Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Lan Chi 2004-2013

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Lễ tưởng niệm Cô Đặng Kim Chi- GS Gia Long – Hiệu Trưởng Sương N guyệt Anh

Lễ tưởng niệm

Cựu Giáo Sư Gia Long,

Cựu Hiệu Trưởng Sương Nguyệt Anh,

Cô Đặng Kim Chi.

Ngày chủ nhật 15 tháng 3 năm 2015, một số cựu học sinh trường Gia Long đã tổ chức một buổi lễ tưởng niệm 5 năm ngày Giáo Sư Pháp Văn Đặng Kim Chi qua đời.

Nhà hàng Le Santal tại khu Opéra sang trọng, không xa Galerie Lafayette, từ 2 giờ trưa, đã mở rộng cửa cho lần lượt nhóm người gồm các cựu đồng nghiệp, các cựu học sinh, gia đình và thân hữu đến dự buổi lễ trang nghiêm nhưng thân mật và ấm cúng. Nhà hàng Le Santal không lớn lắm nhưng trang trí mỹ thuật và được xếp vào danh sách các nhà hàng ngon nhất ở Paris (les meilleures tables parisiennes). Ở giữa nhà hàng là bàn thờ Cô Kim Chi với dòng chữ Tưởng Niệm và hoa đèn trang trọng bên cạnh bức chân dung người quá cố.

Là Giáo Sư Pháp Văn, giảng dạy tại trường Gia Long và sau đó trở nên Hiệu Trưởng trường Sương Nguyệt Anh, Cô Đặng Kim Chi được học trò yêu thương và kính trọng . Cầm quyển « Tuyển Tập « (*) của Gia Long Âu Châu dành cho Cô, người đọc không khỏi ngỡ ngàng xúc động trước tấm lòng yêu thương tận tụy của nhóm học trò cũ đã thường xuyên viếng thăm chăm sóc khi Cô Kim Chi ngả bịnh hiểm nghèo mà Bác Sĩ không tìm ra được nguyên nhân. Người đọc cảm động vì không ngờ là ở thời kỳ internet và iPhone này mà tình nghĩa Thầy Trò còn thắm thíết chan hòa không mờphai theo ngày tháng. Có những học trò nhắc kỹ niệm dưới mái học đường nay đã hơn 40 năm với những dòng chân thành, cảm xúc. Có những đồng nghiệp viết khen tặng về nét đẹp cao sang, lịch sự, thanh nhả của một nữ giáo sư trẻ, tân thời trở về dạy học sau khi được tu học ở Pháp và lại có thêm nhiều tài nghệ khác nữa…

Dỡ từng trang của quyển Tuyển Tập này có những bức ảnh xưa, quả thật cô Kim Chi đẹp rạng rỡ, đài các nhưng nét mặt cô lại hiền lành, nhân hậu. Chắc chắn vì sự tận tâm dạy dỗ cộng với tính hiền lành cởi mở mà học trò cô, dù thời gian đã trôi qua, dù ruộng dâu đã trở thành biển cả, dù vật đã đổi sao đã dời, và các cô học trò bé nhỏ rụt rè của ngày xưa, nay đã trở nên những người vợ người mẹ với mái tóc bắt đầu điểm sương, nhưng tình nghĩa đối với vị giáo sư chân thành, tận tụy , vui vẻ, hòa đồng là Cô Kim Chi vẫn in đậm trong tân khảm, do đó hàng tuần họ hẹn nhau vào dưỡng đường chăm sóc Cô Kim Chi như chăm sóc người mẹ hiền :

Lệ Cô rơi em chậm.

Tay Cô cong em nắn.

Chân Cô mềm em xoa.

Buổi lễ tưởng niệm trong nhà hàng Le Santal, do nhã ý của nhà hàng cho mượn, không còn chỗ ngồi. Sau phần chào mừng quan khách và nhắc lại kỹ niệm với Cô cũng như nhắc lại truyền thống Gia Long được phát biểu bởi 3 cô học trò

là phần văn nghệ để tưởng nhớ Cô Đặng Kim Chi. Lần lượt các cô học trò cũ và một số thân hữu trình bày những bài nhạc đầy ý nghĩa như Cát Bụi, Lòng Mẹ ( Cô Kim Chi không có con nên các học trò xem cô như mẹ và có lẽ Cô cũng đã chuyên chở cả tấm lòng thương yêu trìu mến của Cô cho đám học trò, như một bà mẹ hiền hết lòng dạy dỗ con thơ). Có người hát bài Áo Lụa Hà Đông (Cô Kim Chi nổi tiếng là ăn mặc đẹp, vào những năm 60s cô đã là người đi tiên phong trong việc ăn mặc trang nhã với chiếc áo dài và quần cùng một màu ). Ngoài ra có màn đàn tranh, có 2 cô hát 2 bài vọng cổ thật mùi và 2 bạn trẻ chơi nhạc cổ điển Tây phương.

Vào phần cuối không khí trở nên sôi động, để trở về thời 60s, những bài nhạc Pháp được hát lên với sự hát họa theo của hội trường : Aline, La plus belle pour aller danser…

Buổi lễ tưởng niệm có sự hiện diện của phu quân Cô Kim Chi, Thầy Trần Minh Châm, tuy đã hơn 90 tuổi, ông vẫn còn phong độ trong bộ y phục “complet” tươm tất, vẫn còn dáng dấp uy nghi, lịch lãm của một cựu nhân viên ngoại giao VNCH được bổ nhiệm ở Tòa Đại Sứ VN tại Pháp trước 75. Điều mà mọi người khâm phục là khi Cô Kim Chi lâm bạo bịnh, ông ngày ngày vào chăm sóc từ miếng ăn đến trang phục để Cô không bị sa sút về ngoại hình . Một tấm gương chung thành, cùng nhau chia xẻ cay đắng ngọt bùi hiếm thấy.

Buổi lễ được tổ chức chu đáo, khách mời là những người trong gia đình, thân hữu và cựu học sinh . Khoảng ba giờ trưa chương trình ca hát bắt đầu, sau đó là phần giải lao, các cô Gia Long mời khách ăn uống thật ngon , chả giò dòn rụm, tôm chiên, bánh đút, xôi mặn… rồi trái cây, chè và bánh ngọt. Người tham dự vừa tưởng nhớ cô Kim Chi vừa được nghe nhạc hay, vừa được ăn ngon và tất cả đều miển phí. Không hiểu Hội Gia Long Âu Châu lấy ngân quỹ ở đâu… hay do các cô xuất tiền túi ra đãi khách.

Trong Tuyển Tập, Giáo Sư Nguyễn Lân có kễ về thành tích Cô Kim Chi khi được chỉ định của Trường Gia Long để diễn kịch, đóng vai Tướng Thúc Bột Đào đối diện với Thành Cát Tư Hản. Khi Cô vừa bước chân ra sân khấu, rạp Quốc Thanh vào thời đó, thì khán giả đã vổ tay ròn rã vì dáng dấp vị tướng giặc quá oai hùng, quá đẹp và “ăn đèn” . Cách diễn xuất thần của Cô cũng được tán thưởng nồng nhiệt. Một điều mà ít người biết là cô Kim Chi rất thích văn nghệ, Cô đã đở đầu cho ban nhạc trẻ thời đó “Les Fanatiques” (Những kẻ đam mê) có em trai Cô (tên Khiêm) chơi nhạc và cả nhóm đã thường dợt ở ngoài sân vườn nhà Cô, ngôi biệt thự bề thế ở số 6 đường Hồ Xuân Hương. Cái tên Les Fanatiques là do Cô đặt cho, vì là một giáo sư Pháp Văn, biết những người trẻ tuổi này đam mê âm nhạc, Cô đã dành danh hiệu đầy ý nghĩa đó tặng cho họ.

Dợt nhạc trong sân vườn nhà cô Kim Chi, số 6 đường Hồ Xuân Hương.

Điều này cho thấy Cô là môt người đi tiên phong nữa. Cũng như Cô đã tiên phong trong việc dàn dựng, tổ chức, sắp đặt cho trường Sương Nguyệt Anh vào lúc ban đầu, khi Cô được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng của trường này, để chỉ 2 năm sau, năm 1973, Cô phải từ chức để theo phu quân sang Pháp khi ông nhận nhiệm vụ mới ở Tòa Đại Sứ VN tại Paris.

Gia Long là một trường trung học nổi tiếng là đã đào tạo nữ sinh giỏi, đỗ đạt cao mà cũng dạy cho họ có cả Công Dung Ngôn Hạnh. Sự giáo huấn, công ơn dạy dỗ đó là do những Giáo Sư như Cô Kim Chi và các Thầy Cô khác. Học trò Gia Long đã không quên giáo sư đã giúp họ nên người, nên danh phận sau 7 năm dùi mài đèn sách. Truyền thống ghi nhớ ơn Thày Cô của họ thật đáng trân trọng. Ngày nay khó mà thấy những tấm lòng chân thật thương tiếc Thầy Cô như các nữ học sinh này. Quyển Tuyển Tập cũng có những dòng thơ mà Gia Long Âu Châu đã dùng để tiển biệt vị Giáo Sư yêu quí của họ :

Có còn đâu, giờ biết tìm đâu

Xót xa đời qua cuộc biển dâu

Hợp rồi tan, ly tan rồi hợp

Thầy ta, ta khóc có chi đâu.

Trời Paris ngày chủ nhật 15 tháng 3 năm 2015 chuốm lạnh lại nhưng là một cái lạnh nhè nhẹ dễ chịu, người tham dự lễ ra về lòng bùi ngùi trước những tấm lòng, không ngờ còn chan chứa tình người ở xã hội tân tiến, lạnh lùng, mạnh ai nấy sống như hôm nay.

Thanh Vân

(Paris, 20 tháng 3 năm 2015)

(*) Để có “Tuyển Tập” xin liên lạc với 2 địa chỉ này :

gl.auchaudm

glauchaueu

www.thienmusic.com

quachvinhthien

fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img

__,_._,___

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Lạng Sơn 1950 -tạp chí Life

Ảnh hiếm về Lạng Sơn năm 1950 trên tạp chí Life ...

Ảnh Lạng Sơn, chợ Kỳ Lừa, chân dung lính Tây ba lô… là những hình ảnh hiếm về Lạng Sơn năm 1950 do Carl Midans của tạp chí Life thực hiện.

Redsvn-Lang-Son-1950-01.jpg

altMột ngôi làng khang trang ở Lạng Sơn, với những ngôi nhà gạch, mái ngói.

Redsvn-Lang-Son-1950-02.jpg

Lính Pháp trên Quốc lộ 4 chạy dọc tuyến biên giới với Trung Quốc.

Redsvn-Lang-Son-1950-03.jpg

Người dân địa phương tò mò đứng nhìn khi một chiếc xe chở lính Pháp chạy qua.

Redsvn-Lang-Son-1950-04.jpg

Đồn biên phòng Chi Ma (huyện Lộc Bình, Lạng Sơn) sát biên giới với Trung Quốc.

Redsvn-Lang-Son-1950-05.jpg

Sĩ quan Pháp (ngoài cùng bên trái) và các binh sĩ người Việt ở đồn Chi Ma.

Redsvn-Lang-Son-1950-08.jpg

Trẻ em nhặt củi

Redsvn-Lang-Son-1950-09.jpg

Một ngôi chùa ở Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-10.jpg

Cầu bắc qua sông Kỳ Cùng, con sông duy nhất chảy ngược lên Trung Quốc theo hướng Bắc.

Redsvn-Lang-Son-1950-11.jpg

Người dân và binh lính qua lại trên cầu.

Redsvn-Lang-Son-1950-12.jpg

Dinh công sứ Pháp ở Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-35.jpg

Chân dung một tên lính Lê dương người Đức trong quân đội Pháp đóng tại Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-13.jpg

Ban quân nhạc Pháp diễn hành trên con đường chính của Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-14.jpg

Lính thủy Tây ba lô trên đường phố Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-16.jpg

Một góc phố trung tâm thị xã Lạng Sơn với nhiều cửa hàng.

Redsvn-Lang-Son-1950-15.jpg

Một hiệu ảnh nằm cạnh cửa hàng tạp hóa.

Redsvn-Lang-Son-1950-17.jpg

Khung cảnh bình dị trên một con phố.

Redsvn-Lang-Son-1950-34.jpg

Những người bán mía ở chợ Kỳ Lừa, ngôi chợ lâu đời nhất Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-19.jpg

Quầy bán nón.

Redsvn-Lang-Son-1950-20.jpg

Khu vực bán gạo.

Redsvn-Lang-Son-1950-21.jpg

Bé gái bóc củ đậu.

Redsvn-Lang-Son-1950-22.jpg

Hàng bán chai lọ.

Redsvn-Lang-Son-1950-24.jpg

Một nông dân người Tày thử chiếc lưỡi cày ở chợ.

Redsvn-Lang-Son-1950-25.jpg

Quầy sách báo cũ khá đông khách.

Redsvn-Lang-Son-1950-26.jpg

Trên đường làng.

Redsvn-Lang-Son-1950-27.jpg

Ngôi nhà đơn sơ ở vùng quê nghèo Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-33.jpg

Trẻ em nông thôn Lạng Sơn.

Redsvn-Lang-Son-1950-28.jpg

Thiếu nữ răng đen mã tấu dệt vải.

Redsvn-Lang-Son-1950-29.jpg

Một dinh thự bỏ hoang.

Redsvn-Lang-Son-1950-30.jpg

Giặt giũ ở cầu ao.

Redsvn-Lang-Son-1950-31.jpg

Cậu bé xay lúa.

Redsvn-Lang-Son-1950-32.jpg

Nghĩa trang tây ba lô ở Lạng Sơn.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

“Nổi” hay “Chìm”

Viết để tặng một người của thế hệ một rưỡi

“Nổi” hay “Chìm”

Hôm nay cuối tuần, dù “không hưởn” nhưng tôi cũng muốn nghỉ một chút và viết một tí. Chia sẻ và mong ước điều mình nghĩ có người đồng cảm để thay đổi. Chỉ thế thôi.

Hôm nay tôi muốn viết ngắn về “Nổi hay Chìm”.

Dường như tâm lý của đa số con người là thích “nổi”. “Chơi nổi” nghe: câu nói này không lạ với lỗ tai chúng ta.

Tuy vậy có một số người lại thích “chìm”.

Tìm hiểu vài nguyên nhân từ chính chủ nhân:

“thích kín đáo, không muốn bị soi mói, để làm việc mình muốn làm được lâu dài.”

“.. chọn chìm (thay vì nổi và ồn ào) để đảm bảo kéo dài đủ lâu và duy trì được mục đích.”

Nguyên nhân chính là sợ. Sợ bị soi mói, phê bình, chỉ trích. Tóm lại, những người này muốn con đường đi được bằng phẳng. Họ muốn được tự do “nói” và tạm thời ẩn, chờ dịp mới lộ diện. “Nói” ở đây là nói cái gì thích nói sau khi cân, đong, đo, đếm.

Cân xem điều đó nên nói không.

Đong xem điều đó nên nói theo liều lượng nào.

Đo xem điều đó nên phổ biến trong giới hạn nào.

Đếm xem điều nói đó sẽ thu hoạch để trong kho dự trữ ra sao.

Lý thuyết thì có vẻ đúng cho sự lựa chọn đó. Thực tế có vẻ hơi khác chút đỉnh.

Một, đời sống thay đổi từng giây nhất là trong thời đại net. Thiên thời, địa lợi cho việc “Nổi” bây giờ so với “Nổi” sau này, chưa chắc cái nào hơn cái nào.

Hai, tuổi nào cũng vậy, không cứ tuổi trẻ, cần “challenge”. Con đường đơn giản dẫn đến những mục tiêu thấp (tầm thường) và con đường khó khăn dẫn đến những đỉnh cao (mục tiêu lớn hơn).

Ba, mỗi vấp ngã của hiện tại là một thành công của tương lai. Mỗi chỉ trích là một lần mài cho con dao bén hơn.

Bốn, “nổi” bây giờ với “nhân hòa” từ những người của thế hệ Một, lớn tuổi hơn, kinh nghiệm nhiều hơn từ hai cuộc chiến, hai lần di cư, tấm lòng cho dân tộc đậm hơn, nên chăng? “Nổi” sau này khi thế giới không còn những con người trên, thiếu “vòng tay che chở”, có thể sẽ phải đối phó mệt mỏi hơn với lớp người thế hệ Một rưỡi, nên chăng?

Cá nhân tôi, rất thích câu chuyện “Who Move My Cheese”, vì thế tôi không chọn “Chìm” mà tôi thích vớ tất cả để “nổi”. Dường như tư cách, trình độ của một “leader” của Hoa Kỳ được đào tạo ngay từ thuở còn thơ?

Hoàng Lan Chi 3/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Vũ Đức Nghiêm “nịnh” chứ không “dê” Lan Chi!

Hôm qua tôi gửi bài đăng trong báo Bút Tre “Năm Dê nói chuyện con trai dê con gái”. Vài giờ sau tôi nhận mail dễ thương từ Vũ Đức Nghiêm. Anh viết vầy:

HLC ơi, Congrats rất nhiều. Bài viết làm ông gìa 85 đọc say mê. Cho nên người ta (ông vua nhà Nguyễn) có câu:

Văn như Lan Chí vô Tiền Hán

Thi đáo Quỳnh Giao thất Thịnh Đường

Đó là "nịnh" Lan Chi chứ không phải “dê” đâu. Vũ Đức Nghiêm (Phải thêm dấu sắc cho Lan Chi thành Lan Chí để không bị thất niêm)

Tôi bật cười khi đọc.

Vũ Đức Nghiêm là một nhạc sĩ có tâm hồn quá trẻ. Quá trẻ nên anh mới thích bài viết của tôi. Có lẽ nó gợi lại cho anh những kỷ niệm của thời trai trẻ. Tôi đoán rằng có lẽ ngày đó anh có đủ mọi chiêu “dê" mà tôi kể. Từ trường phái “Anh theo Ngọ về” đến trường phái dụ dỗ bằng thơ nhạc. Tôi đoán rằng có lẽ hồi ấy anh cũng “lăng nhăng” ghê gớm lắm! Này nhé, mặt mũi khá là “bảnh trai” lại có tâm hồn văn chương ướt át, cộng thêm ngón đàn thì cũng dễ dụ phụ nữ, phải không? Ngoài ra,Vũ Đức Nghiêm là người khéo “nịnh” phụ nữ vô cùng kể. Không nhớ tôi quen anh vì sao nhưng anh là người nhạc sĩ mà tôi phỏng vấn đầu tiên vào năm 2004. Vũ Đức Nghiêm có giọng nói ấm áp, rất hay. Anh là “big fan’ và là fan rất trung thành của Hoàng Lan Chi. Tôi còn nhớ năm 2004 khi tôi mới định cư Virginia, NĐT có giới thiệu cho bà chủ nhiệm Cỏ Thơm nhưng chị không chú ý. Lý do, chị không hay lang thang net (net vào năm 2004 chưa phát triển và phổ biến như sau này) nên chưa đọc bài viết nào của HLC cả. Sau đó chị liên lạc với tôi chỉ vì “Nghe Vũ Đức Nghiêm ca tụng văn Hoàng Lan Chi quá xá!”. Anh Nghiêm thích đọc văn và thơ của tôi. Cái gì Hoàng Lan Chi viết cũng được anh khen cả. Cái đáng yêu của Vũ Đức Nghiêm là anh xem tôi như em bé. Có khi anh gọi tôi là “bé”. Lúc đó “bé Lan Chi” đã 55 tuổi đời!

Còn tôi, tất nhiên như đa số học sinh của thế hệ tôi, biết Vũ Đức Nghiêm là từ khi Thanh Lan hát “Gọi Người Yêu Dấu”, có lẽ khoảng 1970 gì đó. Câu hát mà tôi thích nhất trong bài là “Thương em mong manh như một cành lan”. Sau này anh kể lại: nhân vật xưa hỏi rằng “bây giờ tuổi già và em như củ khoai anh còn thương không” và anh nói "chả dám thương em mong manh như một củ khoai!".

Cách đây hai tháng tôi được nghe một người hát bài này và điều đặc biệt làm tôi …buồn cười mà ráng nín vì “chàng ca sĩ” hát tới đâu và chàng diễn tả tới đó. Ví dụ, “thương yêu ngón tay ngà xinh xinh” chàng nắm bàn tay tôi. Hay “thương yêu vòng tay ghì siết ân tình", chàng ôm hai vai tôi. Giê su ma lạy chúa tôi, bàn tay Hoàng Lan Chi làm sao mà “ngà xinh xinh” được? Bởi thế tôi bảo ráng nín cười là vậy! À, cái này là chàng ca sĩ tài tử nghe và nếu như chàng có nắm tay hay ôm vai thì ngoài chàng ra, chỉ có “đương sự” là tôi biết thôi nhé.

Sau này Vũ Đức Nghiêm có một số bản nhạc mới hay. Một trong các bài đó là “Giòng Sông Thơ Ấu”. Xin click và nghe tại đây: Vũ Đức Nghiêm -Giòng Sông Thơ Ấu

Anh Nghiêm ơi, em mong rằng anh sẽ là cụ già trăm tuổi và vẫn minh mẫn như bây giờ. Để làm gì anh biết không? Để mỗi khi Hoàng Lan Chi viết văn hay làm thơ, sẽ có Vũ Đức Nghiêm vỗ tay khen chứ.

Ơ mà anh chưa bao giờ viết nhỉ

Cho cô em anh yêu mến đã mười năm

Bắt đền anh, chiều hôm nay nắng đẹp

Bỗng chợt buồn vì …hỏng có nhạc cho em!

Hoàng Lan Chi 3/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Vũ Đức Nghiêm gọi “yêu dấu” cho người tình một thuở và cả người tình muôn thuở

Bài này trích từ mục “ Trò Chuyện với Lan Chi” của Nguyệt San Bút Tre (Arizona ).

Hình ảnh do nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm gửi cho Lan Chi, trích từ youtube và tạp chí Cỏ Thơm. Xin vui lòng ghi rõ Nguồn nếu trích đăng.

Vũ Đức Nghiêm gọi “yêu dấu” cho người tình một thuở và cả người tình muôn thuở

“Nếu thuở ấy, gọi người yêu dấu, một đóa lan xứ sương mù Đà Lạt thì 40 năm sau, nhạc sĩ dâng một đóa hồng cho người bạn đời yêu dấu ở thung lũng hoa vàng. “Yêu dấu ngày xưa” chỉ còn trong kỷ niệm, “yêu dấu bây giờ” là gắn bó trăm năm. Một đời sống cho âm nhạc, người tình và người vợ, Vũ Đức Nghiêm trung thành với tất cả và gọi yêu dấu cho hết thẩy”.

(trích Hoàng Lan Chi năm 2009)

Cách đây nhiều năm, một trong những người đầu tiên mà Hoàng Lan Chi phỏng vấn vào 2004 là Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm. Ngày ấy chỉ phát thanh chương trình trên làn sóng của đài phát thanh và tôi chưa phổ biến net vì anh Nghiêm không gõ được bài.

Năm 2011 vừa qua, Hoa Thịnh Đốn tổ chức “Vũ Đức Nghiêm nửa thế kỷ viết âm nhạc” do Cỏ Thơm bảo trợ. Một hình ảnh khiến tôi xúc động là chủ đề thuần tuý âm nhạc nhưng vẫn chào cờ và hát quốc ca Việt Nam Cộng Hòa. Một hình ảnh khác làm tôi xúc động hơn nữa là nhạc phẩm “Cờ Vàng tung bay” của anh Nghiêm được đồng ca trên sân khấu với sự phụ hoạ của cử toạ khán giả ở dưới. Anh Nghiêm được người em dìu lên sân khấu và cùng hát chung. Một “rừng nhỏ” cờ vàng trong thính phòng của tình ca Vũ Đức Nghiêm, không cảm động sao được!

Cờ vàng tung bay trong chiều nhạc Vũ Đức Nghiêm ở DC 2011. Hình Cỏ Thơm magazine.

Anh Nghiêm hơn tôi nhiều tuổi. Đó là lý do anh coi cả tôi và ca sĩ Thanh Lan như em bé. Nói đến hai cô em gái (chắc chắn là …còn rất nhiều em gái khác nhưng tôi tạm khoanh vùng nho nhỏ ở đây vì hôm ấy anh trò chuyện với tôi và có nói đến Thanh Lan) là anh gọi “cô bé”. Đối thoại thì cũng có khi “Bé ơi”. Tôi không biết Thanh Lan nghĩ gì nhưng với cá nhân tôi thì chẳng có gì phiền hà. Nghe anh gọi “cô bé” còn thấy “vui vui” là khác. Được trở về dòng sông tuổi nhỏ thì ai mà chả mơ ước phải không nào.

Đam mê âm nhạc có lẽ từ thuở sơ sinh nên anh kể rằng thuở bé dù chỉ được bố mua cho cây “harmonica” nhưng anh rất say sưa với nó. Không được học nhạc với ai cả nhưng cứ nghe người khác rồi tự mầy mò học qua sách vở. Bản nhạc đầu tay anh viết vào năm mười sáu tuổi cho cô bé cùng làng chứ không cùng xóm. Nàng ở đầu đình và chàng ở cuối thôn. Rung cảm đầu đời ấy còn ghi đậm cho nên dù đã gần 80, Vũ Đức Nghiêm vẫn còn nhớ và anh say sưa hát cho tôi nghe. “Đâu còn ngày xưa, ngoài bến mây mịt mù, chiều vu vi hơi thở lướt bay trong chiều thu, bến mây còn đâu dưới chân mơ hồ, gió mây đưa hồn ta về đâu..”.

Từ nốt nhạc với mây, với chiều thu, với bước chân mơ hồ đã cho thấy tâm hồn Vũ Đức Nghiêm ướt dẫm tình ca từ thuở chào đời. Thế nhưng số phận đẩy đưa cho anh viết một ca khúc hành quân vào năm 1953 sau anh nhập quân ngũ, khoá 1 Nam Định vào 1951. Bài hát này được anh tập luyện cho Đại Đội 4 của mình. Anh kể về kỷ niệm xưa bằng một giọng hào hứng “Ngày đó, khi được hỏi đại đội nào kỷ luật nhất thì 100 thằng lính la lên: Đại đội 4. Đại đội nào chiến đấu hăng hái nhất, Đại đội 4. Đại đội nào thương dân, yêu dân nhất, Đại đội 4. Rồi sau đó cả đại đội cùng hát: “Hôm nay ta là quân, mai đây ta là dân”. Ông đội trưởng của mình nói: “Ông Nghiêm chỉ xui lính làm dân thôi.” Mình nói: “Thưa tiểu đoàn trưởng, hôm nay lính là quân thì cố gắng chiến đấu để ngày mai hòa bình trở về làm dân”

Sau đó khi đổi sang sư đoàn 3, thì anh đã viết “Sư đoàn 3 dã chiến” rồi thừa thắng xông lên vào năm 1958, Vũ Đức Nghiêm viết “Sư đoàn 22 hành khúc”. Đến năm 1967 thì anh viết “Sư đoàn 23 hành khúc”. Xem ra cuộc đời quân ngũ đã tạo hứng khởi cho Vũ Đức Nghiêm viết các ca khúc quân hành và anh vô cùng hãnh diện khi được đứng trên khán đài nghe Ban Nhạc Sư Đoàn trổi ca ca khúc của mình và đồng đội đang diễn binh ở dưới. Lúc đó, Vũ Đức Nghiêm chỉ mới ngoài đôi mươi!

Về tình ca thì những năm của thập niên 60, Vũ Đức Nghiêm viết cũng khá nhiều nhưng có lẽ nhạc phẩm đã đưa anh lên “vinh quang” và gắn liền với tên tuổi mình chính là bài “Gọi người yêu dấu”. “Người yêu dấu” này đã được Vũ Đức Nghiêm bật mí trong cuốn sách nhỏ “Vũ Đức Nghiêm anh tôi” của nhà văn Vũ Trung Hiền. Đó là vào khoảng 1968, một người bạn gửi gấm một cô bạn của anh ta cho Nghiêm. Cô này có bầu vài tháng. Coi như đó là người đẹp đi tị nạn “bầu bì”. Ngày xưa, mỗi khi bị nạn kiểu đó các cô gái thường bị gia đình “tống” cho đi ở thật xa, thật hoang vắng cho đến khi sinh nở xong thì lại trở về để dấu mọi người về cái bầu. Vì thế vào thời đó mỗi khi thấy cô nào “bặt tăm” vô cớ, chúng tôi thường suy đoán “chắc lại trốn đi đẻ” rồi!

Khi ấy Vũ Đức Nghiêm đang được giao nhiệm vụ trông coi một số biệt thự ở Đà Lạt. Cô gái trẻ mắc nạn được anh chăm sóc chu đáo. Ban đầu chỉ là bổn phận giúp bạn, chỉ là cảm thương cảnh ngộ giai nhân phải đi trốn nhưng sự gặp gỡ hàng ngày và “hình dáng mong manh” của người đẹp đã khiến Vũ Đức Nghiêm không cầm lòng được. Khung cảnh thơ mộng xinh đẹp của Đà Lạt hẳn cũng góp phần vào mối tình có lẽ “không giống ai” này! Sau khi cô bé sinh nở mẹ tròn con vuông, cha mẹ cô đem cô về và đôi ngả chia ly từ đó. Mỗi chiều nhìn trời Đà Lạt, nghe rừng thông vi vu, mỗi gốc cây bụi cỏ đều gợi nhớ cho Vũ Đức Nghiêm về “cành lan mong manh”. Trong sự xúc động của nỗi nhớ nhung người tình ấy, Vũ Đức Nghiêm viết “Gọi người yêu dấu”.

Năm 2005, trong đêm nhạc “Vũ Đức Nghiêm nửa thế kỷ viết ca khúc” tổ chức ở Orange County, nhà báo Bùi Bảo Trúc đã bày tỏ “Người ta nói đằng sau sự thành công của người đàn ông là bóng dáng một người phụ nữ. Còn ở đây chúng tôi xin sửa lại chút xíu, đằng sau mỗi ca khúc thành công là …sự bao dung của người phụ nữ. Thưa chị Vũ Đức Nghiêm, chúng tôi xin cảm ơn sự bao dung của chị vì nếu không có sự bao dung độ lượng ấy thì ca khúc này đã không được chào đời và chúng tôi đã thiệt thòi biết bao vì không được nghe, được hát một nhạc phẩm dễ thương như thế”. Cả hội trường vỗ tay! Tôi cũng xin được vỗ theo. Vâng, nhạc phẩm thật dễ thương với giai điệu nhẹ nhàng, lướt thướt và nói như Bùi Bảo Trúc thì thuở ấy mọi người thích mê tơi vì “Thuở ấy, đa số sinh viên học sinh nghe Gọi người yêu dấu là thấy thích quá, sướng quá. Không gì thích bằng khi được gọi người yêu của mình nhưng gọi xong rồi dấu biệt như Vũ Đức Nghiêm thì ..”.

Bùi Bảo Trúc “ Xin cảm ơn chị Nghiêm. Nhờ sự độ lượng của chị mà….”

Tôi thì yêu lời nhạc “thương em mong manh như một cành lan”. Thương người tình mong manh như cành lan, quả là một ý tưởng hay và dễ thương. Vũ Đức Nghiêm bật cười khi nghe tôi hỏi “Thế cành lan mong manh ấy bây giờ ra sao?”Anh trả lời “Lan Chi ơi, cô ấy viết cho anh thế này, ngày xưa anh thương em mong manh như một cành lan còn bây giờ em mong manh như một củ khoai thì anh có thương em không”! Tôi dí hỏi tiếp, Vũ Đức Nghiêm cười lớn “Ai mà dám thương em mong manh như một củ khoai!” rồi anh tiếp “Đùa thôi Lan Chi ạ. Chuyện ấy đã xa mờ. Phải nói bà xã anh là người rất độ lượng. Anh bay bướm nhưng chị vẫn chung thuỷ cùng anh. Bao năm tù tội, chị ở nhà nuôi con thay anh và vẫn chờ anh. Nói như cố nhạc sĩ Hiếu Anh, trong cơn lốc cuồng bạo của thời cuộc, bao giềng mối gia đình đã bị Việt cộng cố tình phá huỷ thì khi người lính trở về, không gì quý báu bằng hình ảnh người vợ tựa cửa chờ mong.”

Tôi hoàn toàn đồng ý điều đó. Những người vợ lính của quân đội chúng ta vẫn chờ chồng là những tấm gương vĩ đại nhất tượng trưng cho sự chung thuỷ và lòng bao dung của người phụ nữ Việt Nam. Vũ Đức Nghiêm cũng như nhiều “người lính viết nhạc” khác, những nốt yêu thương đã vang lên thánh thót trong chuỗi ngày còn lại để bản tình ca cuối cùng là “Đoá hồng cho người yêu dấu”. (Nhạc phẩm Vũ Đức Nghiêm viết cho vợ)­­.

Năm 2009, khi thực hiện một chương trình âm nhạc cho Vũ Đức Nghiêm, tôi đã viết như sau “Nếu thuở ấy, gọi người yêu dấu, một đóa lan xứ sương mù Đà Lạt thì 40 năm sau, nhạc sĩ dâng một đóa hồng cho người bạn đời yêu dấu ở thung lũng hoa vàng. ‘Yêu dấu ngày xưa’ chỉ còn trong kỷ niệm, ‘yêu dấu bây giờ’ gắn bó trăm năm. Một đời sống cho âm nhạc, người tình và người vợ, Vũ Đức Nghiêm trung thành với tất cả và gọi yêu dấu cho hết thẩy”. Vâng, Vũ Đức Nghiêm đã gọi “yêu dấu” cho hết thẩy nhưng đoá hồng tượng trưng cho tình yêu thì anh gửi tặng người vợ hiền.

Năm 2011, tại “Chiều nhạc Vũ Đức Nghiêm” ở Hoa Thịnh Đốn, anh đã âu yếm trao tặng lại bó hoa cho chị. Nhìn hình ảnh hai anh chị bên nhau, anh đã ngoài 80, chị trên 70, dìu nhau lên sân khấu thật cảm động.

Vũ Đức Nghiêm “tạ tình em”. Giọt nước mắt tri ân và đoá hồng cho người yêu dấu

(hình Cỏ Thơm magazine-Phan Anh Dũng-2011)

Người ca sĩ mà Vũ Đức Nghiêm bảo rằng anh vô cùng tri ân là “bé Thanh Lan”. Có gì đâu, như là một định mệnh dun dủi cho Thanh Lan vào năm 1969 khi cô hỏi Vũ Đức Nghiêm sáng tác mới và Nghiêm gửi “Gọi người yêu dấu” cho cô. Giọng hát nhẹ nhàng, học trò lúc ấy của Thanh Lan đang được giới học sinh sinh viên mến mộ. Mến mộ vì dáng dấp thanh mảnh của Thanh Lan, vì đôi mắt biết nói, vì cử chỉ duyên dáng và cả vì Thanh Lan đang là sinh viên Văn Khoa. “Gọi người yêu dấu” nhanh chóng chiếm được cảm tình của người thưởng ngoạn chứ không phải chỉ giới học trò. Ai trong rất nhiều ca sĩ của các thập niên 60 và cả 70 mà chưa từng một lần “Gọi người yêu dấu xa vời, mà lòng se sắt bồi hồi..”?

Vũ Đức Nghiêm tặng hoa cho Thanh Lan ( Đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm Orange County 2005)

*****************

Trong thời gian tù tội Vũ Đức Nghiêm vẫn sáng tác nhạc. Tôi tò mò hỏi anh sáng tác thế nào, Vũ Đức Nghiêm kể “Cứ một câu mình hát đi hát lại 10 lần cho thuộc rồi mình viết thêm nốt nhạc. Hát 10 lần chưa thuộc thì hát 20, 30, 40…100 lần . Đến lúc nó vào memory mới thôi.”. Thế nhưng những nhạc phẩm trong tù đó lại là những cái “vinh danh Thiên Chúa”. Có lẽ sự tan rã bất ngờ của quân đội, sự bức tử một chế độ và sự tù tội vô lý vô nghĩa đã làm Vũ Đức Nghiêm cảm thấy gần gũi với Thiên Chúa chăng.

Dù vậy khi định cư ở Thung Lũng Hoa Vàng thì Vũ Đức Nghiêm cũng sáng tác trở lại một số tình ca. Một trong những bài tình ca sau này của Nghiêm mà tôi thích là “Mùa xuân Thung lũng hoa vàng”. Giai điệu vui nhẹ nhàng, có lẽ “nhẹ nhàng” là “trade mark” của Vũ Đức Nghiêm thì phải vì tôi chả bao giờ quên được những lần trò chuyện qua điện thọai với anh, lúc nào cũng rất nhẹ nhàng. Lời nhạc của “Mùa xuân Thung lũng hoa vàng” không cao sang, bóng bẩy nhưng cũng không quá giản dị hay vô nghĩa như vài sáng tác mới sau này. Tuy thế một nhạc phẩm tình khác của Vũ Đức Nghiêm có chút gì đó “cao sang” chính là “Dâng Tình” mà Bích Liên hát rất tuyệt.

Nếu như không đổi đời thì hẳn kho tàng âm nhạc Việt Nam sẽ phong phú hơn với những tình ca lãng mạn của Vũ Đức Nghiêm cho những năm sau 75 vì như nhà thơ Cao Tiêu (Đại Tá Hoàng Ngọc Tiêu, Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến- trong Đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm ở Orange County 2005) kể “Thiếu uý Vũ Đức Nghiêm, Khoá 1 Nam Định xin trình diện Đại đội Trưởng Hoàng Ngọc Tiêu; nhưng ngó lên thì chả thấy ba lô súng ống đâu mà chỉ là cây đàn! Nhưng ngay tối đó Hoàng Ngọc Tiêu và Vũ Đức Nghiêm đã đấu trí với Việt Cộng bằng chính khả năng ngôn ngữ của mình thay cho nòng súng”. Vâng, người lính viết nhạc ấy chắc chắn sẽ còn cống hiến nhiều tình ca hơn cho âm nhạc quê hương nếu như không “Tháng Ba Gãy Súng”!

Nhà thơ Cao Tiêu (Cục Trưởng Cục Tâm Lý Chiến)2005 kể về Vũ Đức Nghiêm.

Nhìn lại, ngôn ngữ nhạc đã được Vũ Đức Nghiêm dâng tặng cho mọi người mà anh yêu dấu. Từ người tình một thuở đến người tình trăm năm và cả bằng hữu chung quanh.

Xuân Nhâm Thìn, Hoàng Lan Chi gửi đến anh bài viết này như một đoá hồng của sớm mùa xuân cho “Gọi người yêu dấu”.

Hoàng Lan Chi

Chương trình âm nhạc “ Vũ Đức Nghiêm với Đóa Hồng cho người yêu dấu do Hoàng Lan Chi thực hiện năm 2009. Xin click vào đây để nghe, gồm:

1-Các phát biểu của Bùi Bảo Trúc, Vũ Đức Nghiêm, nhà thơ Cao Tiêu, nhạc sĩ Thanh Trang, Thanh Lan, Lê Hữu.

2-Và các giọng hát: Tuấn Ngọc, Nguyễn Hoàng Hương, Bích Liên, Vũ Trung Hiền, Thanh Lan, Thanh Trang, Phạm Anh Dũng..

http://thuvientoancau.org/HoangLanChi/NhacChuDe/VuDucNghiemMoiDoiGNYD.mp3

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Năm Dê nói chuyện con trai “dê” con gái

LGT: Nhân năm Dê, cô chủ nhiệm "dễ thương", Mộng Tuyền, nguyệt san Bút Tre AZ, đề nghị tôi kể chuyện con trai ngày xưa "dê" con gái như thế nào. Mộng Tuyền cho rằng tôi hay viết dí dỏm thì chắc vui lắm. Thú thật, viết dí dỏm thì cũng có nhưng gốc của tôi là "nhà giáo" nên những đề tài thuộc loại "khôi hài" thường không phải là sở trường của tôi. Sau nữa, ngày xưa tôi cũng không thuộc loại con gái tung tăng đường phố (!) nên kinh nghiệm về những vụ con trai "dê" con gái, tôi cũng hơi mù tịt. Tôi đã gửi mails phỏng vấn vài ông bà nhưng mấy lão niên này nhất định không kể và còn bảo "Sống để dạ chết đem theo!". Chả hiểu bí kíp "dê" của ông cụ này như thế nào mà giấu kỹ thế!

Mời xem vài mẩu nho nhỏ từ kinh nghiệm rất ít ỏi của Hoàng Lan Chi trong lãnh vực này và nếu được thì quý bạn kể cho tôi nghe kinh nghiệm "dê’ và "bị dê" của các bạn nhé.

Hoàng Lan Chi

*************************

Trích NS BútTre số tháng 1-2-15

Năm Dê nói chuyện con trai “dê” con gái

“Dê” là cách nói của người miền Nam, ám chỉ một người con trai theo đuổi, tán tỉnh một người con gái. Nhân năm Dê, nhớ lại những chuyện “dê” ngày cũ. Tôi có đề nghị một vài ông kể lại những “chiêu” dê của họ nhưng ông nào cũng lắc đầu quầy quậy “Anh chả, anh chả”. Có ông còn viện cớ “Sống để dạ chết đem theo” nữa cơ. Có vẻ các ông tướng này ngày xưa “dê không giống ai” nên không dám thổ lộ chăng? Nếu thế thì Hoàng Lan Chi đành làm ngược lại là hồi tưởng lại qua “nạn nhân bị dê” là …chính mình và bạn gái của mình vậy. Mà như thế thì phải khoanh vùng lại khá hẹp. Lý do là HLC và nhóm bạn gái của mình ngày xưa thường là “ngoan nhất nước, con nhà lành nhất nước”. Ấy, sở dĩ “ngoan nhất nước” là vì bị ba tầng áp bức đấy thôi. Tầng một là gia đình, tầng thứ hai là học đường và tầng thứ ba là xã hội. Ngoan như thế và chỉ lo học thôi nên nhóm con gái như tôi hồi xưa không hề biết nhảy nhót, “bum” biếc là gì. Sau nữa, đa số các ngôi trường trung học công của VNCH thời xưa không cho trai gái học chung. Vì thế mà sân trường đại học hay các thư viện chính là môi trường để các chàng thả “dê”.

Ngày xưa, có nhiều loại “thả dê” khác nhau. Loại thứ nhất cũng khá dễ thương. Họ chỉ lẳng lặng đi theo sau một người con gái mà họ thích. Đi theo và có khi chả nói gì. Thế là các cô bạn bèn đặt tên như thế này: cái đuôi. Chính hình ảnh đi theo lặng lẽ đó đã được nhà thơ Phạm Thiên Thư viết rồi PD phổ nhạc và “Ngày Xưa Hoàng Thị” đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của giới học sinh, sinh viên thời đó.

Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ

Ôm nghiêng tập vở tóc dài tà áo em bay..

Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám

Tuổi của ngàng tôi nhớ chỉ mười ba

(Thơ Nguyên Sa)

Bây giờ mà đi theo kiểu đó thì chắc sẽ bị kêu là thần kinh! Một cô em họ mail cho HLC như vầy “Mẹ em kể ngày xưa ra đường là mỗi ngã tư đều có người đứng đợi. Tụi em nói rằng bây giờ mà thấy vậy thì tụi em đoán chắc thằng cha này điên hay thất nghiệp nên mới đứng đường như vậy.”

Những chàng theo trường phái “Em tan trường về, anh theo Ngọ về” thường là những người nhút nhát, ít nói. Tuy vậy sác xuất thành công cũng không thấp. Sau một thời gian lẽo đẽo có khi nàng cảm động và đáp trả không chừng.

Ngược với trường phái trên là trường phái “nham nhở”. Hoàng Lan Chi đặt như vậy vì đây là những ông tướng bạo mồm bạo miệng và phát ngôn nhặng xị có khi “nham nhở”. HLC còn nhớ một ông tướng hồi đó hay trêu HLC như sau: khi gặp HLC trong sân trường thì ông ta ong ỏng:

Trúc xinh trúc mọc bờ mương

Giao xinh Giao đứng trong trường cũng xinh

Còn “nham nhở” là gặp người ta cứ sán lại nói ba hoa chích chòe, nổ như bắp rang. Tôi không hạp với loại này và dường như các bạn gái của tôi ngày xưa cũng không hề thích các vị “nham nhở” ấy.

Một trường phái khác là không đi theo câm nín, cũng chẳng bạo mồm hay nham nhở mà cứ bình thản đi bên cạnh. Dường như trước sự im lặng có vẻ hơi “ngu ngu” của trường phái “đi theo Hoàng thị”, trước sự ồn ào của trường phái “nổ” thì có vẻ nhóm thứ ba này đạt thành công nhiều hơn hết thẩy.

Nhóm này khá kín đáo. Họ có thể thích một cô nào đó và không hề “show” lộ liễu. Họ thường chọn lại gần lúc cô có một mình và không bị bao quanh bởi nhóm bạn gái “nhiều chuyện”. Đề tài nói chuyện của họ nghiêng về văn học nghệ thuật nhiều hơn. Mở ngoặc một chút, những “cu cậu” chưa đến tuổi trưởng thành, còn mê thể thao thì có vẻ sự đam mê quả bóng hay quả tạ nhiều hơn nỗi mê đi “dê” con gái. Trở lại vấn đề, vì là đề tài văn học nên các cậu này chịu khó thuộc thơ lắm. Đôi khi các cậu lại còn thuổng thơ người khác tặng cho nàng. Tôi còn nhớ hồi xưa có một chàng thuổng thơ của một tác giả và chép tặng cho tôi như vầy:

Em có biết đường đến trường mấy ngả

Con đường nào anh đếm bước nhiều hơn

Gốc cây nào anh thường quen đứng đợi

Nhớ nhung gì khi bóng ngả hoàng hôn

Hồi đó, tôi ngây thơ cứ nghĩ là thơ của chàng nên tôi họa lại như sau:

Em vẫn biết đường đến trường nhiều ngả

Đường không em anh đếm bước nhiều hơn

Gốc me tây anh thường quen đứng đợi

Nhớ em nhiều khi bóng ngả hoàng hôn

Bên cạnh đề tài văn học để ra điều ta đây có tâm hồn sâu sắc thì các cậu hay lấy lòng nàng bằng việc chăm chỉ ghi danh hộ cho nàng, hoặc cho nàng mượn “cours”. Ngày đó, mỗi đầu niên học sinh viên phải chen chúc nhau ghi danh và thời gian chờ đợi có khi khá lâu. Một vài cậu thường xung phong làm phụ Phòng Học Vụ mỗi mùa ghi danh. Vì thế, khi thoáng thấy một bóng hồng nào đó đang con nai vàng ngơ ngác trước đám đông ghi danh thì mấy cậu này khôn lắm, chạy ra đến bên cạnh và lấy hồ sơ của nàng vào làm dùm. Nội một việc nho nhỏ như thế là cũng đủ cho nàng cảm động rồi. HLC nhớ hồi đó mình cũng đang ngơ ngác nai vàng trước cửa sổ phòng Học Vụ thì một ông tướng ngồi trong thấy và chàng kêu to “Cô bé kia đưa hồ sơ đây”. Mình sướng quá đưa ngay và ấp úng “Tôi vào giảng đường B học Hữu Cơ, anh cứ giữ dùm, cuối giờ tôi lấy nhé”. Ấy thế mà giữa chừng có lẽ chàng đã làm xong và phải về hay sao không biết mà chàng ta ôm hồ sơ của tôi đi ngang giảng đường B nhìn nhìn tìm tôi. Khi thấy được vị trí tôi ngồi, chàng tuồn xấp hồ sơ cho người ngồi ngoài cùng và người ấy chỉ việc chuyển vào cho tôi.

Một chiêu khác cũng khá ăn tiền được lòng các “bé sinh viên lớp nhỏ” là cho mượn “cours”. “Cours” là sách học không được in mà là quay roneo. Mấy ông tướng lớp trên đã học qua, nên đưa “cours” cũ cho nàng mượn. HLC nhớ ngày đó, mình cũng “oai” lắm vì vài lần người cho mượn “cours” không phải sinh viên lớp lớn mà là chính giảng nghiệm viên cơ (Giảng nghiệm viên là những vị dạy sinh viên các môn thực tập). Ông T.H.A của Vô Cơ rồi ô T.H.A của Hữu Cơ là những vị “thầy” cho “trò” HLC mượn cours!

Bên cạnh chuyện trổ chiêu thức “dê” thế nào cho phù hợp với “đương sự” thì ngày xưa các cậu cũng phải “dê cấp hai” với cả một “tập đoàn” bao quanh đối tượng. Đó là phải theo nịnh hót lấy lòng “lũ em trời đánh” của nàng. Dường như trời sinh ra cái “lũ trời đánh” này ranh mãnh như nhau. Chúng có đủ mánh khóe để mấy chàng thả “dê” phải dẫn chúng đi ăn kem hay mua ô mai, chocolat gì đó cho chúng. Tiếp đó là phải tấn công tuyến phòng thủ lô cốt là bậc song sinh của nàng với sự trợ giúp của “lũ em trời đánh” sau khi chúng được hối lộ no nê. Xem ra ngày xưa “dê” vất vả hơn bây giờ nhiều nhỉ?

Sau chuyện các chiêu thức “dê’ thì bàn đến lối tỏ tình để làm bằng chứng cụ thể cho chuyện “dê”. Không biết thời buổi facebook bây giờ, bạn trẻ tỏ tình ra sao sau một thời gian “dê” nhỉ? Một cậu cháu nói với tôi là không “tỏ” gì cả, cứ nói chuyện, cứ hẹn hò đi chơi với nhau và cứ thế ngầm hiểu với nhau là đủ. Ủa ngộ nhỉ? HLC nhớ ngày xưa, bị ảnh hưởng tiểu thuyết nên HLC cứ ngỡ tỏ tình cũng giống như trong sách vở cơ. Nghĩa là mấy ông tiểu thuyết gia hay tưởng tượng vầy: Chàng cúi nhìn sâu vào đôi mắt nàng, run run nói “ Anh yêu em”!

Thật tình trên thực tế, tôi chả thấy chàng nào làm như vậy cả. Ông bố của mấy đứa con tôi còn có một câu mà tôi “chán như con dán” vì nó chả thơ mộng ướt át tí tị tì ti ông cụ nào cả. (Tôi chả ghi ra đây đâu. Xấu hổ chết!) Tuy vậy thuở sinh viên tôi lại thích kiểu tỏ tình của một anh bạn. Số là thế này, sau vài năm chơi với nhau khá thân, một hôm chàng chở tôi từ trường về nhà và khi ngang Nhà Thờ Đức Bà, chàng thò tay ra phía sau nắm tay tôi và nói “Qg, anh muốn từ nay em không chơi với ai cả, chỉ chơi với anh thôi”. Giời ạ, lúc bấy giờ tôi vừa sợ vừa đỏ mặt. May mà chàng “hỏng” thấy! Sau này tôi “chấm” đó là lối tỏ tình dễ thương nhất. Không có lãng mạn tiểu thuyết Anh yêu em gì cả, cũng không trần tục gì hết mà chỉ giản dị đúng kiểu con nhà lành “chăm phần chăm” và rất học trò “Từ nay chỉ chơi với anh thôi nhé”.

Một ông tướng khác cũng có lối tỏ tình dễ thương. Chàng qua nhà tôi và đưa tôi một cái thiệp rất đẹp. Bên trái là hàng chữ Đoàn Dự, dưới là tên chàng; bên phải là Vương Ngọc Yến, dưới là tên tôi. Thuở ấy sinh viên ai mà chả biết kiếm hiệp Kim Dung và mối tình say đắm của Đoàn Dự dành cho Vương Ngọc Yến. Tỏ tình như vậy cũng hay phải không?

Ôi chuyện “dê” là chuyện muôn đời của con cháu Adam dành cho Eva. Thời buổi facebook bây giờ thì có lẽ “dê” không còn là độc quyền của phe húi cua nữa mà còn của phe kẹp tóc. Hẹn sang năm mới, Hoàng Lan Chi sẽ nói về chuyện “dê” của phe kẹp tóc nhé.

Hoàng Lan Chi 2/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Đi tìm “Người Mình”

Tôi nhận bài viết “Nhà ông Đệ Nhất Tổng Thống Mỹ” của Khánh Vân và rất xúc động khi đọc xong. Xin mở ngoặc: tôi cho rằng cảm nhận của một người về một tác phẩm sẽ tùy trình độ và khẩu vị người ấy. Hiện giờ, với cá nhân tôi (ở tuổi “lão”) thì những câu chuyện tình không hấp dẫn. Tôi thích đọc chuyện đời sống hàng ngày quanh ta hơn là những tác phẩm tình yêu. Đặc biệt bài viết về lịch sử, người đạo đức, gương sáng vẫn là những đề tài hấp dẫn tôi từ bé. Ví dụ thuở nhỏ tôi thích nhất bài “Em bé thành Pê Đu” trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng.

Tôi giới thiệu “Nhà ông Đệ Nhất Tổng Thống Mỹ” cho bằng hữu nhưng rất thận trọng ghi thêm “Tôi không biết tác giả Anne Khánh Vân là ai”. Lý do tôi thận trọng như vậy vì hiện giờ số người “trẻ” bị VC mê hoặc, dụ dỗ khá nhiều. Họ, những người trẻ ở hải ngoại, không có kinh nghiệm về những thủ đoạn lừa bịp của cộng sản. Tâm hồn trong sáng và trái tim nhiệt huyết của họ dễ bị lợi dụng. Cách đây mấy năm, tôi đã bị “hố” một lần khi giới thiệu Tần Lê. Xem youtube Tần Lê kể về chuyến vượt biên khoảng 1978 của TL: rất hay. Sau đó tôi khám phá ra Tần Lê và bà mẹ đã bị cộng đồng Úc Châu lên án, chỉ trích vì những hành động “thiên tả” của họ.

Sau đó tôi vào facebook của Khánh Vân. Tôi tìm tiểu sử, hình ảnh: không có. Chỉ một thoáng đâu đó Khánh Vân viết về mình rất gọn nhưng vẫn mơ hồ. Tôi hơi thất vọng. Bất chợt nhìn thấy category “Việt Nam present and past”, tôi click ngay.

Tôi nhìn thấy gì? -Một Việt Nam xưa trong đó có tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa. Tôi thở phào: “Người mình”.

Sáu tiếng đồng hồ sau, tôi lại dạo nhà Khánh Vân.

Tôi nhìn thấy gì? –Bài viết “30-4: Nhìn Lại! Nhìn Lại! Nhìn Lại Nữa!”. Tôi không thở phào mà trái tim tôi rộn rã niềm vui “Người mình”.

Đó là hành trình tôi đi tìm “người mình” trong thời buổi internet.

Xin cảm ơn internet đã giúp tôi đọc được những tác phẩm hay, tìm đúng “người mình”.

Hoàng Lan Chi 3/2015

*******************************

Hai bài của Khánh Vân ở đây:

Khánh Vân-Nhà ông Đệ Nhất Tổng Thống Mỹ

Khánh Vân-Nhìn lại, nhìn lại nữa

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Khánh Vân-Nhìn lại, nhìn lại nữa

LGT: một bài viết thứ hai của Khánh Vân mà tôi được đọc. Bài được viết dưới dạng thư gửi …các chú 101. Cái hay của Khánh Vân là kể những câu chuyện tưởng chừng khô khan nhưng với giọng văn dí dỏm của KV, mọi cái trở nên nhẹ nhàng

Hoàng Lan Chi

*****************************

30-4: Nhìn Lại! Nhìn Lại! Nhìn Lại Nữa!

Anne Khánh Vân

***

Thưa các chú bác 101,

Con được đến với Nội San Ái Hữu Đơn Vị 101 là nhờ bác Lê Trị.

Năm trước, tháng Tám 2009, Việt Báo Online phổ biến bài "Chuyện Nước Mỹ, Chuyện Việt Nam" của Anne Khánh Vân, kể chuyện tổng thống Obama mời hai thường dân vào Nhà Trắng để… cụng bia. Bác Trị ra công copy bài này gửi các đồng đội cũ mời đọc. Thương làm sao lời giới thiệu của bác, "Anne Khánh Vân là cháu của Lê Trị…"

Mới đây, con nhận thêm email, "Chú là Bảo Trâm, bạn của chú Lê Trị, hiện phụ trách biên tập Nội San Hội Ái Hữu Đơn Vị 101. Được biết Anne Khánh Vân đã hứa trước nên chú gởi thư này xin Anne viết riêng một bài cho Nội San Hội Ái Hữu Đơn Vị 101, dự trù ra mắt trong dịp 30 tháng Tư."

Đúng là khi được bác Lê Trị biểu viết bài cho nội san 101, con đã mau mắn "dạ dạ", dù chưa biết mình sẽ viết lách ra sao. Bây giờ, nhờ email chú Bảo Trâm nhắc tới ngày 30 tháng Tư, con bỗng "ngộ" ra nhiều điều bất ngờ.

Con cám ơn chú Bảo Trâm nhắc bài.

Con biết ơn các chú bác 101 đã ưu ái, tin cậy, cho con cơ hội để… cà kê dê ngỗng.

Xin bắt đầu ngay bằng chuyện cha mẹ chú bác mình. "Hồi đó,… Hồi xưa…"

**

Khi Saigon còn là thủ đô của miền Nam, có chàng học trò nghèo -con côi mẹ goá- được một gia đình bố mẹ nuôi người Mỹ từ Hoa Kỳ giúp ăn học và sẵn sàng bảo trợ du học. Chính chàng quyết định hoãn việc xin du học, ở lại để… lấy vợ, rồi sinh con. Đứa con đầu lòng ấy là… con, Anne Khánh Vân, chỉ mới 6 tháng tuổi khi Saigon hấp hối.

Tháng Tư năm 1975, ba con đang làm việc với người Mỹ trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Ứng trực ngay tại nơi lên lịch những chuyến bay di tản, ông có sẵn chỗ trên máy bay cho cả gia đình, lại có sẵn bố mẹ nuôi người Mỹ bảo trợ, nhưng không thể liên lạc với vợ con. Phút cuối, chính ông quyết định… rời khỏi máy bay, vất vả để ra khỏi phi trường, về nhà. Mọi chuyện lỡ làng. Chiều 30 tháng Tư, ông cùng mẹ và vợ đốt hết giấy tờ hình ảnh liên hệ đến người Mỹ. Và sau đó, đi tù. Rồi trăm cay nghìn đắng…

"Má à, sao Ba không đi Mỹ như các chú các bác?"

"Còn vì sao nữa. Hỏi ba mày đi."

"Con muốn có ba đi Mỹ để gửi quà về nhà hay muốn có ba ở bên con?"

Con đã hỏi má, hỏi ba, rồi ba hỏi lại con, sau khi đã kể lại chuyện cũ.

Thì ra vì không nỡ bỏ rơi con, ba con đã quyết định ở lại. Nhờ điều này, suốt thời thơ ấu, dù cơ cực thua kém chúng bạn, con vẫn có thể hất mặt lên, hãnh diện nhớ ngày 30 Tháng Tư. Ngày ấy, với ba, không phải ai khác mà chính con là… V.I.P. – nhân vật quan trọng nhất. Từ đó, đây là ngày để yêu quí ba hơn. Con nhớ mình đã hiểu như vậy khi mới chín, mười tuổi.

Cũng từ tuổi này, con nghe nhắc tên bác Lê Trị. Chỉ nghe nhắc tên thôi. Chưa thể gặp mặt. Vì lúc ấy bác Trị cũng như nhiều bậc cha chú khác của chúng con vẫn đang còn trong tù.

Bác Trị gái và má con vừa là bạn thân, cũng vừa là bạn hàng… chợ trời. Không biết má con, bác Trị gái, hay trăm ngàn các bà vợ, bà mẹ miền Nam khác trước kia từng sống với những công việc ngành nghề tốt đẹp, sung túc ra sao, nhưng những năm cuối 70 và đầu 80, con thấy nhà nhà đều có cảnh "chà đồ nhôm, chôm đồ nhà" mang ra hè đường bán. Sau màn "tư bản mại sản" -có nghĩa là bán hết những gì có thể bán trong nhà- các bà vẫn phải tiếp tục mua bán cái gì đó mỗi ngày, để có khoai có gạo nuôi con, rồi nuôi chồng trong tù.

Vậy là tại chợ trời Tân Bình, má con có cái sạp bán quần áo. Bác Trị gái thì vòng vòng khắp chợ lựa đồ cũ để mua đi bán lại. Mua được cái quần cái áo nào khá khá thì bác đem cho má con lựa trước. Chiều đi bán về, má con sẽ giặt giũ mớ quần áo cũ mua được trong ngày. Hôm sau, khi mớ quần áo cũ này được phơi khô, con có bổn phận tháo tung chúng ra thành những manh vải nhỏ, ủi cho thẳng thớm. Tối đến, khi đã cơm nước và lo cho các em xong, má con sẽ vừa đọc chính tả cho con viết, hoặc dạy con làm toán và vừa cắt đồ. Những mảnh "vải" do con "chế biến" từ đồ cũ hôm qua sẽ được má cắt thành những bộ đồ trẻ con, những chiếc áo sơ mi, áo bà ba… Sáng sớm, má con ra chợ bán. Phần con, trong khi đạp xe mi-ni lọc cọc đến trường, con sẽ ghé ngang nhà các cô thợ may, đưa họ mớ đồ má con cắt tối qua. Trưa tan học, con ghé nhà các cô lấy những gì các cô may xong. Về nhà kết nút áo, luồn thun, hoặc luông lai áo. Khi xong việc, con sẽ mang mớ đồ "cũ hôm qua nhưng mới hôm nay" này ra chợ "tiếp tế" cho má con có thêm "đồ mới" bày bán. Cứ như thế, từng ngày trôi qua… Chợ Tân Bình là nơi kiếm sống của gia đình con, cũng như trăm ngàn gia đình khác. Và chính nơi đây, con đã được biết bác Trị gái.

Những khi con ra chợ phụ má, má con thường sai con chạy qua chỗ bác Trị gái ngồi để đưa tiền và có khi là xin khất sang ngày mai. Bác Trị gái sẽ cười và gật đầu, "Ừa, không sao đâu." Hai bà mẹ thương nhau như chị em; họ cùng "nín thở" nương nhau qua sông… Con còn nhớ rõ chỗ bác Trị gái ngồi là gần bên cô Phúc bán cà-phê có cái bàn thấp thấp. Chỉ là một tấm ni-lon trải trên thềm xi-măng. Trước kia má con cũng toàn trải ni-lon bày bán hàng dưới đất ngay trên đường vào chợ. Trước đó nữa, khi con mới hai ba tuổi, theo má bán chợ trời ở chợ Long Khánh, thì đường vào chợ cũng đâu có chỗ. Phải trải tấm ni-lông bên cạnh những đống rác ở sau chợ… Nắng mưa, ruồi nhặng, lầy lội gì cũng phải bám lấy nó. Mãi sau này, nhờ "hụi sống hụi chết," má con chắt chiu đủ tiền sang được cái sạp lộ thiên phía sau lồng chợ. Biết cảnh ngồi dưới đất mưa nắng ra sao, nên khi thấy bác Trị gái phải ngồi như thế, con ái ngại hỏi má, "Ủa má, sao bác không ngồi sạp bán hàng như má?" Má con giải thích "Bác đi mua đồ cũ vòng vòng trong chợ suốt ngày, rồi lại đi vòng vòng bán lại với chút tiền lời… Nếu chiều tới mà còn nhiều thứ cần bán thì bác mới trải tấm nhựa ngồi ráng chút thôi."

Có ngày không thấy bác Trị gái ra chợ, con hỏi thăm. Má con nói bác phải đi thăm nuôi bác trai. Đã nhiều lần thấy má và các cô dì của con người nào cũng từng "đi thăm nuôi", con không ngạc nhiên vì điều này. Nhưng vẫn chưa hiểu vì sao mà mấy ông chú bác này nhà có không ở, cứ "rủ nhau" vô tù. Cũng chẳng thể hình dung nơi họ ở tù như thế nào.

Cho tới khi chính con cũng đi vô… nhà tù.

Vào mùa hè khi con gần mười tuổi, con được má cho theo cậu dì đi vượt biển. Hên xui may rủi thế nào không hiểu, chuyến tàu bị bắt, cả đám "thuyền nhân hụt" bị tống vô nhà tù. Vậy là con cũng đi tù (như ai!). À, đây là nhà tù, là trại cải tạo. Ồ, kia có thể chính là bác Lê Trị. Con chưa biết mặt bác, không biết bác ở nhà tù nào, nhưng con đã nghĩ vậy khi thấy những người tù cải tạo ốm yếu, tơi tả, đi từng đoàn dài, hoặc làm đủ mọi thứ việc khổ sai dưới mưa nắng và những họng súng canh gác của cai tù được gọi là cán bộ quản chế, quản giáo. Ba con, chú bác con từng là những người tù như vậy.

Thật ra hồi nhỏ, con cũng chẳng hiểu tại sao đi vượt biên mà không thoát thì sẽ đi vô tù. Có trộm cướp gì đâu. Có đánh phá ai đâu. Chỉ "đi chỗ khác chơi" thôi, có gì đâu mà tù.

*

Mấy năm sau đó, Việt Nam có chính sách “đổi mới” – cầu cứu tư bản, nói chuyện lại với Mỹ. Nhiều chú bác từ nhà tù trở về và con đã có dịp chào bác Lê Trị. Lúc này, các bà vợ bà mẹ "gốc ngụy" có chồng về "phụ việc" thấy cũng đỡ hơn. Má con đã mở được một tiệm may và dạy nghề may. Má con vốn là nhà giáo. Nhờ thừa hưởng từ bà nội là thầy dạy may giỏi, nên má con dạy may vá cũng giỏi. Bác Trị gái cho mấy chị qua phụ may với má con để học thêm. Gia đình bác đang chờ làm thủ tục đi Mỹ, nghề may biết đâu sẽ có ích cho các chị.

Chơi thân với mấy chị con bác Trị, mỗi lần qua lại, con thấy trong nhà bác có rất nhiều tủ kệ mới rất đẹp do bác Trị trai tự tay đóng. Vài năm sau, khi gia đình bác Trị có vé máy bay đi Mỹ, hai bác đã "chia gia tài" cho những bạn nghèo còn ở lại, trong đó có gia đình con. Con còn nhớ sáng hôm ấy, chị Duyên, thứ nữ của hai bác, đưa chiếc xe ba bánh chở một bàn may qua nhà con. Khiêng bàn may vào nhà, chị Duyên nói, "Ba má con gửi tặng cô." Hình dáng bàn may này trông hơi "khác thường" vì là "sản phẩm… chế biến" của bác Trị. Nó được đóng bằng thứ gỗ rất dầy và chắc. Gắn đầu máy vào và ngồi may, trông rất oai.

Vì bác Trị ở tù đến 13 năm nên gia đình bác được đi Mỹ theo diện HO. Ba con không ở tù lâu, nhưng có lẽ vì được con ở tù thêm cho phần ba, nên trời thương, cũng cho con được đi… Mỹ. Con đường đến Mỹ tuy vòng vo, ngoằn ngoèo, nhưng cuối cùng con cũng đã đến nơi.

Tạm yên việc học, việc làm, chiều tháng Tư, một mình ngồi bên dòng sông Potomac đúng mùa hoa anh đào nở, con bỗng lờ mờ thấy lại đống lửa hỏa thiêu lý lịch chiều 30 tháng Tư năm nào, khi vì con mà Ba bỏ chỗ trên chuyến bay di tản. Con nhớ ba, nhớ má, nhớ bà Nội, nhớ các em, nhớ cả hình ảnh ông bà bố nuôi người Mỹ của ba con. Trong album gia đình, hiện vẫn còn tấm hình ông bà – được lượm lại từ đống lửa hoả thiêu. Tên tuổi địa chỉ không còn nữa. Không biết ông bà ở nơi nào, cõi nào. Nhưng từ tấm ảnh cũ một phần bị nám cháy, con vẫn hình dung được là ông bà bố nuôi của ba con đang cười, khi biết là cái con bé làm lỡ chuyến bay của ba nó năm xưa, nay đã thay ba đến được với nước Mỹ.

Chính từ những ký ức lu bù ấy, con đã viết "30 Tháng Tư, Ngày Để Yêu Quí Ba Hơn", rồi viết thêm "Duyên Nợ Với Nước Mỹ". Cả hai bài được gửi dự Viết Về Nước Mỹ, một giải thưởng đặc biệt do hệ thống Việt Báo tổ chức liên tục từ mười năm nay; các giải thưởng hàng năm là 35,000 mỹ kim. Khi gửi bài đi, thiệt tình con cũng chưa biết Trần Dạ Từ, Nhã Ca là ai.

Kết quả: Giải chung kết Việt Báo Viết Về Nước Mỹ năm 2007 được loan báo là… Anne Khánh Vân. Đây là giải lớn nhất trong năm. Người trúng giải một mình "ẵm" gọn…10,000 mỹ kim. Mèn ơi. Đúng chuyện khó tin mà có thực. Chưa hết. Còn thêm một chuyện khó tin được chính vị trưởng ban tuyển chọn là nhà báo Nguyễn Xuân Nghĩa loan báo ngay trong lễ phát giải hôm Chủ Nhật 26 tháng Tám, 2007. Chú Nguyễn Xuân Nghĩa là một chuyên gia kinh tế, trước 1975 từng là Thứ trưởng Bộ Tài Chánh VNCH, đồng thời là một giáo sư tài chánh của đại học Saigon. Xin cho con được trích nguyên văn lời chú khi công bố giải thưởng:

"Duyên nợ với nước Mỹ" là câu chuyện về một gia đình từng được người Mỹ nhận làm con nuôi từ thời ông bà nội của tác giả, mà trải qua nhiều cơ hội trong suốt 50 năm thăng trầm, cả nhà vẫn cứ hụt mãi cái hẹn với Hoa Kỳ. Chuyện ly kỳ và cảm động nhất là bài viết của tác giả đã góp phần biến giấc mơ ấy thành sự thật. Khi được thông báo bài viết vào danh sách chung kết, tác giả lập tức vận động khắp nơi và chỉ trong 10 ngày đã hoàn tất mọi giấy tờ đưa được ba má từ Việt Nam qua Mỹ theo thủ tục khẩn cấp. Kết quả là trong câu chuyện có câu chuyện khác và trong giải thưởng có giải thưởng khác là sự đoàn tụ của một gia đình trên đất Mỹ, cùng dự họp mặt với Việt Báo hôm nay."

Đúng như chú Nghĩa kể, nhờ giải thưởng Viết Về Nước Mỹ, rồi nhờ sự trợ giúp đặc biệt của văn phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb tại Virginia, văn phòng Dân biểu Loretta Sanchez tại California, ba má con đã kịp thời đến được nước Mỹ để dự buổi lễ phát giải thưởng hôm ấy.

[Mọi bài viết liên quan tới giải thưởng có in trong sách Viết Về Nước Mỹ do Việt Báo ấn hành. Cũng còn lưu trên Việt Báo Online, có thể đọc lại: http://www.vietbao.com/?ppid=74&pid=51&auid=2842&nid=100143&page=2.]

Con nhớ rõ lời vị chánh chủ khảo dành cho chuyện khó tin của con, "Trong câu chuyện có câu chuyện khác và trong giải thưởng có giải thưởng khác…" Vậy mà riêng với con, vẫn còn thêm một câu chuyện khác nữa chưa kể. Chuyện nhờ bác Lê Trị mà có, nhưng cho tới nay, hai bác cháu vẫn chưa có cơ hội ngồi lại với nhau, để con có thể kể với bác phần lạ lùng cuối chuyện.

Hai bác Trị và các chị, những tấm gương của một thời khó khăn, là người thân của cả gia đình con. Từ ngày sang Mỹ theo diện H.O., hai bác định cư ngay tại vùng Little Saigon. Ba má con lần đầu tới đây, sau khi mừng tái ngộ, hai bác và các chị đều có mặt tại nhà hàng Seafood World trong buổi lễ phát giải.

Nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca là những người sáng lập Việt Báo và giải thưởng Viết Về Nước Mỹ. Trong dạ tiệc phát giải tại nhà hàng, chú Từ cô Nhã chia nhau đi từng bàn thăm hỏi mọi người. Khi chú Từ đến bàn của gia đình con, bác Trị đứng lên. Chú Từ tức thì nắm tay bác, rồi lập tức "kể tội" bác Trị với mọi người:

"Đây là ông bạn tù đã góp phần hành hạ tôi không biết bao nhiêu đêm trong tù."

Ủa, sao có thể vậy?

Con đã nghe bác Trị kể từng ở tù chung với chú Từ, không ngạc nhiên khi hai người nhận ra nhau, nhưng nghe vậy cũng hơi… hoảng. Còn nhớ ngay sát bàn con lúc ấy có chú Tân Ngố và cô Iris Đinh. Cả bàn chuyện trò đang rôm rả bỗng thấy lắng hẳn lại. Hai người cựu tù cùng ngồi vào bàn. Cụng ly. Không có vẻ gì là sắp… đấu súng. Chú Từ hỏi "ông gặp Lão Tam chưa?" Bác Trị nói "tôi thăm thầy Tế rồi." Nhiều tên người hoặc biệt danh được nhắc tới: cụ Khánh, cụ Sinh, ông Hinh, rồi Lão Đại, Lão Nhị…

"Cái ông Lê Trị này là một cây kỳ tài trong các xưởng mộc của trại tù," chú Từ kể. "Không phải chuyện đóng bàn, đóng tủ bình thường đâu. Ông ta đóng đàn. Ghi-ta. Violin. Đàn bầu. Đàn cò… Đủ loại cho các bạn tù. Từng có lần bị lãnh búa vì tội ‘chôm’ gỗ quí của nhà tù xẻ ra đóng đàn và ‘làm chuyện riêng trong giờ công’ mà cũng không tởn. Hồi còn ở trại tù Z30D Hàm Tân, chúng tôi nằm cạnh nhau. Ông Trị trổ tài làm cho ông Tế một cây violin. Kết quả là đêm nào trước khi ngủ ông Tế cũng vác cây đàn tự chế lên. Cứ hết ‘ông nghe Schubert nhé’, rồi lại ‘ông nghe Chopin nhé.’ Trong các loại đàn không gì ghê rợn bằng tiếng đàn violin lạc giọng. Dây đàn thì quấn bằng dây điện. Cần kéo đàn thì căng bằng sợi ny lông… Làm sao mà tiếng đàn chính xác. Ông Tế thì nghễnh ngãng, cứ tưởng tiếng đàn của ông ấy hay lắm. Ông Trị thì khoái chí thưởng thức cái violon ông ấy tự chế biến. Vậy là chỉ mình tôi nằm cạnh lãnh đủ. Đã tù khổ sai còn bị cái đàn ấy hành hạ không biết bao nhiêu đêm."

Nghe chú Từ than, mọi người trong bàn đều cười.

Thì ra chỉ là chuyện "mắng vốn" vui vẻ để gợi lại kỷ niệm thân thiết giữa ba người bạn tù "sành điệu" về âm nhạc. Bác Trị từng đóng cả trăm câu đàn, chú Từ từng viết nhiều ca khúc. Riêng người được bác Trị kêu thầy Tế, chú Từ kêu Lão Tam, là Giáo sư Nguyễn Sĩ Tế, rất giỏi nhạc cổ điển. (Nhạc sĩ Sỹ Đan thường xuất hiện trong video ca nhạc ASIA là trưởng nam của bác Sỹ Tế). Những người được nhắc trong câu chuyện đều là các nhà văn, nhà báo con từng đọc bài trên báo xuân Việt Báo. Cụ Sinh là nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Cụ Khánh là nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Ông Hinh là nhà văn Thảo Trường Trần Duy Hinh. "Cụ Khánh" hay "Ông Hinh" còn từng là giám khảo giải thưởng viết văn của Việt Báo mà con đang lãnh giải.

Còn nhớ hôm ấy, khi mọi người cười vui, thì con tuy cười mà… lờ quờ, vì tên cái nhà tù được nhắc trong câu chuyện: trại tù Z30D ở Hàm Tân. Đó là nơi chính con đã từng… ở tù vì tội vượt biên năm 10 tuổi.

Có phải đúng cái nhà tù ấy? Có thể lầm lẫn không? Không. Con nhớ rõ lắm. Con đường đất đỏ dẫn vào trại tù. Cổng trại tù K1, K2… Con biết cả cái nhà lô nơi đội tù thợ mộc cưa cưa đục đục. Bác Trị từng ở đó. Chú Trần Dạ Từ từng ở đó. Chú Bảo Trâm từng ở đó. Các chú bác khác cùng đơn vị 101 với bác Lê Trị cũng từng ở đó. Má con từng tới đó thăm nuôi con. Bác Trị gái, cô Nhã Ca hẳn cũng đã tới đó. Và rồi, hơn 20 năm sau, cái con bé lon ton trong trại tù năm xưa, hôm nay ngồi đây… Làm sao có thể tưởng tượng nổi.

Có nên kể ngay với các chú bác sự tình cờ lạ lùng này không? Con tự hỏi. Không. Không nên kể ngay. Phải coi lại. Phải hiểu thêm đã. Con tự nhủ và tiếp tục… lờ quờ. Cho tới bây giờ.

*

Thưa các chú bác 101,

Thư chú Bảo Trâm nhắc con ngày 30 tháng Tư. Đúng là nhờ viết về những ký ức từ ngày này, con đã có duyên may lãnh giải Viết Về Nước Mỹ 2007; rồi trong buổi phát giải, thêm duyên được thấy sự tái ngộ giữa những người từng "chung một nhà tù". Nhờ đó mà con thình lình hiểu ra là mình… chẳng hiểu gì cả.

Là con bé từng lon ton vào tù vài ba tháng, con có thể tự cho mình biết "nhất nhật tại tù…" là gì hoặc mô tả cái nhà tù Hàm Tân ra sao. Thật ra, đó chỉ mới là cái hiểu biết con nít. Chuyện 30 tháng Tư, chuyện nhà tù không chỉ như con tưởng. Suốt ba năm qua, con đã cố tìm hiểu thêm, học thêm, suy ngẫm thêm về nó và nhiều lần… "tá hoả tam tinh."

Đọc Nội San Ái Hữu Đơn Vị 101, con biết thêm có 10 vị chỉ huy các ngành an ninh – trong số này có vị chỉ huy trưởng của 101, Đại tá Lê Đình Luân- đã tù luôn một lèo… 17 năm.

Đọc nhà văn Thảo Trường, con biết thêm nhóm "lão tù" này gồm bao nhiêu vị, họ tù ở đâu, tù ra sao: "Trại còn mười hai tù binh, mười sáu công an, hơn bốn trăm con bò. Công an giữ tù. Tù giữ bò. Cứ thế mà thống trị nhau." Đó là mấy dòng mở đầu truyện "Con Bò" trong sách "Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết."

Nhà văn Thảo Trường chính là vị lão tù thứ 11, cạnh 10 vị chỉ huy mà nội san 101 đã kể. Đọc ông, con không chỉ hiểu các chú bác đã ở tù ra sao, mà hình như còn hiểu mấy chục năm nay bà con cả nước đang phải sống ra sao:

"Trong tù, công an vẫn gọi tù là anh xưng tôi, dù người tù ấy bẩy tám chục tuổi còn công an mới mười chín, hai mươi! Kể ra về vai vế thì phải là ông cháu. Phúc đức dày thì phải là cụ cháu. Nhưng thời này phúc đức rất mỏng! Anh tôi suốt thành… quen miệng và quen tai. Con cháu cũng không thấy mình là sách mé hỗn láo vô phép mất dạy. Cha ông cũng không thấy phiền muộn vì bị xúc phạm. Chẳng qua là cái chính sách đàn áp nó xiềng xích đầu óc người ta lại thành quen rồi. Bọn khủng bố còn tập cho tù nhân chịu đựng cái sức ép lún xuống một độ sâu hơn nữa, chúng lên lớp rằng chính sách cải tạo là một chính sách giáo dục, trại giam là trường học, tù nhân là học trò, còn chúng tự nhận là… thầy! Chúng nói hoài nói mãi suốt mấy chục năm, nói từ Bắc vô Nam, nói từ Nam ra Bắc, ai nói khác đi chúng bắt bẻ, buộc tội ngay. Miết rồi quen, vợ con họ hàng ở nhà có ai hỏi cũng quen miệng trả lời ‘nhà tôi đi… học, bố cháu đi học, chú ấy, bác ấy đi học…’"

Và cứ thế kéo dài tới năm thứ 17. Nơi "thập nhị lão tù" này thành "cowboys" vung roi coi bò vẫn là… nhà tù Z30 Hàm Tân. Đừng tưởng bò ở đây hiền hơn bò Texas. Thắm, tên con bò dữ nhất trong đàn từng húc chết một nữ tù xinh đẹp tên Thủy khi cô tới lấy phân bò. Nhưng rồi con Thắm cũng có ngày về già, và… "công an ôm súng AK đi theo đội hình hàng ngang tiến tới, in như trong bài tập tấn công. Có anh còn đi theo thế lom khom như đang xung trận thật sự. Anh trưởng toán công an giải thích ‘Ban Giám Thị cho… làm thịt.’ Bác (tù) già thở phào: ‘Tưởng cán bộ đi tấn công quân đế quốc bành trướng gì chứ…’

Sau đó là trận chiến máu me bi hài. Nhà văn lão tù viết,

"…không hiểu sao hình ảnh con Thắm tội nghiệp, hình ảnh cô Thuỷ xinh đẹp, hình ảnh các bác tù binh già lầm lì khốc liệt, khu Rừng Lá âm u, và tính chất súc vật của một nền văn minh cộng sản, nó cứ ám ảnh lẽo đẽo theo tôi hoài."

Nhà tù Hàm Tân, ngoài đàn bò, còn có một con voi nổi tiếng, từng lên báo, lên đài. Các chú bác đơn vị 101 từng qua năm tù thứ 13 ở đây hình như đều biết. Sách "Những Miểng Vụn của Tiểu Thuyết" có truyện "Ông Bồ" kể về nó. Đàn voi Rừng Lá có con voi mẹ bị bắn chết gần trại tù (nghe nói tư dinh Thành Uỷ sau đó có trưng cặp ngà voi quí lắm). Voi con mất mẹ đói quá nằm vạ tại nhà lô, trại trưởng sai tù đẩy nó vào trại, bắt nhà bếp bớt phần khoai gạo của tù nấu cháo cho voi ăn. Mỗi bữa, cả chảo cháo bự, voi con làm loáng cái là hết. Hai nhà văn "ngụy" nằm trong tù tán gẫu:

"…Thụy Điển họ từng viện trợ cho cả một nhà máy giấy Bãi Bằng lớn nhất Đông Nam Á, sao không mang ‘cu tí’ này ‘cống’ vua Thụy Điển gây cảm tình ‘hữu nghị quốc tế bền vững,’ tù khỏi bị bớt phần ăn và khỏi phải ‘đẩy đít ông Bồ’ về rừng."

Chuyện tán gẫu của hai ông – tác giả "Bụi Tầm Xuân" và tác giả "Người Đi Qua Đời Tôi"- được "Ban Tự Quản" lắng nghe. Sau đó báo chí và truyền hình nhà nước có ảnh con voi con của trại tù được đưa lên máy bay cùng với thú y sĩ và chuyên viên sở thú đi theo chăm sóc. "Bản tin nói thủ tướng chính phủ nước ta gửi quốc vương Thụy Điển con voi quí làm quà tặng để kỷ niệm tình hữu nghị thắm thiết…"

Truyện "Ông Bồ" được ghi là "Tặng NC&TDT". Con biết người được đề tặng là ai.

Sách "Hồi Ký Nhã Ca" có kể chuyện đi thăm nuôi gặp nhà văn Thảo Trường và gọi ông là "Tướng Cướp Núi Mây Tào." Ngọn núi này nằm gần nhà tù Hàm Tân. Bên cạnh con suối chẩy qua trại tù có cái nhà thăm nuôi. Con biết nơi này. Sau đây là đoạn chuyện trò giữa chú Từ, cô Nhã trong nhà thăm nuôi vào lúc chộn rộn nhất:

Giờ thăm gặp sắp hết. Ở bàn đầu, thân nhân thăm nuôi đã lục tục kéo lên bàn cán bộ làm thủ tục gửi tiền.

"Lần thăm nuôi trước, lúc vào, nghe tin cán bộ trại giữ em lại làm việc?"

Chuyện từ mấy tháng trước. Giờ thăm nuôi bị rút ngắn. Vào một phòng nhỏ. Cán bộ trưởng trại đích thân gặp. Có trà nóng mời uống.

"Chẳng có gì đâu. Đài BBC loan tin anh và anh Tế đang bị hành hạ trong trại tù. Họ bảo anh phải ở đội lao động nặng chỉ vì anh chưa tự giác, em phải động viên anh để anh an tâm (học tập) cải tạo. Trưởng trại hỏi em có muốn anh sẽ là người trở về sau cùng không?"

"Em trả lời sao?"

"Em nói anh không phải là người về sau cùng. Người về sau cùng sẽ chính là cán bộ. Vì còn một người tù, cán bộ còn phải ở lại để coi tù."

Đúng quá. Cho tới giờ này, cái nhà tù ấy vẫn còn và đương nhiên vẫn còn anh cán bộ coi tù. Khi đọc xong đoạn đối thoại này, con nhớ mình đã phá ra cười. Nhưng cười xong thì ngẩn ngơ. Sách "Hồi ký Nhã Ca" về nhà tù nhỏ, nhà tù lớn viết từ năm 1990. Bây giờ đã thêm 20 năm. Mới đây, nhiều nhà hoạt động cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam bị bắt cũng được đưa tới đó.

Vẫn còn, vẫn vậy, nhà tù lớn, nhà tù nhỏ. Vì đâu nên nỗi?

Sách "Quê Hương Bạn Hữu Tù Đầy" do Trung Tâm Độc Lập, Stuttgard, Cộng Hoà Liên Bang Đức, ấn hành nhân "Ngày Văn Nghệ Sĩ Việt Nam 1990" có bài của nhà báo Hồ Văn Đồng, kể chuyện "Ở tù với Trần Dạ Từ và bạn hữu":

"Hồi hai anh em cùng nằm một chiếu ở trại khổ sai Gia Trung, đến phiên tôi dạy anh Từ học thêm tiếng Pháp. Lại có thêm một chuyện buồn cười. Không khá gì hơn ông thầy Nguyễn Mạnh Côn (bắt học tiếng Tây bằng bản tuyên ngôn vô sản thế giới đoàn kết lại), anh Từ lại phải tộng cho bằng hết toàn văn Lê Nin bằng tiếng Tây, nhờ hình Lê Nin, mà sách gửi được vô trại tù. »

Tụng Lê Nin kỹ quá, có lần anh Từ nói, ‘Có dịp, anh em mình phải chú giải lại Lê Nin bằng sự việc ông ạ. Tức cười thật, thì ra trí tuệ phương tây bị chữ nghĩa bắt nạt, chả hiểu gì cả.’

Đầu năm 1978, thân nhân anh Mai Văn Lễ (Khoa trưởng luật khoa Huế, nguyên phó chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, rất thân quí anh Từ) lên thăm cho hay chị Nhã và lũ nhỏ bị đuổi khỏi nhà, trục xuất khỏi thành phố. Suốt cả năm không có tin nhà, chả biết vợ con sống chết ra sao, anh Từ không hề hé răng nói một câu lo lắng, vẫn bình tĩnh tụng Lê Nin toàn tập."

(Có thể đọc toàn bài tại .)

Cũng trong sách này, con tìm ra cái chú giải về "chính sách lương thực" của Lénine, "Phải cầy đi cầy lại, cầy tới cầy lui, sao cho trên luống cầy của chúng ta không còn một hạt giống tư sản nào có thể mọc lại được."

Đúng là thời còn học tại nhà trường xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam con từng biết chính sách này, từng thấy nó được xưng tụng là "Vũ khí chuyên chế vô địch của giai cấp, Chủ nghĩa bách chiến bách thắng của thế kỷ." Chỉ không hiểu sự liên hệ giữa nó và cái đói, không chỉ đói trong tù mà đói từ Bắc chí Nam. Cho tới khi đọc chú giải Lê Nin bằng… thơ:

Cái đói thành vũ khí chuyên chế vô địch

Nó được tính toán, được kết hợp lô-gích

Sự co thắt dạ dầy. Nước miếng. Tiếng kẻng

Được tung, được hứng

Được quảng cáo xôm tụ:

Kiểm kê. Quản lý. Làm chủ

Và nó vơ. Nó vét. Nó ban phát ơn huệ

Biến chén cơm, miếng bánh thành ma tuý

Biến tiếng kẻng cho ăn thành lệnh của ma quỉ

Để khuất nhục đồng loại.

(Trần Dạ Từ, Hòn Đá Làm Ra Lửa)

Hậu quả, với thế giới, là cái "vũ khí chuyên chế vô địch" ấy đã tàn sát cả trăm triệu người. Tại Việt Nam, cái đuôi của nó là "Cải cách ruộng đất" tại miền Bắc, là chiến tranh Nam Bắc tương tàn. Rồi 30 tháng Tư, cải tạo tư sản công thương nghiệp, chính sách kinh tế mới, 240,000 quân cán chính miền Nam đi vào nhà tù, hàng triệu người ra biển, chết dưới đáy biển… cho tới bây giờ.

Trí tuệ phương tây đã qua cơn "bị chữ nghĩa bắt nạt". Tại vùng Washington DC, nơi con đang sống, đã có Đài Tưởng Niệm Những Nạn Nhân Cộng Sản. Nhiều dân tộc, Đông Âu, các nước cựu thuộc địa Sô Viết ở vùng biển Baltic cũng như chính nước Nga của ông Lê Nin, tất cả đã tỉnh cơn ác mộng. Còn Việt Nam thì sao?

Ở vườn hoa Hà Nội, có tượng ông Lê Nin. Ông ta đã đứng đó từ sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954, khi cộng sản đặt cả miền Bắc dưới cái ách chuyên chế của họ, phát động cải cách ruộng đất, giết hàng trăm ngàn người.

"Ông Lê Nin ở nước Nga.

Mà sao ông đứng vuờn hoa nước ….mình?”

Từ lâu rồi, con nghe dân Hà Nội có câu đồng dao ấy. “Đúng là một câu hỏi ngây ngô, trong trăm ngàn cái ngây ngô khác của đất nước,” một ông anh của con bình luận. Nhưng ngây ngô mà hỏi vậy quá đúng. Nói cho ngay, cái ông Lê Nin đứng ở công viên Hà Nội cũng chỉ là cái tượng xi măng thôi. Khổ nhục của dân mình, nước mình, trăm tội đổ hết lên đầu ổng cũng… tội! Vậy thì nó là ai? Nó là cái gì, mà vì nó ông ta đứng ở đó, vì nó mà cả một vùng đất lịch sử địa linh nhân kiệt của đất nước phải đói khổ, nhục nhã. Dân ngây ngô còn biết đặt câu hỏi. Vậy thì các vị học giả, trí giả của Bắc kỳ đâu rồi?

Hên quá. Con tìm hiểu thêm và tìm thấy. Đâu phải các nhà văn nhà báo chỉ là những tên tuổi mà bọn con đã phải tụng trong sách dạy thơ văn cách mạng. Cũng đâu phải đợi đến bây giờ. Ngay từ năm 1955 tại Hà Nội, đã có người chỉ đích danh tên nó. Người đó là cụ Phan Khôi, một học giả, một nhà thơ. Báo xuân Việt Báo có trích thơ cụ. Con đọc là nhớ luôn 2 bài thơ sau đây. Bài “Nắng Chiều” chỉ có 4 câu:

Nắng chiều đẹp có đẹp

Tiếc tài gần chạng vạng

Mặc dù gần chạng vạng

Nắng được thì cứ nắng.

Bài thứ hai lui tới hoài hoài cũng chỉ gồm mấy từ ngang như… cua. Đọc mà bái phục, ngậm ngùi:

Làm sao cũng chẳng làm sao

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi

Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao

Chính là với tinh thần ấy, ngay từ năm 1955 -chắc cũng cùng lúc ông Lê Nin xi măng đến đứng vườn hoa – cụ Phan Khôi đã chỉ ra cái tên của "nó".

Nó là "Ông Bình Vôi." Bài viết cùng tên của Phan Khôi được mở đầu bằng câu: "Khắp nước Việt Nam có tục ăn trầu, cho nên ở đâu cũng có bình vôi." Mỗi khi quệt vôi têm trầu, vôi dư được gạt vào miệng bình. Dần dà, bình vôi bị vôi lấp kín miệng, hết xài, phải bỏ ngoài gốc đa. Dân quê ra đó đốt nhang cúng vái, gọi nó là "Ông Bình Vôi".

Và cụ Phan kết luận: "Tôi viết cái bài khảo cứu nhỏ nầy cốt để cắt nghĩa mấy câu thơ của Lê Đạt:

Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Y như một cái bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại."

Cả thơ Lê Đạt và bài viết Phan Khôi đều được đăng trong "Nhân Văn Giai Phẩm" do chính cụ Phan làm chủ nhiệm. Kết quả là tất cả "bọn Nhân Văn Giải Phẩm" gồm nhiều văn nghệ sĩ trí thức Hà Nội thời ấy được "Bác và Đảng" cho đi "học tập cải tạo" và đầy đoạ đến chết. Trong số này có tác giả bài quốc ca miền Bắc là nhạc sĩ Văn Cao, bị cấm viết, bỏ đói. Riêng cụ Phan khi chết rồi, con trai (một Đại Tá từng làm chủ nhiệm báo Cứu Quốc thời "khởi nghĩa" 1945) không dám đi đưa đám. Di hài cụ, sau khi vùi xuống đất còn bị cầy xới lên cho mất hết dấu tích.

["Hồ Sơ Lịch Sử Nhân Văn Giai Phẩm" do nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê biên soạn hiện có trên trang web của đài RFI – http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100311-nhan-van-giai-pham. Mọi người có thể đọc đầy đủ.]

Riêng con, từng có thời là "Thiếu nhi quàng khăn đỏ", con nhớ mãi cái hình ảnh các thiếu nhi cháu ngoan Bác Hồ khiêng kiệu diễn hành, trên kiệu là tấm hình tổ chảng của "Bác". Trong khi thiếu nhi ở những nước văn minh thì ngồi học với computer, laptop, chỉ có "Ông Bình Vôi" mới lo cho tương lai nước ta kiểu này.

Chính cái "Ông Bình Vôi" này còn đặc biệt liên hệ chuyện Tháng Tư, cho tới tận bây giờ.

*

Thưa các chú bác 101,

Là con cháu những người miền Nam từng đi tù, lớn khôn trong chế độ xã hội chủ nghĩa, con biết đủ thứ chuyện "cười ra máu mắt" hậu ba mươi tháng Tư.

Đến được nước Mỹ, con đã hơn một lần bồi hồi khi học lịch sử Hoa Kỳ.

Như Việt Nam, đất Mỹ cũng từng là thuộc địa của Anh, của Pháp và từng có chiến tranh dành độc lập. Dân Mỹ cũng từng có nội chiến Nam Bắc. Nội chiến cũng kết thúc đúng vào một Tháng Tư lịch sử.

Ngày 8 tháng Tư năm 1886, khi Tướng Robert Lee, tổng tư lệnh Nam quân loan báo quyết định đầu hàng, tại nơi hẹn, Tướng Grant tư lệnh miền Bắc chiến thắng và bộ tham mưu của ông đón vị tướng bại trận bằng nghi thức danh dự, chào kính. Quân đội miền Bắc thắng trận cũng lập tức được lệnh "tuyệt đối không reo mừng" trên chiến bại của quân đội miền Nam. Ba ngày sau, 12 tháng Tư 1886, lễ giao nạp vũ khí được tổ chức tại cánh rừng Appomattox, phía Nam bang Virginia. Khi 28,000 sĩ quan và binh sĩ miền Nam bại trận được chỉ huy bởi tướng John Gordon bước theo nhịp quân hành, tiến vào khu hành lễ, tướng Chamberlain hô lệnh, "Bồng súng chào!" cho quân đội miền Bắc thắng trận. Một tiếng kèn lệnh. Toàn quân miền Bắc bồng súng nghiêm chào. Họ chào những "anh hùng bại trận". Họ bày tỏ sự tôn trọng của người Hoa Kỳ đối với người Hoa Kỳ. Không thêm một tiếng kèn, tiếng trống, tiếng hô chiến thắng. Sau khi giao nạp 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ, tất cả sĩ quan binh lính miền Nam được giữ lại lừa, ngựa và cả võ khí cá nhân. Họ còn được phía thắng trận cung cấp 25,000 phần ăn để lên đường trở về quê quán sống đời tự do.

Lá cờ của miền Nam bại trận được tôn trọng. Cho tới bây giờ vẫn còn được treo nhiều nơi tại các bang miền Nam. Tên tuổi các danh tướng miền Nam vẫn được trân trọng trong sách sử. Tư dinh vị tướng bại trận Robert Lee tại Virginia sau này còn trở thành một bảo tàng với nguyên vẹn cờ hiệu, huy chương sách vở mở cửa cho du khách. Nước Mỹ sau Tháng Tư 1885, không ai bị tập trung cải tạo, không gia đình nào bị cướp đoạt nhà cửa, đuổi đi kinh tế mới, cũng không có ai phải vượt biển, tị nạn. Và rồi…

Tháng Tư Mỹ 1885 trước tháng Tư Việt Nam 1975 đúng 110 năm.

Ôi, cùng một tháng Tư. Người ta thì như thế, mà mình… Lần đầu học về tháng Tư lịch sử của nước Mỹ, con nhớ đủ thứ chuyện rồi bồi hồi tưởng tượng. Nếu ngày 30 tháng Tư năm ấy, từng sự việc được xử lý bằng chính sách như thế này… thế này… thì kết quả mọi sự đã trở thành thế kia, thế nọ… Cứ thế mà bần thần, tiếc rẻ, mơ mộng.

Bây giờ, ôn lại chuyện tháng Tư nước Mỹ, hiểu thêm chút chút, con thấy đúng là lúc ấy mình chẳng hiểu gì cả. Nếu những lãnh tụ Việt Minh phần nào xử sự được như vậy, thì năm 1954 ông ngoại con -người từng được tuyên dương là anh hùng nhờ tiếp tế thuốc tây cho kháng chiến chống Pháp- đâu đến nỗi phải bỏ nhà cửa, quê quán để trở thành… "bắc kỳ di cư". Cũng vậy, các chú bác đâu phải cầm súng tự vệ khi miền Nam bị dìm trong lửa đạn, để rồi bị phản bội, tù tội. Đừng mơ mộng hão nữa. Thấy ra được điều giản dị này, con thấy thương ông ngoại mình hơn, đồng thời thân thiết hơn với ông cha, chú bác của mình, những thế hệ đã tận lực chiến đấu.

35 năm sau tháng Tư 1885, Hoa Kỳ từ 1920 với 106 triệu dân đã có đài phát thanh, thừa giàu mạnh, vượt mặt cả Âu châu.

35 năm sau tháng Tư 1975, Việt Nam mất đất, mất biển, thua kém mọi lân bang, thua luôn cả Cam Bốt.

Khác biệt dễ thấy nhất giữa hai tháng Tư là trong khi tại Mỹ, đạo lý tự mình trông vào mình thể hiện qua việc "người Hoa Kỳ tôn trọng người Hoa Kỳ", thì tại Việt Nam, đạo lý vay mượn từ chủ nghĩa ngoại lai được thể hiện qua cách người Việt không biết trọng người Việt, thù hận lăng nhục được cổ võ. "Thương mình thương một thương ông thương mười." Ông đây không phải ông Việt Nam mà là ông Nga, ông Tàu. Nguyên do chỉ là vì "Ông bình vôi" còn đó. Ông ta không chỉ ở Hà Nội, mà còn ở khắp nước. Cả nước thờ cúng và cứ thế "càng sống càng tồi, càng sống càng bé lại."

Thực tế tháng Tư Việt Nam 2010, ngay cạnh lời chủ tịch nước kêu gọi hoà hợp hoà giải, đoàn kết để xây dựng đất nước (chắc nhắm món kiều hối 8, 9 tỉ đô mỗi năm), các trang báo điện tử nhà nước CSVN vẫn tiếp tục phô trương hình ảnh 50,000 người "mít tinh" mừng 30 tháng Tư ở Saigon, có bộ đội súng ống diễu hành, xe tăng diễn lại cảnh phá xập cánh cổng Dinh Độc Lập, đủ thứ văn hay chữ tốt khoe thành tích anh hùng, kể "tội ác mỹ ngụy."

Đặc biệt kỷ niệm "35 năm thống nhất", còn có cả một "hội nghị khoa học" nghiên cứu lại lịch sử 30 tháng Tư được tổ chức rình rang. Lịch sử có sẵn đó những bài học đáng học. Tại sao năm ấy chỉ riêng miền Nam đã khá hơn Hàn Quốc, Thái Lan, mà bây giờ cả nước thua kém? Có thể Nam Bắc cùng "ra biển lớn" ngay từ những năm 1970’ thay vì phải chờ 30 năm sau. Có thể quan hệ đôi bên cùng có lợi với Mỹ ngay trong hai ngày thay vì 20 năm. Có cách nào hay hơn để bảo vệ máy móc cơ khí tối tân thay vì gỡ chở ra bắc bỏ ngoài mưa nắng để bị xẻ thịt? Có cách nào bảo vệ vườn cây trái, đồng lúa miền Nam thay vì để dân phải tự động chặt bỏ…? Nghiên cứu khoa học về 30 tháng Tư có thể nào không biết đến tháng Tư 1885 của Mỹ? Có thể nào không biết suốt 35 năm qua, người Mỹ cũng không ngừng nhìn lại, tranh luận, phê phán sửa chữa về những sai lầm của chính họ trong chiến tranh Việt Nam? Có thể nào không coi lại về người cựu tù Hỏa Lò John McCain? Có thể nào không đọc bài "Our Saigon Friends Still Need Help" (James Webb, NYT 1991)? Cả hai và nhiều vị khác, vì muốn cứu giúp mang gia đình những tù nhân "cải tạo" -cùng chiến đấu một thời- sang Hoa Kỳ, mà đã giúp nhà nước ta "xuất khẩu H.O.". Rồi cứ thế thâu lời trên lưng những người mà chính công sản đã hành hạ.

Ông Webb nay đã là chủ tịch uỷ ban Đông Á Thái Bình Dương của Thượng Viện Mỹ, đang giúp tạo quân bình lực lượng tại biển Đông, tạo cơ hội vận động "đa phương hoá" biển Đông, giảm bớt thế Trung Quốc độc bá. Nhà nước ta hình như cũng bắt đầu "yêu thích" TNS James Webb.

Đúng là nhiều kinh nghiệm từ 30 tháng Tư cần được nhìn lại. Nhưng cái hội nghị khoa học 30 tháng Tư ấy nghiên cứu đề tài gì? Chỉ là nghiên cứu cách chế tác sự kiện lịch sử, làm bật lên tên tuổi vài ba anh hùng khác để thay thế cái ông Thượng Tá "tiếp thu" sự đầu hàng tại Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư?! Lý do, vì ông ta đã bỏ Đảng, bỏ quân đội anh hùng để tị nạn chính trị bên Pháp.

Cùng trong tháng Tư này, Vietnam Net, nhật báo điện tử chính thức của nhà nước CSVN -do một cấp thứ trưởng làm tổng biên tập- tin và hình ảnh lớn nhất trang Quốc Tế mỗi ngày của báo này đại loại là "Một sinh viên (Mỹ) ăn cắp 200 cái quần lót của nữ sinh", "Tỷ phú (Tàu) kén vợ", "MC truyền hình (Quảng Đông) tự khoả thân vì yêu nước", "10 siêu mẫu quốc tế bốc lửa" hoặc "Vị thành niên vũ khoả thân mỗi đêm kiếm 350 đô la"…

Đó là cách nhà nước "mở cửa" học hỏi thế giới để "đổi mới".

Có đáng ngạc nhiên không, khi nước Việt Nam sau 35 năm hoà bình được quốc tế xếp hạng thứ ba về thành tích… buôn người, cung cấp các bé gái cho thị trường mãi dâm Cam Bốt, cung cấp cô dâu, "osin" cho Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Li Băng…

*

Thưa các chú bác 101,

Khi giới thiệu con với các chú các bác, bác Lê Trị đã nói, "Kính mời quý niên trưởng và chiến hữu đơn vị 101 dành chút thì giờ xem qua bài viết để hỗ trợ cho hậu duệ con cháu chúng ta có tinh thần hướng về quê hương Việt Nam."

Trong bài "Chuyện nước Mỹ, Chuyện Việt Nam" mà bác Trị giới thiệu, con có đề cập tới cảnh các em thiếu nhi Hà Nội được (người lớn) tổ chức rước ảnh tưởng niệm ca sĩ nhạc Pop Micheal Jackson. Đám rước thiếu nhi ấy đi qua cái vườn hoa có tượng ông Lê Nin đứng. Ông ta vẫn tiếp tục đứng đó. Nhiều ông Nga, ông Tàu khác cũng vẫn tiếp tục đứng trong sách giáo khoa ở Việt Nam. Khi viết bài này, con nhớ thêm điều ấy.

Biết ơn sự hỗ trợ của các chú bác 101 dành cho, con hãnh diện được là con cháu các chú bác, những người đã tận lực chiến đấu và trả giá cho tự do và hiểu biết, hãnh diện được nghe, được đọc về ông cha, chú bác.

Ba năm trước đây, tại đêm nhận giải Viết Về Nước Mỹ, khi thình lình thấy mình từng "chung một nhà tù" với bác Lê Trị, với chú Trần Dạ Từ và biết bao chú bác khác, con đã… lờ quờ rồi im như thóc vì thực tình chẳng biết gì để nói. Làm sao kể được "thành tích" ấy. Bây giờ, biết thêm chút chút, khoe được với các chú bác rồi, con còn muốn chia sẻ thêm với các em của con những gì con thấy được. Em gái con còn ở Việt Nam, đã có hai cháu. Em trai con đang ở Úc, vợ chồng em cũng sắp có cháu.

Con biết lớp bạn trẻ ngày nay thường không hiểu cái giá mà cha chú từng phải trả để mình được an lành, tự do, no đủ. Có một số bạn trẻ từng ra vẻ… duyên dáng khi kể về chính cha chú mình, nói các ổng "theo đạo Hồi". Hồi đây không phải là Hồi Giáo. Chỉ là từ câu "Hồi xưa, hồi đó, hồi tụi tao…" mà các bạn thường phải nghe khi các vị cha chú bắt đầu câu chuyện.

Thưa các chú bác,

Thưa ba má, thưa ông ngoại của con,

Mọi chuyện con kể trong bài viết này đã bắt đầu bằng mấy tiếng “Hồi đó… Hồi xưa…”

Chuyện Việt Nam 30 Tháng Tư 1975 cũng có thể được coi là loại chuyện "Hồi đó, xưa rồi." Nhưng đạo nào thì đạo, hồi nào thì hồi, xưa mấy thì xưa, chừng nào chưa thật hiểu cái ngày 30 tháng Tư ấy, chưa học được bài học từ nó, thì ngay chính nước Việt Nam cũng khó mà khá hơn. Và người Việt hôm nay, ngày mai, nếu không hiểu về nó thì cũng thật khó có thể là… chính mình. Con đã nhận từ ông bà, chú bác biết bao chuyện về nỗi đau "hồi đó", niềm tin "hồi đó", ý chí "hồi đó". Với cả lòng biết ơn và hãnh diện, con thật muốn chia sẻ và nhắc nhở các em của con, cả với lớp con cháu của chị em chúng con sau này, rằng: Muốn tương lai khá hơn, muốn bước tới vững hơn, thì phải cố nhìn lại, nhìn lại, nhìn lại nữa!

30 Tháng Tư 2010

Anne Khánh Vân

Posted by Anne Khanh-Van at 4/30/2010 10:12:00 PM

3 comments:

Anonymous said…

You are so great, my hat off to you.

May 16, 2010 at 9:58 PM

Chú Bảo Trâm, 101 said…

Trước hết cảm ơn Anne về bài viết này. Cảm ơn Anne đã bỏ nhiều công suy nghĩ và sưu tập tư liệu để gởi đến các chú bác một bài viết rất súc tích và ý nghĩa. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là ngày đánh dấu một thay đổi quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Cảm nhận nó trong góc độ nào thì cũng là ngày buốn thảm nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhưng những ai học được bài học từ ngày đó mới thực sự hiểu được đầy đủ ý nghĩa của nó. Anne đã từ ngày đó, từ những gì xãy ra sau ngày đó đến nay để hiểu được, để viết ra và nhắc nhở cho thế hệ cùng thời với Anne và cả nhũng thế hệ sau: "Muốn tương lai khá hơn, muốn bước tới vững hơn, thì phải cố nhìn lại, nhìn lại, nhìn lại nữa…cái ngày 30 tháng Tư ấy."
Lời nhắc nhở thật sâu sắc.

August 15, 2010 at 7:47 PM

DƯƠNG PHÚ CƯỜNG said…

Anne viết chuyện đời khổ mà vui,văn nghe như là chuyện, hấp dẫn đến lạ lùng. Ước gì "mắt thấy mắt" để nghe được tiếng thì thầm của hơi thở, hồi hộp sâu lắng của nụ cười, cái đăm chiêu của ánh mắt khi ngôn từ còn ẩn sau ý.
Thường Nhân

April 21, 2014 at 6:34 AM

Posted in Tạp Ghi | Comments Off