều phe phái. Ngày xưa công an chơi Tuổi Trẻ và ngược lại nên vụ Đường Sơn Quán mới bị phanh phui. Nhánh A của VC có thể hỗ trợ cho MT và nhánh B của VC thì đập MT. Một người quen của tôi nói rằng năm xưa họ đóng có 20 MK/tháng. Giê su ma lạy chúa tôi. 20 MK vào 1990 thì là 50 MK bây giờ. Sau nữa, năm 2008, Đài Việt Nam Hải Ngọai từng nói rằng họ chỉ cần mỗi thính giả cho họ 5 MK/tháng thôi là đủ. ) nên thao túng được khá dễ dàng. Chiếm Tổ Chức Cộng Đồng là để có tổ chức hậu thuẫn cho họ những sự việc cần “phèng la” chứ bảo rằng họ sẽ thao túng được cộng đồng như thời gian 1990 thì không có. Cộng đồng hiện giờ khôn ngoan hơn, trưởng thành hơn và internet giúp trong truyền thông nhiều hơn.

Hôm nay tôi muốn chỉ cho anh bạn thấy, hành vi của một cắc ké, fan VT: một cắc ké, A, không biết lý luận đã đeo theo tôi (chắc với mục đích làm tôi bị mỏi mệt, sẽ không còn thì giờ cho mấy vụ lớn hơn) nhưng tôi lờ. Một cô nường, B, lợi dụng là chỗ quen biết (quen chuyền chứ trước kia tôi không biết cô ta) cố tình buôn chuyện bằng cách đem lời A nói lại với tôi. Tôi cảnh cáo cô ta, B, và kể cho vài người bạn trong cộng đồng biết. Tôi phân tích cái post của A có 9 điểm ngu và tôi yêu cầu nhóm (receivers, trong đó có cô nường B) không được fw vì tôi không hưởn để chỉ cho A biết những cái ngu của anh ta. Sau đó, chả hiểu sao A có mail đó của tôi (không ai fw cả, có lẽ là chị B chăng?) và A trả lời tôi bằng cách cũng gửi thư cho nhóm receivers đó. Tôi nói vầy:

1) Người có giáo dục và tự trọng không bao giờ buôn chuyện bằng cách fw khi sender đã yêu cầu. Nếu B làm chuyện đó thì có lẽ B là người không được gia đình dạy dỗ chu đáo và B cũng không được hưởng một nền giáo dục VNCH cẩn thận.

2) Người được giáo dục VNCH, giáo dục của Mỹ, và có lòng tự trọng, không bao giờ nhận mail được fw lén từ một người. Nếu A nhận từ B và trả lời tôi thì giống vầy: núp lén sau hè nhà tôi, xem tôi mắng những gì, và khi được một kẻ trong bếp quăng ra thì vội vàng chớp lấy rồi ra ngoài đình la lên “ Tôi bị người ta chửi tôi ngu 9 cái và tôi trả lời đây”.

Do đó, tôi muốn nói cho anh bạn tôi biết rằng “Fans VT đa số đều ngu như thế cả. Người có tư cách và tự trọng, chỉ trả lời khi người khác chỉ trích mình, công khai lên tiếng giữa thanh thiên bạch nhật và giữa đình làng. Không ai ngu đến độ núp sau hè, lắng tai nghe người ta chửi mình trong bếp nhà người ta, rồi nhờ tay trong quăng ra cho chính xác, chớp lấy và đem ra đình làng phân bua cả”.

Trình độ như thế, lý luận như thế mà đòi “lão bà bà” đối thoại thì đúng là …quá ngu. (cười cười).

Nói nào ngay, cộng đồng thủ đô Hoa Thịnh Đốn tuy có fans VT nhưng “quý cụ” này cũng có lòng tự trọng của người VNCH cũ nên các cụ không lấy nick ảo chửi bới hạ cấp, ngôn ngữ thiếu giáo dục. Các cụ chỉ chụp mũ người khác ý kiến các cụ là tay sai CS thôi.

Thế nhé bạn của tôi, anh đã thấy được fans VT gồm loại gì rồi nhá.

Tại sao ô Lê Văn Hiếu cứ nín thinh thế nhỉ?

Thống đốc Nam Úc, ô Lê văn Hiếu có một thái độ không xứng đáng là người đã trưởng thành, là công dân Úc gì cả. Sau loạt bài với nhiều hình ảnh từ Hữu Nguyên, cá nhân tôi và vài người đã gửi thư đến mà ông ta không dám trả lời. Nội dung thư chỉ là xin ông Hiếu cho biết sự thực về nhân thân của ông, về câu nói của ông do báo vc trích đăng, về những “project” cho VNCS là tự ông đề đạt lên cấp trên hay cấp trên yêu cầu ông làm. Đơn giản Yes or No thôi mà. Ông toàn quyền hành động theo ý ông và tất nhiên chúng tôi cũng toàn quyền có thái độ của chúng tôi.

Nếu ông có gia đình là (có công với “cách mạng”), ông được (mang súng và làm kế toán năm 1975), khai dối với chính quyền Úc năm 1977 ( là ông tị nạn chính trị), là tự ông vận động chính quyền Úc để xây dựng kế hoach đưa du học sinh VNCS qua Nam Úc thì ông cứ tự nhiên làm theo con đường ông đã chọn. Về phía chúng tôi thì cộng đồng người Việt Tự Do sẽ không mời ông làm cố vấn, sẽ không giao thiệp với ông và sẽ nỗ lực phá vỡ kế hoạch đoàn ngũ hóa du học sinh VC ở Nam Úc của ông nếu có.

Chỉ thế thôi mà, ông Thống Đốc ơi! Ông can đảm lên chứ. Trượng phu, đầu đội trời Úc, chân đạp đất Úc, làm gì mà nhát dữ zậy! ( xin phép cười cười vì Hoàng Lan Chi thích chọc quê thiên hạ! ).

Hoàng Lan Chi

8/2016

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Thống Đốc Nam Úc ơi, can đảm lên chứ!

Một Rừng Hồi Ký

10 NGÀY CUỐI CÙNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HOÀ

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 CUỐI

HỒI KÝ THÉP ĐEN CỦA ĐẶNG CHÍ BÌNH

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14

15 16

VỤ TẬP KÍCH SƠN TÂY CỦA ĐẶC NHIỆM HOA KỲ GIẢI CỨU CÁC PHI CÔNG BỊ CỘNG SẢN BẮC VIỆT GIAM GIỮ

1 2 3 4 5 6 7 8

NHÂN VĂN GIAI PHẨM – THỤY KHUÊ

1 2 3 4 5 6 7 8 9

10 11 12 13 14 15 16 17

HỒ CHÍ MINH VÀ CÁI CHẾT OAN NGHIỆT CỦA CÔ VỢ BÉ NÔNG THỊ XUÂN

TỪ THỰC DÂN ĐẾN CỘNG SẢN – HOÀNG VĂN CHÍ

1 2 3 4 5 6

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC – HOÀNG VĂN CHÍ

1 2 3 4 5 6 7

HỒI KÝ BAO NỖI TANG THƯƠNG

1 2 3 4 5 6 7

HỒI KÝ NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG CỦA PHẠM GIA ĐẠI

1 2 3 4 5 6 7

HỒI KÝ NHẤT LINH CHA TÔI CỦA NGUYỄN TƯỜNG THIẾT

1 2 3 4

HỒ CHÍ MINH SINH BÌNH KHẢOCỦA HỒ TUẤN HÙNG

1 2 3

HỒI KÝ QUẦN ĐẢO NGỤC TÙ – CỦA ALEKSANDR SOLZHENITSYN

1 2 3 4 5 6 7

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN ĐƯỜNG BỘ

1 2 3 4 5 6 7

TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN VÀ TAY SAI


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 1112

BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG

1 2 3 4 5 6

HỒI KÝ 26 NĂM LƯU ĐÀY CỦA THƯỢNG TỌA THÍCH THIỆN MINH

1 2 3 4

HỒI KÝ CỦA BÀ TÙNG LONG

1 2 3 4

HỒI KÝ GIỮA ĐÊM TRƯỜNG CỦA NGUYỄN THỤY LONG

1 2 3

HỒI KÝ TÙ BINH VÀ HÒA BÌNH CỦA PHAN NHẬT NAM

1 2 3 4

HỒI KÝ ĐẠI HỌC MÁU CỦA HÀ THÚC SINH

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14

HỒI KÝ KẺ BỊ RÚT PHÉP THÔNG CÔNG CỦA NGUYỄN MẠNH TƯỜNG- KỲ 1

1 2 3 4 5 6

HỒI KÝ DẤU BINH LỬA CỦA PHAN NHẬT NAM

1 2 3 4

HỒI KÝ MỘT NGÀY GIÔNG TỐ CỦA TÂM PHONG

1 2 3 4

HỒI KÝ NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC CỦA TÂM PHONG

1 2 3

HỒ CHÍ MINH, CUỘC ĐỜI CỦA MỘT CON NGỰA HOANG CỦA WILLIAM DUIKER

1 2 3 4 5 6

HỒI KÝ NHỮNG NĂM THÁNG LƯU ĐÀY TRONG NGỤC TÙ CỘNG SẢN CỦA DUYÊN ANH

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ HOA XUYÊN TUYẾT CỦA BÙI TÍN

1 2 3 4

HỒI KÝ 7 NGÀY Ở CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ CỦA TRUNG ÚY NGUYỄN NGỌC ẨN

1 2

HỒI KÝ VỀ CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT: "BA NGƯỜI KHÁC" CỦA TÔ HOÀI

1 2 3 4

HỒI KÝ CÁT BỤI CHÂN AI CỦA TÔ HOÀI

1 2 3

HỒI KÝ GIẢI KHĂN SÔ CHO HUẾ CỦA NHÃ CA

1 2 3 4 5

HỒI KÝ MỘT CƠN GIÓ BỤI CỦA TRẦN TRỌNG KIM

1 2 3

HỒI KÝ BA PHÚT SỰ THẬT CỦA PHÙNG QUÁN

1 2 3 4

HỒI KÝ CHIỀU CHIỀU CỦA TÔ HOÀI

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ KHÔNG TÊN CỦA TÊN ĂN CƠM QUỐC GIA THỜ MA CỘNG SẢN LÝ QUÝ CHUNG

1 2 3 4 5 6

HỒI KÝ THÁNG BA GÃY SÚNG CỦA CAO XUÂN HUY

1 2

HỒI KÝ CỦA LOẠN TƯỚNG ĐỖ MẬU: VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI

1 2 3 4 5 6 7 8

CHẾT DƯỚI TAY TRUNG CỘNG

1 2

NHỮNG TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN ĐỐI VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VÀ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Video: TRUNG CỘNG: TỘI ÁC MỔ ĐÁNH CẮP NỘI TẠNG NGƯỜI

12 Videos: CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM 1954-1975: CUỘC CHIẾN TRANH KHÔNG TUYÊN BỐ

HỒI KÝ SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT CỦA DUYÊN ANH

1 2 3 4 KỲ CUỐI

HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

1 2 3 4 5 6 7 8 Kỳ Cuối

HỒI KÝ NGUYỄN HỘ

HỒI KÝ CỦA LOẠN TƯỚNG ĐỖ MẬU: VIỆT NAM MÁU LỬA QUÊ HƯƠNG TÔI

1 2 3 4 5 6 7 8

CHẾT DƯỚI TAY TRUNG CỘNG

1 2

HỒI KÝ NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC CỦA TÂM PHONG

1 2 3

HỒI KÝ MỘT NGÀY GIÔNG TỐ CỦA TÂM PHONG

1 2 3 4

NHỮNG TỘI ÁC CỦA CỘNG SẢN ĐỐI VỚI QUÂN CÁN CHÍNH VÀ ĐỒNG BÀO MIỀN NAM

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

KÝ SỰ TRONG TÙ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8

HỒI KÝ CỦA ĐẠI TÁ PHẠM BÁ HOA

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

Video: TRUNG CỘNG: TỘI ÁC MỔ ĐÁNH CẮP NỘI TẠNG NGƯỜI

12 Videos: CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM 1954-1975: CUỘC CHIẾN TRANH KHÔNG TUYÊN BỐ

HỒI KÝ SÀI GÒN NGÀY DÀI NHẤT CỦA DUYÊN ANH

1 2 3 4 KỲ CUỐI

HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

1 2 3 4 5 6 7 8 Kỳ Cuối

HỒI KÝ NGUYỄN HỘ

HỒI KÝ TRẦN ĐỘ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ ĐỒNG BẰNG GAI GÓC CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4

HỒI KÝ ĐẾN MÀ KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ

1 2 3

HỒI KÝ MẠNG NGƯỜI LÁ RỤNG CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN CỦA XUÂN VŨ

1 2 3 4 5

HỒI KÝ XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN CỦA XUÂN VŨ:

1 2 3 4 5 6 Kỳ Cuối

NHẠC SỸ TÔ HẢI – HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

1 2 3 4 5 Kỳ Cuối


HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

1 2 3 4 5 6 7 8 Kỳ Cuối


HỒI KÝ CỦA LINH MỤC CAO VĂN LUẬN:

BÊN GIÒNG LICH SỬ

1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15.

HỒI KÝ NGUYỄN HỮU HANH:

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

HỒI KÝ CỦA TRẦN QUANG CƠ

1. KỲ 1 2. KỲ 2 3. KỲ 3 4. KỲ CUỐI

HỒI KÝ TÔI ĐI TÌM TỰ DO CỦA NGUYỄN HỮU CHÍ:

1.0 KỲ 1 ĐẾN KỲ 20 2.0 KỲ 21 ĐẾN KỲ 40 3.0 KỲ 41 ĐẾN KỲ 60


4.0 KỲ 61 ĐẾN KỲ 80 5.0 KỲ 81 ĐẾN KỲ 95 6.0 KỲ 96 ĐẾN HẾT

HỒI KÝ VÕ LONG TRIỀU: MỐC LỊCH SỬ

.

1. KỲ 1 ĐẾN KỲ 10 2. KỲ 11 ĐẾN KỲ 20 3. KỲ 21 ĐẾN KỲ 30


4. KỲ 31 ĐẾN KỲ 40 5. KỲ 41 ĐẾN KỲ Hết


6.PHẢN HỒI CỦA DƯƠNG VĂN ĐỨC

Audio Book: THIÊN HỒI KÝ TRẠI KIÊN GIAM CỦA NGUYỄN CHÍ THIỆP

Audio Book: THIÊN HỒI KÝ THÉP ĐEN CỦA ĐẶNG CHÍ BÌNH

HỒI KÝ TÔI PHẢI SỐNG – LINH MỤC NGUYỄN HỮU LỄ

1. PHẦN 1 VÀ 2 2. PHẦN 3 VÀ 4 3. PHẦN 5 VÀ 6

4. PHẦN 7 VÀ 8

5. PHẦN 9 VÀ 10 6. PHẦN 11 VÀ 12 7. PHẦN 13 VÀ 14

8. PHẦN 15 VÀ 16

9. PHẦN 17 VÀ 18 10. PHẦN19 VÀ 20

11. PHẦN 21VÀ 22 12. PHẦN 23VÀ 24

13. PHẦN 25 VÀ 26 14. PHẦN 27 VÀ 28

15. PHẦN 29 VÀ 30 16. PHẦN 31VÀ 32

17. PHẦN 33 VÀ 34 18. PHẦN 35 VÀ 36

19. PHẦN 37 VÀ 38 20. PHẦN 39VÀ 40


21. PHẦN 41VÀ 42 22. PHẦN 43 VÀ 44


23. PHẦN 45 VÀ 46 24. PHẦN 47VÀ 48


25. PHẦN 49 VÀ 50 26. PHẦN TỘI ÁC CỦA BÙI ĐÌNH THI

HỒI KÝ ĐÊM GIỮA BAN NGÀY – VŨ THƯ HIÊN

Để thấy rõ thêm về bộ mặt thật của Hồ Chí Minh và Tập Đoàn Cộng Sản Việt Nam cũng như để hiểu rõ hơn về sự bịp bợm, mị dân qua cái gọi là GÓP Ý DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 của Bên Thắng Cuộc, kính mời quý vị đọc lại ĐÊM GIỮA BAN NGÀY của VŨ THƯ HIÊN:

1. CHƯƠNG 1 2. CHƯƠNG 2 3. CHƯƠNG 3 4. CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5 6. CHƯƠNG 6 7. CHƯƠNG 7 8. CHƯƠNG 8

9. CHƯƠNG 9 10. CHƯƠNG 10 11. CHƯƠNG 11 12. CHƯƠNG 12

13. CHƯƠNG 13 14. CHƯƠNG 14

15. CHƯƠNG 15 16. CHƯƠNG 16 17. CHƯƠNG 17 18. CHƯƠNG 18


19. CHƯƠNG 19 20. CHƯƠNG 20 21. CHƯƠNG 21 22. CHƯƠNG 22

23. CHƯƠNG 23 24. CHƯƠNG 24 25. CHƯƠNG 25 26. CHƯƠNG 26

27. CHƯƠNG 27 28. CHƯƠNG 28 29. CHƯƠNG 29 30. CHƯƠNG 30

31. CHƯƠNG 31 32. CHƯƠNG 32 33. CHƯƠNG 33 34. CHƯƠNG 34

35. CHƯƠNG 35 36. CHƯƠNG 36 37. CHƯƠNG 37 38. CHƯƠNG 38

39. CHƯƠNG 39 40. CHƯƠNG 40 41. CHƯƠNG 41 42. CHƯƠNG KẾT

BÊN THẮNG CUỘC

Phần I:

1. CHƯƠNG I 2. CHƯƠNG 2 A 3. CHƯƠNG 2 B 4. CHƯƠNG 3 5. CHƯƠNG 4

6. CHƯƠNG 5 7. CHƯƠNG 6 8. CHƯƠNG 7 9. CHƯƠNG 8 10. CHƯƠNG 9

11. CHƯƠNG 10 12. CHƯƠNG 11

Phần II

13. CHƯƠNG 12 14. CHƯƠNG 13 15. CHƯƠNG 14 16. CHƯƠNG 15 17. CHƯƠNG 16

18. CHƯƠNG 17 19. CHƯƠNG 18 20. CHƯƠNG 19 21. CHƯƠNG 20 22. CHƯƠNG 21

23. CHƯƠNG 22 24. QUYỀN BÍNH

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Một Rừng Hồi Ký