Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Bản tin HNA số 14: Họp Đông Timor-Thủ Tướng Úc vớ vẩn-Nguyễn Sỹ Thùy Ngân góp ý cho CT Houston-VC tìm thêm đường để có thẻ xanh- Thủ Tương Vc xin lỗi vụ xe hơi chạy ở Hội An

Bản Tin Hoàng Ngọc An số 14- Auguts 19, 2016

Bản Tin Thời Sự Hoàng Ngọc An được viết cho Tuần Báo TMMD –Virginia, gồm các tin cộng đồng Hoa Thịnh Đốn và các tin đặc biệt trong cộng đồng người Việt hải ngoại hay trong nước có dính líu đến hải ngoại. Có nhiều links trong bản tin. Để hiểu rõ vấn đề hầu có được nhận định chính xác, quý độc giả cần theo links để xem. Hãy dành ít thời gian để đọc: đó cũng là một sự đóng góp vào con đường tranh đấu. Xin cộng tác bằng cách gửi tin đặc biệt trong vùng của quý vị đến chúng tôi hoặc nêu ý kiến về một vấn đề. Điều này sẽ giúp cho bản tin ngày một phong phú và có hiệu quả trong truyền thông để xây dựng một cộng đồng Việt Nam hải ngoại vững mạnh trong vườn hoa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Trong số này: Hội nghị Xã Hội Dân Sự ở Đông Timor-Một cư dân Houston bị lừa và lại gặp may từ chuyện bị lừa-Khi Thủ Tướng Úc vớ vẩn- Nguyễn Sỹ Thùy Ngân và thư gửi CT Houston- VC tìm thêm con đường nào để đi Mỹ-Thủ Tướng VC xin lỗi vì để đoàn xe hơi chạy trong phố cổ Hội An.

************

Hội Nghị Xã Hội Dân Sự ở Đông Timor

Trong khi cộng đồng Hoa Thịnh Đốn dậy sóng vì bầu cử liên danh cá nhân ( bước một của bầu cử chủ tịch cộng đồng) thì tại Đông Timor có Diễn đàn Người Dân Đông Nam Á do các tổ chức xã hội dân sự độc lập Đông Nam Á đồng thực hiện với trên 800 đại diện các nước, trong đó có Việt Nam. Trong buổi này, các tổ chức XHDS quốc doanh đã bị lộ tẩy khi không dám trả lời phỏng vấn.

Coi tại link sau:

RFA-Xã hội dân sự độc lập và xã hội dân sự nhà nước, thỏa hiệp hay công kích?

Dan Trần, dù rất bận với doanh nghiệp riêng, cũng đã tự bỏ tiền túi tham dự diễn đàn. Khi Dan Trần gửi hình lên facebook thì tôi có nói đùa. Copy từ facebook của Dan Tran về đây:


26You, Andy H. Nguyen and 24 others

Comments

LanChi Hoang Con đường tranh đấu rất chông gai nhưng khi có chiến hữu cùng song hành (và có cả …chị hai ngầm yểm trợ đăng sau!!!) thì ….khó bao nhiêu cũng vượt qua, gai bao nhiêu cũng nhổ, khổ bao nhiêu cũng nếm, phải không Dan M Tran?

Like · Reply · 2 · August 12 at 12:07pm

Dan M Tran Vâng đúng vậy Chị 2 à.

Và đây là Dan Trần trả lời phỏng vấn khi ở Nam CA, trước khi bay đi Đông Timor:

https://dl.dropboxusercontent.com/u/81211407/BPSOS.mp3

Dan Trần là một cậu em, luôn “love chị hai Hoàng Lan Chi ” chỉ vì chị hai đã “dọn cỏ” cho các em hoạt động. ( Trích mail từ Dan Trần: “ Kính chị Lan Chi thân mến, Đọc nhiều bài viết cúa chị, em đã cảm nhận một sự quyết tâm tạo dựng một CĐ có kỹ cương và một cách làm việc có “Tịnh – Minh – Chính – Trực” mà thế hệ 1.5 và 2 phải học hỏi từ chị. Chị đã tạo ra “tiêu chuẩn” trong thời tin học điện thư là phải có “chứng cứ” và luôn luôn phải có “lợi ích của sự nghi ngờ” trước khi phán một việc có phương hại đến thanh danh một cá nhân nào mà quên đi lợi ích lâu dài của CĐ hoặc việc làm có hiệu quả của cá nhân hoặc hội đoàn đó, không thì vô hình chung làm lợi cho nghị quyết 36 của cs. Nhiều “ngài” trong CĐ của chúng ta không ngần ngại lạm dụng nó để làm nồi da sáo thịt trong hàng ngũ QG. Chị đã không ngần ngại nhổ nhiều cỏ dại trong khu vườn VN hải ngoại. Anh Trương Thế Hải đã thán phục chị như “Nghĩa Sĩ” thì quá đúng với thiên chức của chị. Tâm phục khẩu phục chị!) ( Ngưng trích).

Bị lừa và găp may từ việc bị lừa

Một bà mẹ tại Houston, từng bị lừa và mất đi hàng nghìn đô la khi mua một chiếc xe SUV trên Craigslist, đã gặp may vào giờ chót khi được biếu không chiếc xe đó, bản tin đài ABC 13 cho hay. Lý do: khi đem giấy tờ đi làm giấy chủ quyền thì bà mới khám phá ra rằng chiếc Honda Pilot đó đã từng bị đánh cắp khỏi đại lý bán xe hơi Clear Lake Infiniti. Đại lý này “cám cảnh” trước hoàn cảnh của bà (Bà Cora Hernandez là một bà mẹ một mình với bốn người con, trong đó có một người con có nhu cầu đặc biệt phải dùng xe lăn) nên đã tặng thay vì truy tố.

Khi ngài Thủ Tướng Úc …vớ vẩn (!)

Thủ tướng Úc Malcolm Turnbull và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã nói chuyện vào buổi tối ngày 18/8, theo trang tin Úc news.com.au. Lý do: VNCS, ban đầu đồng ý nhưng về sau lại từ chối không cho tổ chức “rầm rộ” tại Long Tân, Vũng Tầu. Tại đây có di tích lịch sử Bia Thánh giá Long Tân, xã Long Tân, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bia này ghi nhớ trận đánh nhiều thương vong nhất của quân Úc trong Chiến tranh Việt Nam.

Làm sao Cộng sản VN cho quý vị đến Long Tân làm lễ “tưng bừng” được vì đó là chứng cớ cho thấy Úc Đại Lợi đã là một đồng minh mạnh mẽ với Hoa Kỳ khi có mặt tại miền Nam VN để chống trả sự xâm lược cuiả làn sóng đỏ mà vc là một tay sai?

Ông Thủ Tướng Úc nên ra lịnh điều tra về nhân thân của Toàn Quyền Nam Úc, ô Lê Văn Hiếu, thì hay hơn. Nếu quả đúng là ô Hiếu đã dối gạt chính phủ Úc khi xin tị nạn chính trị năm xưa, thì ông Thủ Tướng Úc nên bỏ tù ngài Lê Văn Hiếu trước khi trao trả ngài Hiếu về với VC.

Coi BBC tại link sau:

§ BBC- VC từ chối không cho làm lễ kỷ niệm Long Tân ở Vũng Tàu

Nguyễn Sỹ Thùy Ngân và thư gửi CT Houston

Báo Người Việt, một tờ báo bị gân 150 tổ chức, hội đoàn tẩy chay năm 2012 vì đã nhiều lần vi phạm lằn ranh quốc cộng qua các sự việc (Tử Vi Nhân Quang với tên VC chóp bu, chậu rửa chân ngành nail có cờ VNCH, bài của Sơn Hào mạ lị toàn thể quân dân cán chính VNCH), vừa “chơi xỏ” cộng đồng người hải ngoại qua bài phỏng vấn Chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng Houston, Trần Tuấn Anh. Sau đó, Nguyễn Sỹ Thùy Ngân góp ý vói ô Tràn Tuấn Anh.

Đây là lời tôi giới thiệu về thư của Nguyễn Sỹ Thùy Ngân: (LGT: thưa quý vị, hôm trước khi đọc bài phỏng vấn Trần Quốc Anh trên báo Người Việt, tôi rất bực mình. Trước ông Anh là Phan Quốc Cường. Họ có những cái mà họ tưởng là đúng, thật ra không đúng tí nào. Ông Anh đã vơ đũa cả nắm, nhận xét phiến diện về cộng đồng người Việt hải quốc gia. Ông ta không biết đặt mình vào vị thế của thế hệ Một, vừa đào thoát cộng sản, đang đau đớn với hờn mất nước vừa phải tồn tại cùng gia đình trong môi trường mới lạ. Bằng ấy thứ vẫn không làm họ chùng chân mỏi bước trong việc xây bờ đắp lũy cho một vùng đất mới trên một quê hương hiệp chủng. Sau bao năm, với bao thành tựu, với bao nỗ lực, lá cờ vàng của một thể chế giờ đây không còn, của một quốc gia mất tên và không còn lãnh thổ, lại tiêp tục phất phới khắp thế giới và giờ đây là tượng trưng cho Tự Do-Dân Chủ. Ông Trần Quốc Anh bước vào một cộng đồng đã được hình thành với những nền gạch tối thiểu, nhưng khi mới va chạm với vài điểm xấu, ông đã quy chụp cho đó là của toàn thể cộng đồng, của toàn thể người Việt hải ngoại. Tôi đã rất tức giận khi bài phỏng vấn mới xuất hiện. Báo Người Việt là môt thứ báo Việt lạc loài, luôn “chơi xỏ” cộng đồng. Vậy mà vẫn còn những hội đoàn, tổ chức, cá nhân, quá hời hợt, vẫn tiếp tục cộng tác hay đăng quảng cáo, phân ưu trên báo NV! Trở lại với ông Nguyễn Quốc Anh, tuy tức giận nhưng tôi đang quá bận nên không có thì giờ viết.

Hôm nay, bài của Nguyễn Sỹ Thùy Ngân (thú thật nghe hơi quen nhưng không nhớ là ai) đã viết hộ dùm tôi dù rằng còn nhẹ lắm. Vài người trong cộng đồng, nhận định rất hời hợt lại còn khen Trần Quốc Anh!! Rõ là điên! Cá nhân tôi không chấp nhận những người trẻ, có đủ điều kiện thuận lợi khi theo cha mẹ đến Mỹ, nay hoạt động cộng đồng lại có những ngôn ngữ “láo lếu” ,“ăn cháo đái bát”, vì không biết giải quyết vấn đề một cách khôn ngoan, không biết thu phục kẻ xấu , không biết hướng người già khác văn hóa khi làm việc cộng đồng chung)

Coi tại link sau:

§ Nguyễn Sỹ Thùy Ngân- Thư gởi ông Trần Quốc Anh-Nhận xét của Hoàn g Ngọc An

VC tìm thêm con đường nào để đi Mỹ

VC gộc, có nhiều tiền, đãtìm đủ cách để có thẻ xanh ở Mỹ. Ngoài con đường hôn nhân, thương mại, hiện giờ thêm một kiểu: trùng tu di tích lịch sử.

Xem thêm ở link sau:

§ Trùng tu di tích lịch sử để có thẻ xanh ở Mỹ – Tin trong nước

Tư cách và nhân cách của VC- Thủ Tướng VC xin lỗi vê vụ xe hơi chạy ở phố cổ Hội An

Thủ Tướng VC, khi thăm phố cổ đã để đoàn xe hơi di vào con đường cấm. Dư luận ở net lên án nặng nề. Sau đó Thủ Tướng VC xin lỗi.

Xem một bài viết nhận xét về việc này tại link sau:

§ Thủ Tướng VC xin lỗi về việc để đoàn xe đi vào phố cổ Hội An

Hoàng Ngọc An

8/2016

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Hoàng Lan Chi -Gia Long 60-67

Hoàng Lan Chi tên thật là Đinh Thị Quỳnh Giao, đệ thất 14.   GL 60-67.

Hoàng là Họ ngoại, Lan là loài hoa thích sau hoa hồng, Chi là tên con gái

Hiện tại có 2 cháu nội

5&18tuoi

DeNhiGiaLong

WithGLVirginia

NhomNamCA

WithBichNgoc

WithCoNhung

Gia Đình 

GiaDinh

Đây là Hoàng Lan Chi theo thời gian

GiongThoiGianTu1954

Posted in Tiểu Sử & Hình Ảnh | Comments Off

Nguyễn Văn Lục (Một số kinh nghiệm về 20 năm nền giáo dục miền Nam)

Nguyễn Văn Lục

Một số kinh nghiệm về 20 năm nền giáo dục miền Nam

Bài dăng từ Đàn Chim Việt

LGT: Nguyễn Văn Lục là GS Triết trước 75 và viết bài ở hải ngoại. Bài của ông thường là khảo cứu và rất công phu. Hôm nay, có lẽ sau khi đọc bài ( Hoàng Lan Chi với Gia Long Brisbane) của tôi ( link: Hoàng Lan Chi với Gia Long Brisbane- August 2016 ) nên ông bèn gửi bài của ông đăng trên danchimviet với cái “subject mail” rất dễ thương ( Gửi chút qùa cho Gia Long).

Món quà này, bài (Một số kinh nghiệm về 20 năm nền giáo dục miền Nam) của Gs Lục gửi người Gia Long (Hoàng Lan Chi ), đã làm Hoàng Lan Chi khóc sướt mướt trong một ngày mùa đông Brisbane. Tim tôi đau nhói và những ngày cũ hiện về. Tất cả những gì ông viết đều đúng và những nhận xét về “nhà giáo” của ông làm tôi giá buốt chỉ vì họ hàng tôi , gia đình tôi đều là “nhà giáo”. Bản thân tôi, dù không thích nhưng như cái “nghiệp tổ tông”, tôi cũng gõ đầu trẻ mấy năm. Nhận xét này của GS Lục làm tôi rất ưa thích (Nền giáo dục ấy tuy nhẹ về phần thực dụng cũng như thể dục lại nặng về phần trí dục và cũng chú trọng nhiều đến phần đức dục, nhất là ở những năm tiểu học. Phải chăng đó chính là những nét đẹp nhất của nền giáo dục miền Nam?). Vâng, nền giáo dục của chúng ta, qua hai nền cộng hòa, nặng về đức dục và cá nhân tôi cũng bị ảnh hưởng sâu đậm bởi giáo dục ấy. Đó cũng là lý do mỗi khi viết về Gia Long, tôi vẫn có một niềm tự hào. Bài viết mới nhất về Gia Long Brisbane, cũng đề cao cái tình, cái “ái hữu” của Gia Long.

Những nhận xét về “giấy rách giữ lề” của nhà giáo làm tôi quặn đau. Nước mắt tôi lả chả khi đọc đến đoạn GS Lục kể, người thầy dậy Sử địa năm xưa giờ là trò của ông, khi ông nói rằng (Lần này thì tôi không thể nói, “Tôi là Carnot đây.”Tôi phải nói thế nào? Tôi chỉ thấy hoàn cảnh rất oan trái của một số thầy làm nghề dạy học. Dáng đứng uẩn khuất của thầy dạy sử địa của tôi không dễ mà thấy được. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi Thầy là ai? Nhưng ít ra cũng là cái gương hiếu học đáng quý của người Việt Nam mà thầy tôi là một trong vô số những người ấy. Nếu được phép nói thì, “Thưa thầy, con vẫn kính trọng thầy.”). Ngưng trích.

GS Lục cũng kể về một chuyện liên quan đến đức dục của Gia Long NK (71-72). Lúc đó tôi đã ra trường rồi. Tôi chỉ mới biết câu chuyện này do một GL kể lại vào 2015. Khi nghe, tôi đã không đồng ý với các em nữ sinh đó. Nhà trường đã kịp thời chặn, hai cô nữ sinh bị zero hạnh kiểm. Tôi hoàn toàn đồng ý về biện pháp xử phạt của nhà trường.

Nhận định về các nhà giáo tiêu biểu, GS Lục liệt kê cô Hiệu Trưởng Trần Thị Tỵ của chúng tôi. GS Lục thắc mắc cô Tỵ làm cách nào điều hành được Gia Long sau 75. Xin thưa cùng giáo sư: sau 75, khi các nam giáo sư trường khác đến trường Gia Long chấm thi, cô Tỵ chúng tôi vẫn yêu cầu họ đậu xe riêng một nơi. Dường như cô Tỵ cũng “đấu tranh” với cộng sản khá nhiều khi họ phá vỡ những nề nếp cũ, làm nên danh tiếng Gia Long của chúng tôi.

Xin giới thiệu bài viết ( Một số kinh nghiệm về 20 năm giáo dục miền Nam) của GS Nguyễn Văn Lục. Có lẽ tựa do Đàn Chim Việt đặt chăng vì với cá nhân tôi là không hay. Đây phải nói là đem tâm tình viết lịch sử.

Xin cảm ơn GS Nguyễn Văn Lục rất nhiều về bài viết công phu này. Theo tôi, tất cả mọi người nên đọc vì tất cả đều trải qua giáo dục VNCH, không nhiều thì ít. Bài viết này của Gs Lục, nhắc nhở tôi là tôi mải mê với (đánh việt gian bảo vệ phòng tuyến quốc gia) quá và đã quên rằng, tôi, cô nữ sinh Gia Long, cần phải viết về những người Thầy Gia Long của mình.

Hoàng Lan Chi

********************************************

Một số kinh nghiệm về 20 năm nền giáo dục miền Nam

Bài dăng từ Đàn Chim Việt

Posted on August 3, 2016 by editorNo Comments ↓

Nguyễn Văn Lục

Nhìn lại nền giáo dục của 20 năm miền Nam dễ mà cũng khó. Dễ ở chỗ nếu chúng ta chỉ nhìn vào những thành quả đạt được của các trường Kỹ sư Phú Thọ, trường Quốc Gia Hành chánh, trường Đại Học Sư phạm, trường Y Khoa và ngay cả các trường sĩ quan Hải quân, Không quân và các trường sĩ quan Thủ Đức và nhất là sĩ quan Đà Lạt.

Đem tâm tình viết lại một số trải nghiệm về 20 năm nền giáo dục miền Nam

“Thầy ơi, thầy khổ đã bao lần?
Mái tóc sương pha đã mấy phần?
Có lắm chiều tà mưa phủ trắng.
Thầy cười tha thứ kẻ vong ân.”
(Nguyễn Duy).

(Trích lại trong bài Từ trường học đi tới Trường đời của Nguyễn Thị Thu Hương, một cựu nữ sinh Gia Long, báo Đi Tới, số 37-38, trang 160, năm 2000).

Lời mở đầu

Nhìn lại nền giáo dục của 20 năm miền Nam dễ mà cũng khó. Dễ ở chỗ nếu chúng ta chỉ nhìn vào những thành quả đạt được của các trường Kỹ sư Phú Thọ, trường Quốc Gia Hành chánh, trường Đại Học Sư phạm, trường Y Khoa và ngay cả các trường sĩ quan Hải quân, Không quân và các trường sĩ quan Thủ Đức và nhất là sĩ quan Đà Lạt.

Càng dễ hơn khi các thành phần ưu tú nhất của nền giáo dục ấy được gửi đi du học qua sự tuyển chọn của các học bổng quốc tế, hoặc tự túc mà các sinh viên đã đạt được những kết quả đáng nể nơi xứ người.

Sau 1975, lại một dịp nữa mà không thể nào không lưu ý đến yếu tố chính trị, có dịp so sánh với chế độ giáo dục miền Bắc càng cho thấy có một khoảng cách xa về trình độ chuyên môn của hai miền.

Sự trội vượt của nền giáo dục miền Nam thật rõ ràng.

Các thành phần di tản sau 1975 và Boat people lại một lần nữa chứng minh cho mọi người thấy rằng giới các bác sĩ, dược sĩ, các ngành kỹ sư lại có dịp đọ sức và họ đã trở thành các chuyên viên trên khắp thế giới.

Sự thành công này với một số đông áp đảo như thế gây ngạc nhiên cho người bản xứ không ít. Đã có đôi lần khai tên, Mr. Nguyễn. Nhân viên hỏi thêm, ông là bác sĩ. Lại cười hãnh diện, “Thưa không”. Thưa tôi cũng có làm nhà thương, nhưng chỉ là y công thôi.

Khuynh hướng của người Việt di tản – hơi thiển cận – là cho bằng được phải thúc ép con em học bác sĩ, dược sĩ. Nơi tôi ở có 4 trường Y, nhận mỗi năm trung bình 400 sinh viên. Tỉ lệ sinh viên Việt Nam trúng tuyển là trên 10%. 40 sinh viên trên tổng số khoảng 35 ngàn người Việt! 90% kia chia cho 6 triệu dân bản địa! Đó là chưa kể số sinh viên gốc Việt ở các khoa học về răng, về mắt, về thuốc, v.v.

Sự thành công chói sáng ấy với tiền bạc dư thừa làm lóa mắt nhiều người, đôi khi gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc giáo dục và quan hệ trong gia đình.

Nhưng cái khó để hiểu thực chất nền giáo dục miền Nam trên căn bản khoa học, dựa trên con số thì hiếm. Tài liệu duy nhất mà hiện nay còn giữ được và được xuất bản ở hải ngoại là cuốnSáu năm hoạt động của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa do ông Hồ Đắc Huân sưu tập. Cuốn sách thật quý giá.

Tuy nhiên, cuốn sách chỉ đưa ra được những con số học sinh, sinh viên ở các cấp từ tiểu học, trung học đến đại học trong 6 năm. Nhưng kết quả tốt nghiệp thì lại không có, trừ kết quả của các trường đào tạo chuyên môn.

Cái khó khăn thứ hai của nền giáo dục miền Nam là có hai hệ thống giáo dục: Trường công lập và trường tư thục. Do đà dân số gia tăng, các trường tư ngày càng nhiều so với trường công. Có một sự chênh lệch rõ ràng về kết quả thi cử như một số dẫn chứng theo sau.

Trong việc giáo dục việc trồng người nó cũng một phần tương tợ như việc trồng cây.

Trồng thì phải có kết quả. 10 cây trồng thì ít ra cũng có 9 cây cho hoa trái.

Vậy mà số lượng từ 75% đến 80% phần trăm thí sinh tú tài ở các trường tư thi rớt.

Không ai hỏi xem lý do nào đưa đến kết quả xấu như thế và số phận những học sinh này ra sao? Đây là mối băn khoăn ám ảnh hầu như suốt quãng đời đi dạy của tôi.

Nếu ở trong một xã hội tân tiến, người ta sẽ đặt ra vấn đề chất lượng giáo dục đào tạo – đào tạo để làn gì? Đào tạo cho ai? Và về mặt xã hội dân sự làm thế nào giải quyết công ăn việc cho những người thi rớt trên? Chuyên môn không có, chưa ra ông mà cũng chẳng ra thằng, thợ cũng không phải thợ.

Rõ ràng có một lỗ hổng rất lớn trong nền giáo dục miền Nam. Đào tạo mà không có tính thực dụng, không có chuyển hướng theo khả năng của người thanh niên. Đào tạo cái đầu mà không nghĩ đến cái tay.

Đáng lẽ ngay từ khi hết bậc tiểu học đã phải chuyển hướng một số học sinh học nghề, học kỹ thuật, học làm thợ là chính, kiến thức chỉ là thêm vào.

Tình trạng lạm phát học sinh trình độ tú tài thi rớt đáng lý trở thành một gánh nặng cho xã hội thì may thay đã có một chỗ chứa. Đó là các quân trường từ lính đến hạ sĩ quan và sĩ quan, do nhu cầu của chiến tranh. Nói một cách thực tế thì đây là những thành phần hữu dụng và trở thành những người lính nồng cốt, những sĩ quan ưu tú của quân lực VNCH. Một sĩ quan thì ít nhất cũng có trình độ kiến thức hết bậc trung học cả về khoa học đến ngoại ngữ. Thật là trong cái rủi có cái may.

Trên đây là mấy nét phác họa về nền giáo dục miền Nam. Nền giáo dục ấy tuy nhẹ về phần thực dụng cũng như thể dục lại nặng về phần trí dục và cũng chú trọng nhiều đến phần đức dục, nhất là ở những năm tiểu học. Phải chăng đó chính là những nét đẹp nhất của nền giáo dục miền Nam?

Phần sau đây, với những kinh nghiệm của chính bản thân tôi vẽ lại chân dung nền giáo dục ấy qua quãng đời đi học và dạy học.

Phần Chính đề

Sự tự trách cứ ở trên nói lên một tấm lòng còn chút tình con người mà ở đâu còn chút ấy thì tương lai con người còn được thắp sáng.

Phần tôi đã nhiều lần phản bội thầy như thế nên tôi dễ chia xẻ với 4 câu thơ trên.

Một lần khi tôi chạy xe Lambretta trên đường Phan Thanh Giản, lúc sắp quẹo vào Ngã Bảy, Lý Thái Tổ, chợt tôi thấy thầy của tôi dạy Pháp Văn – vẫn áo vét trắng, quần trắng, mũ phớt, dạy tôi ở trường Họ Saigon dành cho học sinh di cư năm 1956, thầy đang ì ạch đạp xe giữa buổi trưa nắng. Thầy tôi mặc áo vét trắng, mũ phớt, giầy tây mà đạp xe đạp- trông nó thế nào ấy! Nó cho người ta có cảm giác như lỗi thời đến tội nghiệp trong một sự tương phản ‘giấy rách nhưng vẫn giữ lấy lề’.

Đấy là bức tranh toàn cảnh phần đông nghề thầy của miền Nam giai doạn 1955-1960. Phần đông các thầy còn đi xe đạp, nhưng lại mặc áo vét. Chính cái áo vét này nó gây sự chú ý của mọi người. Cái áo vét đó tượng trưng cho một thời kỳ thoái trào giữa cũ và mới.

Ta gọi là buổi giao thời vậy.

Trong chuyến tàu chót đó, cái áo vét như một vật dư thừa cuối mùa, nhận đủ oan trái của lớp người mới. Có lẽ may ra chỉ có thầy Vũ Hoàng Chương là vẫn có phong thái ung dung ngồi xích lô đạp đến trường.

Một nghề được coi là cao quý nhất, được nhiều người quý mến nhất trên lý thuyết, trên sách vở, trong sách Quốc văn giáo khoa thư, trong các bài học của thầy cô giáo bậc tiểu học. Nhưng về mặt thực tế xem ra bị bạc đãi nhất.

Hầu như người ta có cảm tưởng làm nghề thầy/cô giáo là đồng thời chấp nhận một cuộc sống đạm bạc. Một thầy, một cô, một chó cái!

Đó là sự thanh cao trong cảnh túng quẫn. Người ta nói như thế. Thầy ở đâu cũng có thể nghèo. Thời nào cũng vậy.

Thời lều chõng đến thời xe đạp.

Thật bất nhẫn, tôi không dám tiết lộ hết những cái nghèo đó ra đây.

Khi vào trường đời, tôi cũng đã gặp khá nhiều đồng nghiệp chấp nhận một cuộc sống mà sự đạm bạc trở thành một thứ đạo đức nghề nghiệp.

Lần ấy, tôi đã không đủ can đảm dừng xe lại chào thầy lấy một tiếng mà lại vội đi thẳng. Đáng lẽ tôi phải làm như người xưa, dừng xe lại và thưa,

“Tôi là Carnot đây, thầy còn nhớ tôi không?”(1)

Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Trang 53.

Hình ảnh thầy dạy Pháp văn gợi nhớ đến một số thầy khác như thầy Huy Kinh, thầy Nguyễn Phố. Thầy Huy Kinh, đầu chải tém ra đằng sau, mặt mũi khắc khổ. Thầy luôn luôn trịnh trọng thắt nơ trong bộ vét trắng, thong thả gác chiếc xe đạp, khóa cẩn thận trước khi vào lớp.

Mặc âu phục, đi xe đạp là nếp sống văn hóa Tây còn sót lại chăng?

Vào lớp, thầy giảng Kiều thao thao bất tuyệt mà bọn học trò di cư ngỗ nghịch không nghe.

Người ta có cảm tưởng dưới kia không phải học trò mà là ‘Một bầy thú trước bảng đen!’

Sự khao khát truyền đạt, thiện chí có dư của thầy, thầy giảng mà như thể đang diễn thuyết, sự ăn mặc trang trọng nghiêm chỉnh của thầy, như vang bóng một thời còn sót lại, đã không được học trò đón nhận. Giảng mà như một cuộc độc thoại, mình nói mình nghe! Có cái hoàn cảnh nào bạc bẽo hơn không? Rất may, cái cảnh này không phải là hoàn cảnh phổ biến.

Tuy nhiên, hình như có một thói quen giảng bài rất trái sư phạm của một số thầy lớn tuổi. Khi giảng các môn Việt Văn và môn Sử địa – bị cuốn hút vào dòng tư tưởng – các thầy giảng như thể diễn thuyết. Người ta không thể diễn thuyết nhiều lần trong một ngày, trong cả năm. Đây là điều người ta gọi là bán cháo phổi. Dạy riết đến độ phổi nóng ran lên.

Theo tôi đây là là một đặc điểm rất nên ghi nhớ lại. Tôi còn hình dung ra được thầy dạy Việt Văn trường Văn Lang của ông Ngô Duy Cầu hồi mới di cư vào Nam, cổ thắt cà vạt – trời nóng, hơi người, lớp học mái tôn, quạt mát quạt hơi nóng – người thầy nhễ nhãi mồ hôi, bất chấp mọi chuyện, thầy vẫn giảng oang oang như chỗ không người.

Nghĩ lại, các thầy của tôi những năm ấy sao gian truân thế! Vì cái gì nhỉ? Chẳng lẽ chỉ vì miếng cơm manh áo? Hay vì nhẫn nại chớ thời cho một vận may chính trị?

Trên thực tế, nghề thầy trong thời diểm ấy là nơi trú ẩn của nhiều thứ: Chờ thời cũng có, ẩn náu dấu mình cũng có, dạy học qua ngày cũng có. Người chuẩn bị làm bác sĩ, dược sĩ, luật sư cũng đi dạy. Chữ đúng nhất trong trường hợp này là vừa đi dạy, vừa đi học. Vừa cầm phấn vừa cầm bút.

Duyên Anh, Bàng Bá Lân, Trần Bích Lan, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Trần Phong Vũ, Phạm Việt Tuyền, Chu Tử và nhiều người khác. Ai đích thực là người thầy?

Hỏi ra ai cũng có lúc làm thầy.

Thế thì có thể nào phân biệt được nghề thầy như một cái nghiệp và nghề thầy như một nơi tạm trú? Hay là chỉ có thầy dạy trường công mới là thầy?

Dù là thầy loại nào, tôi vẫn thương các thầy này, xót xa cho sự bạc bẽo của nghề dạy học. Vậy mà sau này tôi lại tình nguyện chui đầu vào như một kẻ đi lộn chuồng.

Thế nào là một ông thầy nhỉ? Tôi sẽ có câu trả lời ở phần sau.

Nhưng tôi có thể nói trước bây giờ là phần đông những đồng nghiệp của tôi, những người được đào luyện chính quy, họ xứng đáng là ông thầy. Ít lắm là phần đông thấy họ hiền lành.

Họ có cái phong cách là ông thầy, dù không biết bề trong thế nào.

Và nay, nhìn lại 20 năm miền Nam, tôi vẫn thấy mình hãnh diện vì đã được học hành, được lớn lên, trưởng thành trong một môi trường giáo dục tốt đẹp.

Thiển nghĩ, nhiều học trò có món nợ ông thầy trả không hết, Không thầy đó mày làm nên. Ca dao chẳng nói đó sao:

“Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài
Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi.”

Kinh nghiệm thứ hai của tôi thì oái ăm hơn.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết phải đối xử thế nào cho phải. Hồi mới di cư vào Nam, học một trường tư ở Chợ Lớn là trường Phong Châu, tôi nhớ là lớp 5ème. Tôi học một thầy sử địa, người Bắc; cả trường chỉ có hai thầy trò lẻ loi là người Bắc. Phần còn lại cả trường đều gọi cảnh sát là ‘Mã tà’ cả. Thầy trông hiền lành, nghiêm chỉnh, giảng bài bằng tiếng pháp rất lưu loát. Tôi cứ nghĩ thầy phải giỏi lắm.

Là học trò di cư khổ lắm. Khổ hơn nữa là trong lớp chỉ có mình tôi như thế – theo đạo, di cư, học trễ – 18 tuổi đầu mới ngồi lớp tiếp liên với thầy Trần Văn Quới, cũng là thầy dạy tác giả Nguyễn Tấn Bi, học trước tôi năm bảy năm.

“Hồi cách đây trên nửa thế kỷ, sau khi tốt nghiệp lớp năm, tức là đậu xong bằng Sơ học yếu lược (Certificat d’Etudes Primaires Complémentaires Indochinoises), học sinh tỉnh Chợ Lớn bọn tôi có giỏi giang cách gì, cũng phải lên một lớp chóp bu cuả bậc tiểu học, bấy giờ gọi là lớp tiếp liên, nói nôm na là lớp dự bị trung học.. […]

Thuở đó mà nghe nói tới dân premiere année hay deuxièmer année là ngon quá mạng giang hồ, vì con cái quan quyến, cha chú mới học tới đó chớ còn dân ngu khu đen nhu bọn tôi, là cả cái gì xa lạ lắm. […]

Thầy dạy duy nhất cho lớp nầy từ khi mở ra cho đến khi giải tán là Thầy hiệu trưởng Trần Văn Quới, địa phương quen gọi là ông Đốc Quới… Thầy Quới dạy là phải biết. Tiếng Pháp học grammaire kỹ hơn trước. Sử địa cũng lạ hơn trước vì chỉ học lịch sử và địa lý của nước Pháp. Vẽ bản đồ các tỉnh thành của nước pháp giống hình lục giác, tô màu từng tỉnh khác nhau. Nghĩ cũng tức cười, xứ sở mình bao nhiêu tỉnh không biết hết, chỉ biết các tình miền Nam…[…]

Năm cuối cùng ở tiểu học, đưọc học với thầy Đốc Quới ai cũng phải nhận thầy là nguời kinh nghiệm, nhiều bản lảnh, và nhất là cái lối giảng bài của thầy thì trời sầu đất thảm lẳm. Có nghĩa là thầy giảng và dịch thật rõ ràng để tránh cho học trò không lầm lẫn khi viết tiếng Tây.”(2)

Vào khoảng sau 1970, tôi có dạy luyện thi môn triết tại trường Trường Sơn, đường Lê Văn Duyệt. Hiệu trưởng là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế.

Lớp học buổi tối từ 7 giờ đến 10 giờ. Người học thường là công chức, quân nhân hoặc học sinh muốn học thêm. Thành phần hỗn tạp. Trình độ cao thấp không biết được. Một bữa nọ, tôi nhận ra người ngồi ngay đầu bàn ở dãy cuối cùng lại đúng là thầy Sử địa năm nào của tôi đang ghi ghi chép chép.

Tại sao thầy không kiếm một chỗ ngồi ở một góc khuất nào kín đáo hơn để tôi không nhận ra thầy? Tại sao thầy lại vô ý chọn ngồi đầu bàn ngay lối đi lên xuống của tôi?

Tại sao thế? Thầy đặt tôi vào một hoàn cảnh khó xử. Tôi hầu như không tin vào mắt mình. Nhưng nhìn kỹ lại đúng là thầy mình chứ không thể nhầm được. Tôi hơi choáng trong nghịch cảnh thế này. Nhưng thầy vẫn có vẻ thản nhiên ngồi chăm chú nghe tôi giảng. Giả dụ thầy nhận ra tôi, thầy có tiếp tục đi học nữa không?

Sau này, tôi nghĩ thầy lỡ thời bất đắc chí phải đi dạy nên nghĩ nay phải có thêm bằng tú tài II để vào đại học? Kiến thức thầy có thừa, tiếng Pháp của thầy đi chấm thi tú tài II, ban C cũng dư. Vậy mà thầy ngồi kia. Thầy học tôi được cái gì? Ai dạy ai? Chắc chắn là thầy không nhận ra tôi. Nhưng chắc chắn là tôi nhận ra thầy.

Lần này thì tôi không thể nói, “Tôi là Carnot đây.” Tôi phải nói thế nào?

Tôi chỉ thấy hoàn cảnh rất oan trái của một số thầy làm nghề dạy học.

Dáng đứng uẩn khuất của thầy dạy sử địa của tôi không dễ mà thấy được. Cho đến bây giờ tôi vẫn tự hỏi Thầy là ai?

Nhưng ít ra cũng là cái gương hiếu học đáng quý của người Việt Nam mà thầy tôi là một trong vô số những người ấy.

Nếu được phép nói thì, “Thưa thầy, con vẫn kính trọng thầy.”

Chuyện như thế cũng xảy ra với bạn bè. Không quan trọng lắm. Lần này, tôi dạy hai lớp luyện thi cho học trò trường tây tại Trung tâm Cao Bá Nhạ, đường Cao Bá Nhạ để thi tú tài Việt Nam. Học trò đều là lớp con cái nhà gia thế, có tiền của. Trình độ đồng đều, có phần ưu thế hơn học trò trường Việt về các môn Anh văn, Pháp văn và kiến thức tổng quát. Phải chăng học trò trường Pháp có một truyền thống học đường? Con gái thường mặc áo chemise, quần dài hay mặc đầm, ít mặc áo dài; tưởng họ ngổ ngáo, xem ra lại tỏ ra lễ phép hơn học trò nhốn nháo trường tư Việt.

Điều này tôi phải nói thật như vậy. Sự kính nể và chăm chú nhìn rõ trên khuôn mặt học trò.

Tâm tình chúng cũng khác lắm.

Carte chúc Noel, sinh nhật mà ít học trò trường Việt nào làm. Đón ở cửa lối ra để chào thầy ra về. Đi qua mặt một học trò lúc vào lớp, có thể có lời chào nhẹ, kín đáo, chào thầy. Hỏi một thắc mắc chưa hiểu, hỏi một danh từ tiếng Pháp tương đương với chữ tiếng Việt lúc tan học mà ít khi nào học trò trường Việt chặn thầy để hỏi. Tôi đã nhận được nhiều thái độ trân trọng như thế. Học trò trường Việt thụ động hơn hay chăng? Có lần tôi nhận được thư một học trò viết,“Thưa thầy, con thấy tội nghiệp thầy quá, tại sao quần tây của thầy rách gấu mà thầy vẫn mặc.” Nó hiểu lầm tôi nghèo chắc? Buổi học sau tôi nhìn em ấy, em như thản nhiên không phải là tác giả bức thư ấy. Nếu có ai thắc mắc, nó viết tiếng tây hay tiếng việt? Thưa, tiếng Việt.

Sau này, tôi rất hối tiếc không giữ lại những lá thư kiểu này. Nghề thầy có rất nhiều kỷ niệm mà phần lớn là kỷ niệm đẹp cả.

Nhưng trong số học trò ấy, có Đại úy Hưng, người bạn cùng học với tôi từ Hà Nội và di cư vào Nam, đi lính, nay có thời giờ học thêm tú tài II. Tôi không nhận ra anh trong đám đông ấy. Nhiều khi, học trò ngồi dưới, tưởng tôi nhìn, hoặc chú ý tới người này người kia. Trong nhiều trường hợp, nhất là lớp đông, tôi có nhìn, nhưng không nhìn thấy ai cả. Phần anh, nhận ra tôi, nhưng không dám xưng danh tánh. Học được ít lâu, anh mới đủ can đảm gặp tôi. Sau đó, tôi đã hết lòng chỉ dẫn riêng cho Hưng các đề thi, các chủ đề chính thường được hỏi trong kỳ thi tú tài II, ban C. Hưng đỗ. Cả hai chúng tôi đều chia xẻ niềm vui chung đó, trong đó có vợ con Hưng.

Còn nỗi mừng nào hơn. Nghề thầy vui ở chỗ ấy mà người khác không có được.

Cũng lại thêm chuyện lính tráng. Có lần đi coi thi ở miệt Rạch Giá, có một ông lính để chình ình một trái lựu đạn trên bàn dọa ai không biết. Mấy cô giáo sợ run lên, lấm lét. Học trò cũng vậy. Tôi cũng sợ lắm chứ. Nhưng cũng bạo dạn đến gần anh lính nói nhỏ, “Anh làm ơn cất đi dùm thứ kia không các em nó sợ quá.” Tôi không nhớ là mình có đái ra quần không. Anh nhìn tôi thăm dò và có vẻ thách thức nói, “Lính mà thầy!” Thật ra, tôi có thể lén lén về văn phòng báo cho ông chánh chủ khảo Hội đồng giám thị. Vài phút sau, quân cảnh sẽ tới.

Quân cảnh vào thì có thể lớn chuyện có thể có án mạng không chừng. Ít nữa thì anh lính đáng thương cũng bị còng tay với những ngày trọng cấm.

Nói không được, tôi lặng lẽ bỏ ra ngoài hành lang nhìn trời, nhìn đất, đứng ì ra đó. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu tại sao tôi lại ứng xử thụ động như vậy.

Anh lính ngồi chán không dọa ai được, cất lựu đạn, nộp giấy trắng, rồi thong thả bỏ thi ra về.

Anh lính ấy không hiểu có kịp về khoe với người tình bữa tối đó không? Anh vừa dọa được một tên thầy giáo chết nhát, mặt hắn xanh như tầu lá, miệng run lẩy bẩy xin anh cất lựu đạn đi.

Biết đâu một viên đạn vô tình nào đó cất anh đi nhẹ nhàng. Đời lính mà thầy. Tôi nhận tôi là một thằng thầy giáo chết nhát, còn anh, giờ này anh ở đâu? Thầy giáo đôi khi đặt tình người trên cả nguyên tắc. Chắc là như thế.

Cả đời đi coi thi, nếu động tý bắt học trò gian lận thì sợ không có đủ giấy để ghi. Chỉ có một lần cấm thi (năm đó thôi) một em nữ sinh ở Phan Thiết một cách bất đắc dĩ, ngoài ý muốn. Vậy mà lòng vẫn ân hận. Tát một em nữ sinh ở một trường tư Khiết Tâm trong lúc nóng giận. Làm sao quên? Mắng một em nữ sinh trường Văn Hóa, đường Gia Long, “Trông cô cũng xinh xắn sao mà ngu thế.” Chuyện nhỏ như thế mà cũng không quên thì là nghĩa lý gì? Đó là hơn 50 năm trước; Ứng xử đó ngày nay ở xứ này chắc phải đi tù hay it nhất cũng phải trả lời trước ban Giám hiệu hay Hội đồng học chính.

Rất may, trong nhiều năm dạy trường công, tôi chưa có dịp mắng một em nữ sinh nào cả.

Làm thầy mà không có cái tình người thì không nên chọn nghề thầy.

Nghề thầy còn có một thử thách lớn lao – thử thách suốt đời – mà tôi tạm gọi là Hành lang của sự thử thách (Corridor de la tentation: lấy lại một ý của một ông vua muốn kén chọn một người quản lý tốt nên cho họ đi qua một hành lang hẹp, chứa đầy kim cương vàng bạc. Ai cũng vội nhét cho đây túi tham. Chỉ có một người không. Và ông này đã được chọn làm quản lý).

Thầy giáo nào mà đã không trải qua hành lang thử thách này?

Từ trường học đến trường đời là một bước nhảy. Và sự chuẩn bị cho bước nhảy là một điều không thể thiếu được. Ai chuẩn bị cho bước nhảy quan trọng và thiết thân ấy? Thưa trường học với thầy cô giáo, uốn nắn răn đe, nhẹ tay cũng có, khắt khe cũng chẳng thiếu trong suốt mười mấy năm, hết thầy cô này đến thầy cô khác.

Mỗi ngôi trường với thầy cô giáo – từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học – là một môi trường lành mạnh, một mối giao cảm đầu đời, giúp người trẻ vào đời.

Và ở xã hội miền Nam, ông Diệm đã quyết tâm coi việc giáo dục là hàng đầu. Tiếp nối nền Đệ nhị Cộng hòa cũng thế.

Chỉ một lần thôi, lần này thôi, những ai đã từng có hạnh phúc được lớn lên và ăn học ở miền Nam. Hãy tỏ ra biết điều, cúi đầu cám ơn miền Nam đã cho chúng ta một tuổi trẻ, một sức sống, một tương lai đầy hứa hẹn.

Ngày hôm nay, nhiều người đã nên ông nên bà, hãy bày tỏ trong thầm lặng cũng được một lời cám ơn mà không lúc nào là thừa.

Và sau đó, hàng loạt giáo sư trẻ ra trường lan tỏa ra khắp mọi miền đất nước như men trong bột. Đất nước đã đầu tư đến một phần ba cuộc đời mỗi người tuổi trẻ trong việc đào luyện với một ý thức kỷ luật cao độ trong các trường công lập trước khi người trẻ tuổi vào đời.

Xin trích đăng một vài chứng từ của giáo sư Dương Thiệu Tống, đã một thời như thế, thầy giáo luôn luôn muốn học trò mình giỏi, nhưng lại khắt khe vô cùng.

Nó cho thấy thầy giáo cho điểm, lời phê rất là ngặt và khó khăn.

Môn quốc văn mà điểm nhất lớp cũng chỉ có 7 điểm (7 điểm trên 10). Thứ hạng là I trên 38! Ngược lại điểm rất cao, nhưng lời phê thường chỉ có một chữ, “Được”, ít khi có chữ “Khá”, nhiều khi là chữ “Thường”.(3)

Lời phê của Thầy/Cô trong Thành tích biểu của một học trò trường Trương Vĩnh Ký. Nguồn: DCVOnline.

Và giáo sư DTT đặt ra vài câu hỏi gợi ý:

“Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm ra giải đáp.”(4)

Trong đó giữa thầy-trò có một tương giao tin tưởng hỗ tương mà ngày nay, tôi cảm nghiệm cho thấy không thể tìm thấy trong môi trường XHCN được.

Tôi khẳng định không có tin tưởng lẫn nhau, không thể có giáo dục

Sau 1975, những điều tôi nói vừa rồi là có cơ sở. Một nền giáo dục chói sáng của miền Nam đã tắt. Tôi bắt đầu sợ học trò, nhất là học trò lớp nhỏ vì chúng vô tình. Tôi bắt đầu đóng kịch. Tôi nhìn xuống đám học trò như ẩn khuất bóng dáng một tên công an trong đầu chúng!

Vì thế nay điều tôi nghĩ và điều tôi nói ra không phải là một. Từ nay, cứ coi như xem khỉ dạy người! Chúng ta trở lại vói các suy nghĩ thuần giáo dục thôi.

Giữa các giai đoạn từ tiểu học lên đại học thì giai đoạn trung học là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng nhất. Phần đông học sinh phá ngang, bỏ học hay tiếp tục học lên trên tùy thuộc vào giai đoạn này vì không qua khỏi rào cản thi tú tài phần một và phần hai.

Các cô học trò của tôi, như Võ Quách Tường Vy, gọi lớp đệ tứ là năm giao mùa’. Cô Võ Thị Ngọc Dung thì gọi đó là một năm bản lề’. (Xin xem phần trích dẫn ở phần sau). Các cô giỏi thật.

Nhưng tôi xin bổ túc thêm gọi đó là những năm tháng chuyển mình’. Chuyển cả thể xác lẫn tâm hồn.

Các cô không còn như trước nữa. Có sự giao động của một khủng hoảng tuổi thanh xuân. Vậy mà các cô cậu nay phải lo âu đối diện với tương lai trước thi cử! Tuổi thanh xuân mất đi một phần hào quang quyến rũ của nó vì thi cử.

Rào cản thi cử này đối với tôi là bất công nhất và lãng phí nhân tài cũng vì nó. Tư tưởng này ám ảnh tôi trong suốt những năm tháng ấy trong nỗi bất lực mà trong tầm tay, tôi chỉ có khả năng cho rộng điểm ở các kỳ thi.

Làm thầy giáo, có thể tôi chả có điều gì tự hào về mình.

Chỉ có niềm tự hào nhỏ là lúc đi chấm thi, lúc tôi phóng tay cho những thí sinh may mắn rơi vào tay tôi, và có thể nhờ đó họ thi đỗ dưới con mắt nhìn có vẻ khinh miệt của đồng nghiệp.

Nhưng những điều trình bày ở trên vẫn chưa có câu trả lời thế nào thì được coi là ông thầy giỏi và được học trò quý mến và nhớ mãi?

Thầy giỏi, dạy hay, ăn nói lưu loát là một điều tốt, nhưng đủ chưa?

Nhiều thầy dạy hay đã có thể lôi cuốn được đông đảo học trò và nổi tiếng khắp trường được cả đồng nghiệp nể trọng. Thầy dạy hay có phải là yếu tố chính giúp học trò thi đậu? Chắc hẳn là có một phần không nhỏ học trò thi đậu là nhờ thầy dạy hay, dể hiểu, dễ nhớ.

Làm sao có thể phủ nhận tài dạy học của anh em các thầy Bùi Hữu Sủng, Bùi Hữu Đột các năm 1955-1960! Thằng ngu nhất học thầy Bùi Hữu Đột cũng có thể nghuệch ngoạc vẽ bậy được cái phương trình bậc nhất. Thằng dốt đặc cán thuổng nhất về Pháp Văn học thầy Bùi Hữu Sủng cũng có thể viết được “Je là tao, tu là mày, Ils là là lũ chúng nó.”

Thầy Lưu Ngọc Linh, dạy Pháp Văn ban C, sinh ngữ một Chu Văn An là trường hợp độc nhất vô nhị.

Thầy được ông hiệu trưởng nể vì thế nên đi dạy thất thường bất kể giờ giấc, đến trễ. Nếu tôi còn nhớ. thầy có nhiều cái chướng. Nhưng mỗi cái chướng của thầy trở thành, “il est unique dans son genre.” Sự độc đáo của riêng thầy.

Đang dạy thầy đòi uống la de! Và học trò đồng lõa với cái chướng ấy, vội vã cầm tiền đi mua lade về cho thầy. Sau này tôi cũng học đòi bắt chước những cái chướng ấy mà không xong.

Chưa ai có thể sánh bằng thầy Lưu Ngọc Linh. Thầy nói, thở ra văn chương mà không cần suy nghĩ, không cần cầm bút. Mỗi câu Pháp Văn thầy nói ra như rót vào tai, học trò vội ghi ghi chép chép.

Ngựa chứng trong sân trường không phải là học trò mà là thầy.

Từ cách đi đứng, cách ăn mặc, cách hút thuốc, cách lái xe hơi như một tài tử ciné chứ không phải một ông thầy đi dạy. Sau này, thầy không dạy nữa và không còn ai nhắc nhở xa gần tới thầy.

Nhưng cũng đã có một thời, các thầy giọng tiếng Bắc trở thành những ngôi sao trên vòm trời các lớp luyện thi, các trường trung học tư thục? Các thầy lớp trước có thầy Ngô Duy Cầu, thầy Bùi Hữu Đột, Bùi Hữu Sủng, thầy Lê Bá Kông, Lê Bá Khanh, Các thầy hái ra tiền.

Lớp trẻ hơn có các thầy Phạm Kế Viêm, thầy Nguyễn Xuân Nghiên, thầy Nguyễn Văn Phú, thầy Vũ Khắc Khoan, thầy Trần Bích Lan – Nguyên Sa. Và nhiều thầy dạy toán, lý hóa không nhớ hết. Nhưng nay ai còn nói chuyện ân nghĩa với các thầy trên? Ai còn để lại dấu ấn thầy-trò?

Lại còn câu hỏi ai xứng đáng là đệ tử của các thầy trên?

Xin thưa là phần đông các học trò này thường là yếu kém về các môn học này nên cần đến các thầy loại này.

Các thầy trên giỏi thì có giỏi, nhưng mới chỉ là đào tạo chữ nghĩa, xây dựng kiến thức chứ chưa phải là đào tạo con người.

Học trò giỏi đôi khi không cần đến các thầy đó!

Các học trò trường công lập

Thầy trường công và nhất là học trò trường công thì khác xa về trình độ học vấn so với học trò trường tư. Một đằng trình độ tương đối đồng đều, có chọn lọc khi thi tuyển vào lớp đệ thất. Một đằng hỗn tạp, giỏi thì ít mà dở thì nhiều, kỷ luật cũng kém. Nói chung kém mọi mặt.

Cho nên tỉ lệ thi đỗ ở trường tư chỉ 15% đến 30% tùy trường. Tỉ lệ thi đỗ ở trường công từ 75% trở lên.

Sự đồng đều ấy cho thấy không có nạn chạy chọt, đút lót để cho con vào đệ thất trường công. Có những gửi gấm rất con người dù người khó tính đến đâu cũng phải chấp nhận. Như con bác cai trường, con thầy giám thị. Thú thực, chưa một ai gửi gấm tôi trong các kỳ thi đệ thất; gửi ai khác tôi không biết, dù chỉ một lần.

Điều đó chỉ ra tính cách nghiêm chỉnh của các kỳ thi, dù là thi đệ thất. Các kết quả dưới đây tự nó nói lên điều ấy mà không cần một lời biện minh.

Nhưng ngoài việc học giỏi, đừng quên một điều không kém quan trọng: Có kỷ luật. Nhờ có kỷ luật mà thầy-trò làm nên chuyện. Không thuộc bài phải thuộc bài. Không thể lười, muốn lười cũng không được. Trường nào kỷ luật kém thì việc học cũng xa sút,

Dưới đây xin được nêu ra vài bằng chứng cụ thể.

Trong giai phẩm xuân Gia Long 1968-1969 cho thấy một vài số liệu sau đây:

Kỳ thi tú tài I năm 1968, năm Mậu Thân có 89,73% trúng tuyển trong tổng số 760 học sinh dự thi, trong đó có 16 thí sinh đậu hạng ưu, 98 đậu hạng Bình và 198 đậu hạng Thứ.

Kỳ thi tú tài phần II năm 1968 có 79,10% trong tổng số 536 học sinh dự thi, trong đó có 7 đậu ưu, 38 đậu Bình và 114 đậu Bình thứ. (Bình thường thì tỉ lệ thi đậu của tú tài II thường cao hơn tỉ lệ của tú tài I, vì đã được sàng lọc ở tú tài I như trường hợp trường Petrus Ký).

Trong số đó, 159 thí sinh đậu Ưu và Bình trong cả hai kỳ thi được nhà trường thưởng một mề đay bằng vàng tây trên đó có khắc G&L lồng vào nhau.(5) Bà Trần Thị Tỵ, hiệu trưởng trường nữ trung học Gia Long, trường nữ lớn nhất Sài Gòn trước 1975; trong bài trả lời phỏng vấn của một cựu nữ sinh Gia Long, bà Võ Thị Hai, bà hiệu trưởng cũng nhìn nhận rằng:

“Trường học là nơi phải đạt mục tiêu hàng đầu là giáo dục học sinh, có nghĩa là phải rèn luyện để học sinh có đạo đức, có kỷ luật, có trật tự. Phải có trật tự thì các em mới chú tâm nghe giảng, mới có thể học giỏi được. Và cũng phải rèn luyện để các em đi dần đến ý thức tôn tôn trọng kỷ luật một cách tự giác.”(6)

Nói như thế không có nghĩa là không có ngoại lệ đáng tiếc ngoài dự liệu của nhà trường và lòng mong mỏi của ban giám hiệu nhà trường.

Sân trường Gia Long 1931. Nguồn: tuxtini.com

Trường Gia Long, vào niên khóa 1971-1972, học sinh lớp 12 C1 có ra một tờ báo Xuân.(7) Chỉ tiếc một điều, trong số báo Xuân ấy, có một đôi câu được gọi là ‘ranh ngôn’ nhằm chế diễu các cô giám thị như sau:

“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời giám thị mà thương học trò.”
(Ranh ngôn một)

“Nhỏ không học, lớn làm giám thị.”
(Ranh ngôn hai)

“Ở đời có ba điều đáng tiếc
Một là việc hôm nay bỏ qua
Hai là đời này chẳng học
Ba là thân này lỡ làm giám thị.”
(Ranh ngôn ba).

Ba Ranh ngôn này nói dỡn chơi với nhau cũng không nên. Vậy mà nó được chính thức đăng trong tờ báo Xuân và sau đó bị tịch thu và tiêu hủy. Phần mỗi cô trong ban biên tập, học bạ mục hạnh kiểm với hai con số zéro.

Tôi không biết bài viết này có được đăng trên Kỷ yếu Gia Long không? Giọng điệu bài viết nay viết lại vẫn giữ nguyên cái ác ý của mấy chục năm về trước.

Đó là điều không nên thứ hai.

Thầy cô giám thị là khổ, một cổ đôi ba tròng. Bao nhiêu tiếng ác đổ lên đầu thầy. Giả dụ chỉ vắng giám thị chỉ một ngày, trường sẽ loạn lên ngay.

Tôi đã từng đi dậy tư nhiều trường. Thầy giáo phải đóng thêm vai giám thị là một nỗi khổ tâm không ít.

Nhất là phần các nữ sinh, phần đức dục trường nào cũng quan tâm kỹ lưỡng. Các nữ sinh phải ăn mặc cho kín đáo nên có việc kiểm soát áo lá. Không có áo trong là không được. Nóng cũng phải mặc. Trước không được và ngay bây giờ cũng có thể không được nữa.

Từ đệ tứ trở lên là các cô đã bắt đầu trổ mã, cứ ngồn ngộn lên. Các cô đi học đâu có phải là dịp trình diễn phái tính?

Các cô hẳn là khó chịu khi từng cô phải đi qua mặt cô giám thị.

Nhưng cô giám thị đã thay mặt nhà trường, nhất là thay mặt cha mẹ các cô uốn nắn cho các cô vào khuôn phép, nề nếp cho nên người.

Các cô muốn nên người hay muốn mất nết? Xin thưa với các cô rằng: kỷ luật là xương sống của một nền giáo dục.

Ngay tại các nước tiên tiến như bên này thì cha mẹ có tiền đều muốn gửi con vào những trường có kỷ luật nghiêm minh.

Và đây là một câu chuyện ám ảnh khôn nguôi của một thời sinh viên. Tôi xin kể lại để thầy rằng ngoài cha mẹ, các thầy cô giám thị rất cần cho chẳng nhưng việc học hành mà còn có vấn đề đào luyện con người.

Chỉ vì một chút bồng bột tuổi trẻ và một chút khờ dại, cô nữ sinh đáng thương dưới đây đã tuyệt vọng tự hủy hoại đời mình và gây nõi đau khổ không bút nào tả xiết cho cha mẹ cô.

Ngay bạn bè trong lớp của tôi cũng không biết chuyện này, cả trường đại học cũng không biết luôn. Tôi nhớ, đó là năm thứ hai đại học. Tức là năm 1961-1962. Một cô nữ sinh Gia Long, lớp đệ nhị, phải lòng một ông bạn của chúng tôi. Cô đã dại đột bỏ nhà ra đi lên Đà Lạt. Khoảng một tuần sau, anh bạn tính mọi cách đưa cô về, gửi chùa Linh Sơn. Chùa không nhận. Tôi cũng không bao giờ hỏi vào chi tiết. Anh bạn ấy cũng không thể nào ngờ diễn biến câu chuyện lại bỗng chốc trở thành bi kịch như thế. Tưởng cô đã ưng thuận trở về gia đình. Trên đường về đến Định Quán nghỉ ăn trưa. Trong một nỗi tuyệt vọng chỉ một mình cô biết, cô đã nhảy vào đầu xe. Người lái xe là một bà đầm. Bà quay đầu xe trở lại Đà Lạt. Trong xe có ba người. Theo anh bạn, hình như cô chưa chết hẳn, còn ngắc ngoải. Nỗi kinh hoàng làm anh như người mất trí luôn. Nhưng rồi một người đã chết. Cô gái bất hạnh. Về đến Đà Lạt, anh bạn cho tôi và hai người bạn khác biết chuyện này để lo liệu, liên lạc với gia đình cô gái. Tôi cũng không còn nhớ tên cô gái nữa. Khuôn mặt cô lúc ấy tôi cũng thật sự không dám nhìn. Có nhìn cũng không rõ, vì ánh sáng mờ mờ của nhà xác. Chỉ biết, đó là nỗi kinh hoàng. Kinh hoàng.

Cho đến nay, hầu như tất cả sinh viên đại học Đà Lạt đã không biết chuyện này, nay nói ra một lần rồi thôi.

Chúng ta hãy tưởng tượng đi, tại nhà xác ở Đà Lạt, một cô gái còn trẻ măng, áo dài trắng, quần trắng đẫm máu nằm thõng thượt trên ghế đá nhà xác Chúng tôi đã chính mắt chứng kiến cảnh này. Còn cảnh nào đau lòng hơn thế nữa!

Học trò trường Petrus Trương Vĩnh Ký.

Sau đây là thành tích học tập niên khóa 71-72

– Tú tài I:

Ban A: dự thi 77, trúng tuyển 71, với 2 Ưu, 112 Bình, 17 Bình thứ, tỉ lệ thi đậu là 92%.

Ban B: dự thi 309, trúng tuyển 285 với 1 Tối ưu, 93 ưu, 62 Bình, 92 Bình thứ. Tỉ lệ 93%.

Ban C: dự thi 12, trúng tuyển 10 với 2 Bình thứ, tỉ lệ 83%

– Tú tài II:

Ban A: 101 dự thi, trúng tuyển 101 với 2 Ưu, 10 Bình, 25 Bình thứ, tỉ lệ 100%.

Ban B: 419 dự thi, trúng tuyển 419 với 11 Ưu, 53 Bình, 114 Bình thứ, tỉ lệ 100%.

Ban C: 52 dự thi, trúng tuyển 52, 7 bình thứ, tỉ lệ 100%.(8)

Những thành tích trên đây của hai trường trung học uy tín nhất của miền Nam nói lên vài điều.

Thứ nhất có một truyền thống của trường của các thế hệ trước.

Thứ hai, tỉ lệ đỗ cao trong việc tuyển chọn ngay từ năm đệ thất trung học đến năm đệ nhị cho thấy có một sự liên tục đến kinh ngạc. Theo giáo sư Nguyễn Thanh Liêm(9), hằng năm có 6000 học sinh thi tuyển vào đệ thất trường Petrus Ký và chỉ lấy chừng 300-400 em (năm 1964 có 400 học sinh trong 8 lớp đệ thất). Cũng theo gs Nguyễn Thanh Liêm, trong kỳ thi Trung học đệ nhất cấp cuối thập niên 1950, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình thôi, người đó là học sinh Petrus Ký. Thi bao nhiêu đậu bấy nhiêu, 100% là một tỉ lệ chỉ có trường Petrus Ký đạt được. (Rất tiếc, tôi không có được số liệu của các trường Chu Văn An, Trưng Vương).

Điều đó có thể nói thêm là nhà trường từ ông hiệu trưởng đến giáo sư đến các học sinh nằm trong một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, tổ chức kỷ luật nghiêm minh giúp học sinh phải cố gắng chăm chỉ học tập.

Nói chuyện người rồi nói chuyện bên lề của tôi. Tại Nha Trang những năm sau 1960. Tôi còn nhớ kỷ niệm lần đầu tiên đi dạy. Cổ không đeo thòng lọng. Tay không có cặp, chân không có giầy. Chữ nghĩa để trong đầu và cứ thế cầm phấn trước bục giảng.

Tôi vẫn là tôi. Cứ thế ung dung vào cổng trường bằng cửa chính. Bác cai trường chưa biết là ai trông thấy tôi. À cái thằng nào mà lộng quá, nó dám ngang nhiên vào cổng chính dành cho giáo sư. Bác quát, “Anh kia, đi lối này.” Bác quát lần thứ nhất, tôi không biết là quát tôi. Bác tiến gần tôi quát lần nữa. Tôi nghe tiếng quát, ớ ra, biết là bác quát tôi. Tôi nói ú ớ, “Tôi là giáo sư.” Bác để yên. Bước lên bục thềm trường, đụng thầy hiệu trưởng và thầy Cung Giũ Nguyên chứng kiến cảnh đó. Tôi đỏ mặt chào hai người.

Thầy giáo, nghề hay nghiệp?

Ông thầy trường công

Truyền thống triết học Hy-La để lại coi vai trò ông thầy chỉ là bà mụ đỡ đẻ, còn nhiệm vụ đẻ chính là học trò. Chân lý này theo tôi đời đời đúng mãi và là phương châm cho bất cứ nền giáo dục nào. Thầy trường công, ông là ai?

Tỉ lệ thi đỗ cao như trên, phải chăng do ông thầy dạy giỏi? Chỉ đúng một phần. Nói cho đúng, đó là mối tương quan hỗ tương: Trò giỏi thì thầy cũng giỏi. Nếu dùng một thuật ngữ trong triết Thiền luận thì giữa thầy và trò có một khả năng chung là khả năng thấu thị. thầy trò đồng cảm hiểu nhau, bắt được những tín hiệu truyền đi và như thế trò mãi mãi khắc ghi.

Không phải ông thầy nào cũng có được điều này. Nó thật dễ mà cũng thật hiếm hoi.

Trong nhà trường, có nhiều sinh hoạt bên lề như thể thao, báo chí, cắm trại, viếng thăm, đi Picnic, hội thảo, v.v., không phải ông thầy nào cũng sẵn sàng đảm nhận. Thường các thầy trẻ, ít bận gánh gia đình tình nguyện. Dù gì đi nữa cũng phải có lòng. Vì nó tốn hao nhiều công sức và thời giờ.

Và nếu hỏi, ông thầy nào xứng đáng là thầy thì câu hỏi đã có câu trả lời rồi đấy.

Chính các thầy cô gần gũi học trò, hiểu học trò và có thể ảnh hưởng trên tâm thức người trể tuổi, để lại dấu ấn trong tâm trí đến khó quên.

Tôi xin dẫn bằng vài chứng minh cụ thể.

Thầy Nguyễn Viết Long, trường Ngô Quyền Biên Hòa

Ông là một giáo sư trẻ tuổi, mới về trường. Gốc Bắc, cử nhân luật, hình như đang tập sự luật sư thì phải. Ông ăn nói hay, hùng biện, nhiệt tình, cởi mở chừng mực. Mới vào nghề mà tay nghề như thế kể là vững.

Học trò các lớp đệ tứ do ông phụ trách đón ông với niềm hân hoan. Nhất là lớp Tứ 3, do ông phụ trách hướng dẫn. Trò mới lớn, thầy chập chững bước vào nghề với một tấm lòng trong sáng mà theo thuật ngữ tôi nói ở trên, ông có khả năng thấu thị.

Cho nên, tôi chẳng lạ gì sau này có đến ba học trò, nay đã thành danh, viết về ông.

Ông xứng đáng được như vậy.

Chỉ đáng tiếc, nay trông ông đã khác nhiều so với thủa xưa.(10)

Bài đầu tiên nhan đề Thầy cũ, thầy mới, do Cô Võ Quách Tường Vi – Ngô Quyền khóa 10 – chấp bút.

Tôi đặc biệt lưu ý đến cử chỉ của thầy Nguyễn Viết Long đã đến thăm gia đình cô khi căn nhà cô ở đã bị cộng sản pháo kích đổ sụp. Cô nhắc nhở đến những kỷ niệm khó quên khi nhà bị VC pháo kích chỉ còn là đống gạch vụn. Thầy Long và mấy người bạn của thầy ở trường kỹ sư Phú Thọ đã đến thăm gia đình và ở lại dùng bữa trưa thanh đạm. Bếp là ba viên gạch chụm lại, mái che bằng một mái tôn che tạm trên 4 chiếc cọc. Cảnh ấy thật khó quên khi nghĩ đến cộng sản.

Vậy mà ở nơi đây có những tiếng cười và hẳn là chan chứa tình người, giữa ba của Tường Vi và mấy thầy giáo.

Và cô kết luận: “Thầy Long, thầy cũ, thầy mới này lúc nào cũng ở trong tâm hồn của tôi và những học trò của Thầy năm xưa.”

Còn phần thưởng nào lớn hơn cho ông thầy?

Bài thư hai của cô Võ Thị Ngọc Dung nhan đề, Trong và ngoài khung cửa lớp.

Đề tựa này rất là ý nghĩa bởi vì nó nói lên cái tương giao thầy-trò không chỉ quy định trong lớp học, mà còn ngoài lớp học. Và chính ở cái không gian ngoài lớp học trong những lần đi picnic, làm báo, hội thảo, sinh hoạt mới đan kết lên những điều đáng ghi nhớ nhất. Cô Dung viết:

“Trong năm học này, Thầy khuyến khích chúng tôi làm những bài thuyết trình và đồng hành với lớp chúng tôi trong các buổi picnic ở thảo cẩm viên, Cù Lao phố. Không biết tình cờ hay thế nào mà bất cứ cuộc vui nào của lớp chúng tôi luôn có cặp ba: Thầy Nguyễn Viết Long, thầy Nguyễn Văn Phú và thầy Trần Văn Phúc. Thầy còn soạn thảo kế hoạch chương trình cho lớp chúng tôi kết nghĩa với trường Quốc Gia Nghĩa Tử ở Thủ Đức với những buổi sinh hoạt du khảo thật thú vị.”

Cô Võ Thị Ngọc Dung viết tiếp như một lời kết luận đẹp:

“Dù qua bao biến động. Thầy vẫn là một trong những vị giáo sư mà chúng tôi rất ngưỡng mộ trong các năm học ở Ngô Quyền. Có lẽ sự nhiệt tình, năng động đầy sáng tạo của thầy đã lôi cuốn và làm nảy sinh trong lòng chúng tôi lúc ấy những ước mơ, hoài bão vào đời thật cao đẹp, đầy tự tin và cho đến nay nó đã trở thành động lực, kim chỉ nam đưa đến những thành tựu mà chúng tôi và các học trò ngày xưa của thầy đã đạt được.”

Võ Thị Ngọc Dung – NQ, K11.

Bài thứ ba Thầy với sinh hoạt Hiệu đoàn.

Cô Nguyễn Trần Diệu Hương là người trẻ nhất trong đám ba người viết. Và cô chú trọng đến những sinh hoạt hiệu đoàn mà thầy Long tham dự.

Tôi không thể ngờ là đã có những buổi thuyết trình về các tác phẩm văn học như “Bò sữa gặm cỏ cháy” của Duyên Anh, “Nói với tuổi hai mươi” của Nhất Hạnh, “Đoạn Tuyệt” của Nhất Linh. Và nhất là chọn ban khi vào đệ nhị cấp và chọn ngành khi vào đại học. Và cô kết luận:

“Những gì thầy hướng dẫn, dạy bảo tụi em vẫn còn đó… Dù muộn màng, em xin kính cám ơn thầy. Và mong thầy luôn an nhiên, vui khỏe. Học trò của thầy, các chs Ngô Quyền lưu lạc khắp nôi trên thế giới vẫn luôn luôn nhớ đến thầy.”

Nguyễn Trần Diệu Hương. NQ. K.15.

Tôi có cần viết thêm điều gì nữa không? Thưa chắc là không.

Nếu có thì tôi sẽ viết thế này: Ông đúng là có phong cách làm thầy giáo, đi đâu cũng có cái cặp. Ông làm những việc xem ra nhỏ, nhưng lại có tầm vóc lớn. Tầm vóc lớn bởi vì nó có tầm ảnh hưởng đến cả đời một người tuổi trẻ.

Thầy Phạm Xuân Ái, giáo sư Pháp Văn trường Petrus Ký.

Trước khi viết về thầy Phạm Xuân Ái, xin ghi chú vài nét về ngôi trường lớn nhất miền Nam này.

Trường Petrus Ký vốn có một truyền thống lâu đời mà mỗi học sinh mỗi ngày khi bước vào cổng trường đều nhìn thấy hai câu đối khắc hai bên cổng trường:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.(11)

Một trong những sinh hoạt ngoài học đường là các kỳ Đố vui để học được thực hiện khi Việt Nam được Mỹ cung cấp trang bị đài truyền hình trắng đen, số 9 dưới thời ông Nguyễn Cao Kỳ.

Chương trình mới mẻ này có sức thu hút rất lớn đối với học sinh và cả phụ huynh nữữa. Chương trinh do giáo sư Vũ Khắc Khoan điều khiển và giáo sư Đinh Ngọc Mô phụ trách.(12) Phải nói ông Đinh Ngọc Mô là cái đinh của chương trình này.

Ông là người có tài và từng thủ diễn vở kịch Thành Cát Tư Hãn của giáo sư Vũ Khắc Khoan. Sau đó, ông sang Pháp tu nghiệp thêm về Vô tuyến truyền hình và người thay thế ông trong chương trình Đố vui để học là giáo sư Cao Thanh Tùng.

Xin trích lại bài viết của tác giả Nguyễn Việt Dũng viết về người những thầy của mình, cả thầy Phạm Xuân Ái, và cuộc tranh tài giữa hai trường công uy tín nhất miền Nam.

“Tôi đã được đọc hồi ký của một số bạn thời còn mài đũng quần trên ghế nhà trường thế hệ 1964-71. Kỷ niệm đẹp nhất tôi còn giữ lại trong suốt 7 năm trung học dưới mái học đường Petrus Ký thân yêu có lẽ là chuyến ra quân chiến thắng vào tháng 2 năm 1971 với trường Chu văn An. Khi học được nửa năm, Thầy Phạm Xuân Ái (nay đang sống ở Aubervilliers bên Pháp) thông báo cho tôi biết được chọn cùng với 5 bạn khác đi thi đấu trong chương trình “Đố Vui Để Học” số 95 (thu hình ngày 14/2/1971, phát hình ngày 21/2/1971) của đài truyền hình trên băng tần số 9. Đối thủ của chúng tôi không ai khác hơn là đội Chu văn An. Thầy Ái còn nói thêm có trường gì ở trên Thủ đức đã thách trường Petrus Ký đấu với trường của họ, nhưng Thầy Ái nói rằng phía Petrus Ký từ chối, viện cớ là trường lớn và nổi tiếng của chúng ta không thi thố với trường quận vô danh tiểu tốt. Thật ra thì Thầy Ái nói riêng với chúng tôi:Tụi bây không bì kịp với bọn mọt sách ấy đâu. Tụi bây vừa học vừa chơi, còn người ta là dân chủng viện, học ở trường thầy dòng, suốt ngày cấm cung học hành đấy.’ Giờ thì có dịp tranh tài với trường Chu Văn An ngang tài ngang sức. Trường Chu Văn An chuyên môn dạy toán ở đệ nhị cấp (chỉ có ban B thôi). Petrus Ký thắng thế hơn ở chỗ đa dạng, ban A (Vạn vật) có, ban B (Toán học) cũng có, ban C (Văn chương) cũng có nốt.

Trong đội của trường Petrus Ký có 6 ứng viên, 3 thiệt thọ, 3 dự khuyết. Tôi và Lê Trí Đạt đại diện cho ban B. Còn Lương văn Hy đại diện cho ban C. Tôi nhớ trong hàng ghế dự bị có Lê Nhơn Lộc học lớp 12A1. Lê Trí Đạt đã từng thi Đố Vui Để Học trên danh nghĩa cá nhân trước đó và đã trúng giải cùng với hai bạn khác. (Sau này Lê Trí Đạt đi du học ở Đức, sau lại di dân sang Mỹ, bây giờ thì bặt tăm). Phía Chu văn An có Vương Đình Điềm từng đậu hạng tối ưu trong kỳ thi Tú tài 1. Dù sao trong buổi thi đấu trên “võ đài” kiến thức tổng quát, ít khi thấy Vương Đình Điềm múa môi khua miệng. Còn tôi thì có tật trả lời liên miên, trật cũng nói, trúng cũng nói. Bởi vậy, dù lúc đầu chúng tôi dẫn trước trường Chu văn An với tỷ số 40/20, nhưng vì chúng tôi trả lời sai hơi nhiều nên giữa chừng (phút thứ 15) chúng tôi bị qua mặt với tỷ số 53/77. Người điều khiển chương trình là Cao Thanh Tùng lại nói là “Petrus Ký rượt gần kịp Chu văn An”. Chỉ 5 phút sau, chúng tôi qua mặt trường Chu văn An trở lại với tỷ số 78/77. Ở phút 25, tỷ số là 118/82. Cuối cùng chúng tôi cũng chiến thắng: 175 điểm, trường Chu văn An được 117 điểm. Thật hồi hộp khi bị vượt qua. Thầy Ái, “ông bầu” của chúng tôi, sốt ruột nên lập tức thay người, cho Lê Trí Đạt học lớp 12B6 ra nghỉ, và đưa Phan Hồng Châu học lớp 12B4 vào thay. Điều này hơi lạ vì Phan Hồng Châu không có tên trong danh sách dự bị. Vì thế khi thắng cuộc chúng tôi chia chiến lợi phẩm ra làm 7 phần bằng nhau, chứ không chỉ chia cho 6 người.

Chúng tôi vẫn còn biết ơn các thầy cô đã góp phần đào tạo chúng tôi kỹ lưỡng. Tôi còn nhớ trước khi ra quân, thầy Phạm Xuân Ái, thầy Phạm Ngọc Đảnh (từng sống ở Đức nay đã qua đời), thầy Dương Ngọc Sum (nay ở Mỹ) đã “quay” chúng tôi trong thư viện ở trường để thử sức. Chúng tôi phải biết rõ UNESCO, UPI, ILO, WHO, v.v… là chữ viết tắt của các tổ chức quốc tế nào. Ngoài ra, thầy Đảnh còn hỏi chúng tôi thêm về những chữ viết tắt tiếng Đức như SS, SA, Gestapo, v.v…

(T) Lương văn Hy lãnh phần thưởng hạng nhất toàn trường. (P) Nguyễn Việt Dũng lãnh phần thưởng hạng ba toàn trường. Saigon, 24/5/1971. Nguồn: NVD/HAH Petrus Trương Vĩnh Ký Úc châu

Riêng tôi thì thường xuyên la cà các thư viện có gắn máy lạnh để nghiên cứu cá nhân. Tôi thích tra cuốn “Kỷ lục thế giới” (World’s Guinness Book) để biết sông nào dài nhất, núi nào cao nhất, hố đại dương nào sâu nhất hoàn cầu, v.v… Tôi thích thám hiểm không gian nên cũng học luôn bản đồ mặt trăng, nhờ vậy đã trả lời được câu hỏi “ở đâu có miệng núi lửa Copernic?” “Trên mặt trăng”. Chính xác!

Chúng tôi trả lời được một câu hỏi về Vạn Vật nhờ thầy Nguyễn Ngọc Nam (từng sống ở Đà lạt nay đã qua đời): “Tế bào con người có bao nhiêu nhiễm sắc thể?” “46”. Câu hỏi khiến cả hai đội đều bí là một công thức hóa học nếu đọc ra thì là tri-ni-trô tô-lu-en tức chất nổ TNT. Thật ra, cho đến lúc đó chúng tôi chưa học xong chương trình lớp 12. Một câu hỏi khác cũng về hóa học mà cả hai đội không biết là tên thông dụng của glu-ta-mát monosodium. Là bột ngọt! Chúng tôi được ông Cao Thanh Tùng, người điều khiển chương trình, khen là có tinh thần đồng đội cao vì với câu hỏi “‘Tám tiết’ trong ‘bốn mùa, tám tiêt’ là gì?”, một bạn Petrus Ký đáp: “Lập đông”. Người khác tiếp: “Lập xuân”. Người này tiếp: “Lập hạ”. Một người khác nói nốt: “Lập thu”. Rồi: “Xuân phân”. Rồi: “Hạ chí”. Người khác tiếp: “Thu phân”. Cuối cùng: “Đông chí”. Như vậy ba người chúng tôi thay phiên nhau trả lời thay vì chỉ có một người giành nói hết.

Chúng tôi còn phải cám ơn thầy Lê Bá Kim dạy môn công dân giáo dục đã cho chúng tôi biết Proud’hon người Pháp đã nói câu: “Tư sản tức là ăn cắp”, nhờ đó chúng tôi đáp được câu hỏi này ghi thêm điểm số cho đội Petrus Ký.

Dù sao, chúng tôi chịu thua trước câu hỏi toán học về ma phương (hình vuông 16 ô, 12 số có sẵn, và 4 số kia phải tìm). Vì hồi hộp nên chúng tôi đã quên đó chỉ là vấn đề giải một hệ thống phương trình 4 ẩn số gồm 6 đẳng thức bậc nhất!

Dù sau, nhờ có các thầy dạy toán của các lớp 12B (Vũ Đình Lưu và Lê văn Đặng) mà chúng tôi trả lời được câu hỏi: “Ai đã phát biểu những câu này: (1) Qua hai điểm trong mặt phẳng không có đường thẳng nào đi qua, (2) Qua hai điểm trong mặt phẳng chỉ có một đường thẳng đi qua. và (3) Qua hai điểm trong mặt phẳng có hai đường thẳng đi qua”. Người thứ nhất là Riemann người Đức, người thứ hai: Euclid người Hy Lạp, và thứ ba: nhà toán học Nga Lobachevsky.

Thôi, không cần nói gì thêm nữa. Giờ đây đã có phần ghi âm. Muốn biết thêm, chỉ cần nghe lại toàn bộ chương trình 30 phút dưới dạng MP3. Vậy là 3 chàng ngự lâm pháo thủ PK71 đã tái xuất giang hồ sau 45 năm: Lương văn Hy đang sống ở Toronto, Canada; Phan Hồng Châu đang sống ở Texas, Hoa Kỳ và Nguyễn Việt Dũng đang sống ở Biên Hòa, Việt Nam.”(13)

Mẫu người thầy

Qua nhưng mẫu người thầy trên, tôi tạm chia ra có 3 mẫu người thầy.

Cô Trần Thị Tỵ, mẫu người thứ nhất. Bà là Hiệu trưởng trường nữ trung học Gia Long.

Có thể nói về bà vì đã gặp trong dịp tôi là giám khảo kỳ thi tú tài II, Ban C mà bà là chánh chủ khảo.

Nhớ lại, bà là một phụ nữ độc thân, nhưng lại không có cái bề ngoài xã giao như thường tình. Bà không có thói quen nói cười, giả lả xã giao với người này người kia. Bà cho mọi người thấy: bà chỉ có công việc và trách nhiệm.

Cái bề ngoài lịch sự, ăn nói chừng mực, vừa đủ. Nhưng thật sự bên trong cứng rắn trong công việc và không ai có thể trách cứ bà điều gì. Tinh thần trách nhiệm cao ấy hẳn làm nhiều người nể phục. Học trò hiểu biết thì phải kính mến bà, trân trọng bà.

Nhưng điều tôi vẫn chưa hiểu là một người phụ nữ như bà, làm thế nào bà đã có thể điều hành một trường học dưới mái trường XHCN?

Sau khi trích dẫn bài viết này, tôi nhận ra phong cách của thầy Nguyễn Viết Long và thầy Phạm Xuân Ái là hoàn toàn trái ngược nhau.

Thầy Nguyễn Viết Long, mẫu người thầy thứ hai

Thầy Long là mẫu người trẻ năng động, lý tưởng và đi sát với học sinh ở các lớp đệ tứ. Mẫu mực ấy rất thích hợp cho các học sinh mới lớn lên. Và ông Hiệu trưởng có mắt lắm nên đã trao trách nhiệm Hiệu đoàn phó cho ông.

Thầy Phạm Xuân Ái, mẫu người thầy thứ ba

Tôi không có cái may mắn được biết thầy Ái. Nhưng qua cách mô tả của học trò, tôi hình dung ra được một ông thầy vừa nghiêm nghị, vừa khôn ngoan tùng trải, vừa chững chạc và thân mật với học trò như cha-con.

Thầy Phạm Xuân Ái, già dặn hơn, hiểu đời và nhất là hiểu học trò hơn ai hết. Ngôn ngữ giao thiệp giữa thầy trò họ cũng thân mật và gần gũi hơn. Tôi thích thú lối xưng hô giữa thầy trò họ. Thầy Phạm Xuân Ái điều khiển không phải học trò đệ tứ mà lớp đệ nhất sắp lên đại học.

Qua một vài chút phác họa của học trò thầy, sự già dặn của thầy thật đáng nể. Tôi thích nhất đoạn văn viết thầy từ chối cho những con gà của mình đối đầu với một trường thầy dòng nhỏ.

Bề ngoài thầy tuyên bố không nhận lời thách thức của trường dòng tu. Nhưng với riêng học trò, ông lại nói thật là tụi bay đấu với họ là thua, vì họ chăm.

“Thầy Ái còn nói thêm có trường gì ở trên Thủ đức đã thách trường Petrus Ký đấu với trường của họ, nhưng Thầy Ái nói rằng phía Petrus Ký từ chối, viện cớ là trường lớn và nổi tiếng của chúng ta không thi thố với trường quận vô danh tiểu tốt. Thật ra thì Thầy Ái nói riêng với chúng tôi: ‘Tụi bây không bì kịp với bọn mọt sách ấy đâu. Tụi bây vừa học vừa chơi, còn người ta là dân chủng viện, học ở trường thầy dòng, suốt ngày cấm cung học hành đấy.’”(13)

Có thể ông chỉ cốt dằn cái hiếu thắng của đám học trò của ông chứ họ vị tất đã thua học trò trường thầy dòng.

Thầy Ái đúng là mẫu người lãnh đạo.

Nói chung thì cả ba mẫu người ấy phản ánh đúng cái tựa đề của cô Dung, Trong và ngoài khung cửa lớp.

Các thầy nay được học trò nhắc nhở đến nhiều nhất, chính là nhờ những sinh hoạt ngoài khung cửa lớp. Tôi cũng được nghe học trò vẫn nhắc lại thầy của họ sau cả nửa thế kỷ rời ghế nhà trường vì những bài học ngoài bài giảng hàng tuần như thầy Dương Hồng Phong, dậy Anh Văn, đối với học trò của ông ở Petrus Ký. Ông đã ảnh hưởng đến cả thế hệ học sinh không phải vì những bài học trong những cuốn “English For Today” mà bằng một câu tiếng Việt, “Các anh phải đi, và các anh phải về.” “Đi” ở đây là đi du học, và “Về” là về để xây dựng đất nước. Và thầy Phong luôn nhấn mạnh chữ “Về” như thể lo rằng học trò của thầy nghe chưa rõ.

Trước khi chắm dứt bài viết này, tôi cũng muốn nói thêm một chút về một ông thầy dạy ở Đại học mà sự quý mến của sinh viên cũng không khác gì lắm của giới học sinh trung học.

Tôi có nhận được một cuốn sách từ trong nước gửi ra và tác giả Ngô Văn Long, một bác sĩ, có nhã ý tặng tôi qua trung gian một người bạn của ông.

Ông viết về bạn bè trường Y Khoa của ông vào cuối năm 1975. Nhưng trong dòng chia xẻ giữa bạn bè, ông đã dành ít trang để nói về người thầy của ông và đám bạn bè: Thầy Hoàng Tiến Bảo đã mất ngày 20-1-2008.(14)

Nhan đề bài viết là Nhớ thầy.(15)

“Không thiếu gì những giáo sư y khoa nổi tiếng lỗi lạc cả một thời. Nhưng chính sự gần gũi với học trò đã tạo ra sợi dây liên lạc hữu cơ. Với thầy, chúng ta bao giờ cũng có những tình cảm thật gần gũi, như một người cha, dù đối với việc học hành bao giờ thầy cũng rất nghiêm ngặt, đúng quy tắc… thầy như một tấm gương. Từ cách làm việc, cách sống, tình yêu thương đối với học trò, sự tận tụy, óc hài ước, sự thông minh.”

Vài dòng đóng lại

Nhìn lại 20 năm giáo dục miền Nam, một thời gian quá ngắn, nhưng lại để lại một di sản quá lớn. Hàng triệu học sinh các cấp đã hưởng thụ được một nền giáo dục nhân bản để thành người hữu dụng.
Họ có thể sau này trở thành một người lính ngoài mặt trận, một chuyên viên, một người lãnh đạo thì cái cội nguồn giáo dục ấy vẫn giúp họ trong khi thi hành trách nhiệm của họ.

Nói chung và vắn tắt, đó là một môi trường giáo dục lành mạnh, ‘sạch’. Nếu cá sống cần biển sạch thì con người cũng cần một môi sinh, môi trường sạch.

Đây là vốn đầu tư lớn nhất mà chúng ta được thừa hưởng khi nhìn vào những thành quả lớn lao mà người Việt ở hải ngoại đã đạt được.

Người trồng lúa đợi một mùa thì có lúa ăn. Nhưng trồng người thì có khi phải chờ đợi nhiều năm!

Thầy Nguyễn Văn Lục (tác giả) và các nam sinh trường Trung Học Ngô Quyền. Nguồn: ngo-quyen.org

Đó là kết quả của nghề thầy.

Ngày hôm nay nhìn lại, uống nước nhớ nguồn, lòng ta ở đâu thì trường ta ở đó.

© 2016 DCVOnline

Nguồn: Bài do tác giả gởi. DCVOnline hiệu đính và minh hoạ.

(1) Chuyện ông Carnot nhan đề Học trò biết ơn thầy, trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư (Sách tập đọc và tập viết) Lớp Dự bị do Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận biên soạn. Nha Học chính Đông Pháp xuất bản (1935).
(2) Nguyễn Tấn Bi, “Lớp tiếp liên (cours des certifiés) năm 1949”
(3) Dương Thiệu Tống, “Suy Nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại”, trang 289.
(4) Dương Thiệu Tống, Ibid., trang 281.
(5) Bài viết của Võ Thị Hai, Saigon 7-2000, nhan đề Cô Trần Thị Tỵ – Người đã dành cả đời mình cho giáo dục lớp trẻ, đăng trên báo Đi Tới, số 37-38, năm 2000, trang 157.
(6) Võ Thị Hai, Ibid., trang 157.
(7) Tôn nữ Hương Bình, “Từ Ranh ngôn đến ác mộng”, báo Đi Tới, số 83, 2005, trang 89.
(8) Thành tích Học tập niên khóa 1971-1972, Kỷ yếu Trung học Trương Vĩnh Ký, 1971-1972, trang 99.
(9) Nguyễn Thanh Liêm, Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, Saigon, Đi Tới, số 37—38, năm 2000, trang 17.
(10) Xem trang điện tử ngo-quyen.org, phần Một góc thầy cô.
(11) 孔 孟 綱 常 須 刻 骨 / 西 歐 科 學 要 銘 心: hai câu đối của Giáo sư Ưng Thiều có nghĩa là: Ðạo lý cương thường của Khổng Mạnh: nên khắc vào xương / Kiến thức khoa học của Tây Âu: cần ghi vào lòng.
(12) Đinh Ngọc Mô tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Pháp văn Đà Lạt, niên khoa 1965. Sau đó, ông được đi tu nghiệp bên Pháp và chương trình do giáo sư Cao Thanh Tùng diều khiển.
(13) Nguyễn Việt Dũng, “Một Chuyến Ra Quân”, Hội Ái hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc châu, 2016.
(14) Thầy Bảo còn có hai người anh em là giáo sư đại học Hoang Quốc Trương, đại học khoa học và Hoàng Khải Tiệp. Cả hai đều đi tu và làm linh mục.
(15) Ngô Văn Long, “Góp nhặt dông dài”, trang 50.

Posted in Thân Hữu Khác | Comments Off

Hoàng Lan Chi với Gia Long Brisbane- August 2016

Hội Ái Hữu CNS Gia Long Brisbane vừa có buổi họp mặt tại nhà Nhật Thanh vào chủ nhật ngày 14 tháng 8, 2016. Số hội viên ở Brisbane chỉ gần 20 người. Trước kia một nhóm họp với nhau vui chơi không có hội gì cả, mãi sau mới nghĩ việc lập hội. Do đó mới qua hai kỳ với hai hội trưởng: Lệ Trinh và Phương Mai. Kỳ họp này có thêm ba hội viên mới mà Hoàng Lan Chi là một. Kim Anh yêu cầu áo tím nên đa số mặc áo tím tới.

Khi GL Hoàng Lan Chi từ California đến Brisbane thì GL Nhật Thanh (quen biết Hoàng Lan Chi từ trước) đã cùng GL Hoàng Nga và GL Nhật Minh ghé chơi ngay hôm Hoàng Lan Chi vừa từ phi cơ xuốngnên mặt mày hốc hác vì không ngủ được trên máy bay). Món quà nhỏ của người Gia Long Brisbane gửi người Gia Long phương xa là ít trái cây Brisbane rất ngon.

Sau đó GL Kim Anh, đại diện Hội gọi điện thọai rồi mời gia nhập. Ở đâu thì những con người cùng mầu cờ, sắc áo, chung lý tưởng cùng thường tìm đến nhau. Gia Long ở Virginia, Gia Long ở Nam Bắc California, Gia Long ở Paris, Gia Long ở Sydney là những hội mạnh trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Gia Long Brisbane quá bé nhỏ nên không hoạt động nhiều trong cộng đồng. Sinh hoạt chính chỉ là gặp nhau (tán dóc, ăn uống). Tuy vậy, dù hoạt động nhiều hay ít trong cộng đồng thì cái tình “ái hữu Gia Long” đa số giống nhau. Có lẽ đó là “nếp Gia Long” mà chúng tôi được dạy dưới bẩy năm trong ngôi trường xinh đẹp của Sài Gòn thuở ấy.

Năm 2004, Hoàng Lan Chi được GL Trần Thị Phương, Virginia, đón rồi đưa vào hội. Sau đó che chở, giúp đỡ rất nhiều. Tiếp đó khi về California thì nhóm Bạn Hữu Tình Thâmsau này là Áo Trắng Gia Long ) cũng tiếp đón thương mến. Chung lý tưởng quốc gia, chung lập trường dân tộc và chung mầu áo Gia Long thì còn gì “chung” hơn.

Là người mới ở Brisbane, Hoàng Lan Chi có viết mail nói rằng, sẽ có món quà nhỏ gửi hai người: một là hội trưởng Phương Mai và một là tại Brisbane cũng vậy, mỗi người đem một món. Tuy vậy, Nam CA có kế hoạch ghi danh trước qua mail, vd người A chọn bánh cuốn thì người B không chọn nữa, vì thế món ăn không bị trùng. Brisbane hơi bị trùng món bánh bèo và món gà Úc rán. Hoàng Lan Chi mua một con vịt quay và may mắn không bị trùng với ai.

Dưới đây là một số hình chụp chung.

GLbrisbane 2  800-72

GLFromNguyet3

gl9

Kim Chi- Hoàng Lan Chi- Kim Anh-Nhật Thanh

Ngọc Bích-Phạm Kim Anh-Hoàng Lan Chi- Phương Mai-Võ Kim Anh

Thu Cúc-Thu Nguyệt-Phương Mai-Kim Anh-Nhật Thanh- Hoàng Lan Chi

Kim Chi đang khoe (hình trong I pad của Kim Chi đẹp, Hoàng Lan Chi giống búp bê)

nên Hoàng Lan Chi bèn lại coi có đúng không ! ( dù không đúng cũng cứ nhận vì được giống búp bê mà!)

Ăn mặn xong, chưa đến phần cắt bánh thì Hoàng Lan Chi mở màn tặng quà. Đây là màn vui nhất ngày.

Hoàng Lan Chi tặng quà cho Phương Mai và Nhật Thanh

Phương Mai đang ướm áo

Hoàng Lan Chi yêu cầu phải mặc ngay tại chỗ và đây là màn vui nhất. Hai áo này Hoàng Lan Chi mua từ Mỹ đem qua. Áo cho Phương Mai là đầm hơi ôm và có lẽ hơi nhỏ so với Mai nên phải quàng khăn. Thật ra Mail không mập nhưng vì đầm ôm nên dễ thấy bụng tí thôi. Lại hơi ngắn nên Mai bị các bạn trêu quá.

Xem nè, coi dáng Phương Mai cao và cũng đẹp nhưng vì đầm ôm thôi

Còn đầm cho Nhật Thanh thì vừa hơn và xòe nhưng hơi gợi cảm. Xem hai “mợ” làm người mẫu này:

Sau đó thì bắt ông xã Nhật Thanh chụp. Phải nói rằng Nguyên Nhân rất dễ thương. Nguyên Nhân không ỏng ẹo (em chả, em chả) gì hết mà nhập ngay vào trò chơi. Chàng làm đủ kiểu và các phó nhòm bấm lia lịa. Mọi người cười bằng thích trước các pha mùi mẫn của Nguyên Nhân dành cho GL Nhật Thanh.

ChungNT 1

ChungNT 2

Xem này đầm trắng rất sang và đẹp phải không? Hơi xòe và rất gợi cảm, rất nữ tính với khăn choàng tím. Chắc là rể Gia Long, Nguyên Nhân, thích lắm đây. Không biết “chàng” có nhả bài thơ nào chưa? (Hoàng Lan Chi quen vợ chồng Nhật Thanh từ ngày ở forum ĐT. Nguyên Nhân làm thơ rất hay)

Xí xọn fashion show xong thì cắt bánh sinh nhật và sau đó họp bàn cho kỳ tới. Gia Long Brisbane kỳ này sẽ tập hát vài bài để khi cần sẽ đóng góp vào với cộng đồng.

Nhóm chia tay lúc bốn giờ và lại phải ôm thức phẩm về vì có bao giờ ăn hết đâu.

Cắt bánh sinh nhật cho các Gia Long sinh trong tháng

Hoàng Lan Chi

GL 60-67

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Sự việc sách Áo Tím GL của Bích Vi (Trần T Hai)- Feb 20 16

LGT: đây là chuỗi mails về sự việc Bích Vi ( Trần T Hai) và sách Áo Tím Gia Long

Các bạn

Tuần qua, vài người gửi cho HLC, thư liên quan đến một cuốn sách ảnh "Một thời Áo Tím-Gia Long ". Mãi sau, HLC mới có thì giờ viết ý kiến của HLC dưới dạng thư gửi tác giả Bích Vi và copy cho một số Thầy Cô cũng như cựu nữ sinh Gia Long.

Sau mail đó, một vài Gia Long gửi mail cho HLC, cám ơn, đã cho họ biết tin tức.

Hôm nay, HLC, gửi rộng rãi mail này. Nếu các bạn có người nhà là Gia Long thì fw. Để mọi Gia Long hải ngoại hiểu hơn về cuốn sách ảnh này.

Thân mến

Hoàng Lan Chi

From: HoangLanChi [mailto:hoanglanchi]
Sent: Wednesday, February 24, 2016 8:03 PM
To:
Subject: Vài góp ý với sách ảnh MỘT THỜI ÁO TÍM-GIA LONG ( Bích Vi-Võ thị Hai)

Vài góp ý với sách ảnh

MỘT THỜI ÁO TÍM-GIA LONG

Tôi là Hoàng Lan Chi, GL (60-67).

Bích Vi (Võ thị Hai), (GL 63-70), là tác giả cuốn sách ảnh MỘT THỜI ÁO TÍM – GIA LONG, dự định phát hành tại Việt Nam vào tháng 3/2016.

Dựa vào nội dung lá thư của cô Bích Vi-Võ Thị Hai trả lời một cựu nữ sinh Gia Long, tôi có vài ý kiến như sau:

Hoàng Lan Chi xin được phép nêu vài ý kiến, thắc mắc với Bích Vi-Võ Thị Hai, dựa trên tình đồng môn.

Thưa Bích Vi-Võ Thị Hai, tôi hoàn toàn ủng hộ bất cứ hình thức nào nhằm nêu cao, gìn giữ, vinh danh những truyền thống tốt đẹp của trường Gia Long. Biên niên sử Gia Long với hàng ngàn hình ảnh là một sử liệu quý giá.

Tuy vậy có vài điều sau đây:

1-Nơi in ấn:

Bích Vi muốn in ở VN với lý do đẹp, rẻ. Tuy vậy, sẽ bị hạn chế bởi các điều sau đây:

1.1- Cuốn sách của Gia Long chúng ta sẽ bị mang tên của một nhà xuất bản của VC. Vd sẽ như sau: Nhà Xuất Bản Trẻ, TP…Hồ..

Chắc chắn nữ sinh Gia Long quốc gia, dù sinh sống trong hay ngoài VN, đều khó chấp nhận “vết tích đó” ở ngay bìa sau của sách.

1.2-Cuốn sách sẽ bị nhà xuất bản Trẻ (hoạt động dưới gọng kìm cs) hiệu đính rất nhiều cho phù hợp với tinh thần của họ.

KL: Bích Vi nên xét lại vụ in này. Tôi tin rằng, Gia Long hải ngoại, có lẽ sẽ không “cân đong đo đếm” giá cả nếu như tài liệu đó xứng đáng.

2-Bài vở trích đăng: Chúng tôi nhận thấy hai điều:1- Không phong phú lắm vì không đa dạng tác giả; 2-Bài của các gíao sư, nhât là Cô Châu Thị Ngọc Minh, đã có xin phép chưa? Lý do: dù bài xuất hiện ở net, hay đặc san Gia Long nhưng vài Thầy Cô hoặc nữ sinh Gia Long hoàn toàn không muốn tác phẩm của mình xuất hiện trong sách của Bích Vi và xuất bản trong nước.

KL: Phải chăng Bích Vi nên xin phép tác giả và nên đa dạng hoá tác giả cho dù đây là sách ảnh?

3-Hình ảnh: được chia làm nhiều giai đoạn. Số lượng ít nhất là thập niên 1950: chấp nhận được. Nhưng số lượng ảnh của chính Gia Long, từ khi thiết lập hai nền cộng hoà, từ 1955-1975, tổng cộng là khoảng 160 ảnh. Số lượng cho sau 75 là khoảng 603 ảnh. Riêng Làng Gia Long là 292 ảnh.

Có lẽ nhiều Gia Long hải ngoại sẽ tự hỏi, trong số 603 ảnh sau 1975, có bao nhiêu ảnh mang vết tích vc? (Vd tên NTMK trên cổng trường?) Bao nhiêu ảnh có hình ảnh “cán bộ vc chính gốc, cán bộ nằm vùng vc” ở trong?

Mặt khác, Làng Gia Long đã không đạt được mục đích nào đó vì sự tranh chấp này nọ mà kết quả là một kỷ niệm không đẹp cho người Gia Long thì với 292 ảnh, không hiểu có những hình ảnh nào Thật, những hình ảnh nào “được dàn dựng” ( là tôi nói ví dụ chứ tôi không biết) và có ý nghĩa gì? Không lẽ đơn thuần là quảng cáo cho một việc làm thuộc quá khứ, trong một giai đoạn, của Bích Vi-Bạch Huệ?

KL: Gia Long hải ngoại có thể sẽ đắn đo trước số lượng ảnh sau 1975 quá nhiều; đồng thời có thể nghĩ sai về Bích Vi-Võ Thị Hai, khi cố tình “khơi lại” đống tro không đẹp Làng Gia Long.

4-Mục đích: Ban Chủ Biên ghi vầy “ Mục tiêu trên hết của tập ảnh là bày tỏ lòng chân thành biết ơn quý thầy cô đã tận tuỵ bồi đắp kiến thức văn hoá, chăm lo trau giồi đức hạnh và tôn tạo các giá trị tinh thần cho lớp lớp nữ sinh Gia Long”. Như thế những hình ảnh nào “nói lên” sự biết ơn đó, Bích Vi có thể bật mí thêm được không? Vd cụ thể: hình ảnh nữ sinh tham gia Ngày Hai Bà Trưng, nữ sinh đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc, nữ sinh nhận hoa mai vàng, nữ sinh thăm viếng và biếu quà cho quý thầy cô: có thể coi là vài hình ảnh tiêu biểu cho sự dạy dỗ của quý thầy cô. Còn hình ảnh nữ sinh vui chơi, du lịch đây đó, bơi lội: hoàn toàn không nói được mục tiêu trên.

5-Thành phần Ban Chủ Biên:

Ban Chủ Biên gồm Bích Vi-Võ Thị Hai (Santa Ana-Hoa Kỳ) và Huỳnh Thi Kim Phụng (Sài Gòn, Việt Nam)

Danh tiếng của Bích Vi-Võ Thị Hai có lẽ khá nhiều người biết. Dường như tôi có đọc đâu đó về Võ Thị Hai nhưng không giữ. Bạn Gia Long nào có, xin gửi cho tôi. Sau 1975, Võ T Hai làm tờ Phụ Nữ thành phố. Chức vụ to, chỉ dành cho đảng viên: Trưởng Ban Kinh Tế Chính Trị Xã Hội. ( Bạn tôi làm cùng toà báo Phụ Nữ với Bích Vi thời đó.)

KL: một người từng cộng tác báo Phụ Nữ TP thành Hồ (Cs rất chú trọng mảng truyền thông và lọc lựa nhân sự rất kỹ cho mảng này) thì có lẽ sẽ bị bất lợi nhiều khi đứng tên chủ biên in sách về Gia Long ngày tháng cũ, Bích Vi có thấy thế không? Giả dụ, giả dụ thôi nhé, Bích Vi sẽ viết, BV đã ra khỏi đảng, đã không còn cộng tác bất cứ cái gì với CSVN, thế nhưng “cái dấu vết” sẽ rất khó xoá nhoà trong lòng nhiều người quốc gia, nhất là khi “vết tích” ấy dính líu đến quốc-cộng, một vấn đề mà cho đến bây giờ vẫn là hàng rào ngăn cách người Việt?

LỜI CUỐI: Trên đây là vài ý kiến, thắc mắc, cũng như góp ý của Gia Long Hoàng Lan Chi cho Gia Long Bích Vi-Võ Thị Hai.

Quyền quyết định sẽ in ở đâu, sẽ gồm hình ảnh gì, sẽ nhắm vào đối tượng trong hay ngoài nước: là của Bích Vi-Kim Phụng.

Quyền quyết định sẽ mua và quảng bá hay không: là của khối Gia Long quốc gia hải ngoại và khối Gia Long ở VN.

Mỗi người tự chọn cho mình một quyết định riêng. Hoàng Lan Chi không có ý kiến gì nữa cả. Dù Bích Vi nhắm vào thị trường nào, Hoàng Lan Chi cũng xin chúc Bích Vi sức khoẻ, may mắn và thành công vì tâm nguyện của Bích Vi là "Tôi mong ước sẽ thiết lập và tôn tạo một giá trị vĩnh cữu cho ngôi trường Gia Long của tất cả các giáo sư và nữ sinh GL ở khắp nơi."

Hoàng Lan Chi

Gia Long 60-67

24/2/2016

PS: danh sách người nhận chỉ toàn người Gia Long.

PHỤ LỤC

THƯ CỦA BÍCH VI-VÕ THỊ HAI

Lời nói đầu

Trân trọng kính mời quý cựu giáo sư, cựu nhân viên hành chính và cựu nữ sinh Gia Long cùng gia đình, cũng như quý thân hữu khắp năm châu dành ít phút để cùng chúng tôi lần giở lại biên niên sử của trường nữ Trung học Gia Long Sài Gòn, để cùng hồi tưởng về vô vàn kỷ niệm vui buồn suốt sáu thập niên qua dưới mái trường, cùng những minh chứng cho lòng tôn sư trọng đạo của cựu nữ sinh Gia Long Sài Gòn, cũng như hoạt động thiện nguyện đầy tận tuỵ của cựu nữ sinh Gia Long khắp thế giới ngày nay.

Tập ảnh chắc chắn còn nhiều điều hạn chế, và không bao quát toàn bộ hoạt động của cựu nữ sinh Gia Long khắp nơi, thuộc nhiều thế hệ, kính mong quý vị thông cảm và tha lỗi.

Mục tiêu trên hết của tập ảnh là bày tỏ lòng chân thành biết ơn quý thầy cô đã tận tuỵ bồi đắp kiến thức văn hoá, chăm lo trau giồi đức hạnh và tôn tạo các giá trị tinh thần cho lớp lớp nữ sinh Gia Long. Đây cũng là dịp giúp chúng ta hồi nhớ về những năm tháng tươi đẹp và hạnh phúc không-thể-nào-quên của các cựu nữ sinh Gia Long.

Chúng tôi cũng xin phép được trích đăng các bài viết của các cựu giáo sư và cựu nữ sinh Gia Long khắp nơi đã gửi cho cuộc thi viết về Gia Long của web site “Gia Long Yêu Thương” trước đây, và một số hình ảnh về Gia Long trên mạng xã hội. Chúng tôi xin tri ân sự đóng góp quý báu của quý vị cho sự hoàn thành cuốn sách ảnh này.

Thay mặt nhóm ấn hành Tập ảnh “Áo Tím – Gia Long Một Thời Để Nhớ.”

Võ Thị Hai

(Cựu nữ sinh Gia Long 1963 – 1970)

*

Tôi ra trường năm 1970, không dính líu đến MK và đã phải sống lưu vong vì bị lãnh đạo của nhóm Áo Tím, 2 vị giáo sư GL đấu tố 5 lần vì Làng Gia Long, nên không có lý do gì để "vinh danh MK" trong cuốn sách ảnh. Tôi đã im lặng, mặc dù có nhận được thư thắc mắc y như bạn cách nay 3 hôm, nhưng không trực tiếp gửi cho tôi. Theo dự tính thì cuốn sách ảnh được phát hành ở VN nhờ giá rẻ và đẹp. Ở hải ngoại chỉ nhận phát hành ở góc độ cá nhân, ai mua thì bán, không ra mắt, cũng không phát hành rộng rãi. Tôi định để nội dung cuốn sách, sau khi được phát hành sẽ nói thay mọi điều, và biết đâu đó lại chính là sự quảng cáo đầy thu hút đối với cuốn sách ảnh hiện nay.

Tuy nhiên, theo yêu cầu của Huệ, nên tôi thành thật trả lời như sau:

- Đó cuốn sách ghi lại hoạt động của cựu giáo sư và cựu nữ sinh Gia Long nhiều thập niên, tức là GL hải ngoại, GL Sài Gòn từ năm 1950 cho đến nay, chứ không phải sự phân chia về thời gian của ngôi trường, cho nên không có MK trong đó. Bạn xem cuốn sách, bảo đảm không thấy có một chữ MK nào. Và tôi quan niệm rằng, nên thừa nhận các bạn thi đậu vào Gia Long trước năm 1975 là nữ sinh Gia Long, cho nên có thể có hình hoạt động của họ, chẳng hạn như lớp cùng thời 72-79 của Bạch Huệ. Nam sinh MK thì lại càng không thể là GL rồi. Một minh chứng nữa là trong "Danh sách các hiệu trưởng trường Gia Long", chỉ tính đến trước 1975, tức vị hiệu trưởng cuối cùng của Gia Long là cô Phạm Văn Tất. Bạn cũng biết là nếu kể MK thì có hàng chục người nữa, đúng không?

-Sau 2 tháng nộp nội dung cho nhà xuất bản Trẻ, khi tôi viết những dòng này thì cuốn sách ảnh vẫn chưa được cấp phép. Tôi được người đại diện ở VN thông báo lập luận của Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ ở SG như sau: "Sách nói về Gia Long, tức là về giai đoạn trước giải phóng (nguyên văn của họ), là rất nhạy cảm, nên cần được xem xét kỹ." Tôi đang cân nhắc xem có nên in ở Mỹ hay không, đắt và có thể không đẹp bằng in ở VN.

-Tựa đề ban đầu của cuốn sách là "Biên Niên Sử Gia Long" nhưng nhà xuất bản không đồng ý, sửa lại hết là "Một thời Áo Tím – GL." Họ nói rằng chỉ có trường MK mới có quyền làm biên niên sử.

- Tôi cố gắng thực hiện cuốn sách ảnh, với kho tài liệu lên đến vài ngàn tấm, nghĩ rằng chỉ có GL mới làm được biên niên sử, chứ các trường khác không chắc làm được. Tôi mong ước sẽ thiết lập và tôn tạo một giá trị vĩnh cữu cho ngôi trường Gia Long của tất cả các giáo sư và nữ sinh GL ở khắp nơi.

Cám ơn sự quan tâm của bạn. Và trả lời như thế hẳn đã đủ?

Chúc bạn vui khoẻ.

Võ Thị Hai

********

SÁCH ẢNH "MỘT THỜI ÁO TÍM – GIA LONG” phát hành vào đầu tháng 3/2016

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng Quý thầy cô cựu giáo sư, quý nhân viên hành chánh và các bạn cựu học sinh Áo Tím – Gia Long – Minh Khai khắp nơi về cuốn sách ảnh "Một thời Áo Tím – Gia Long"
ghi lại hoạt động của các cựu GS và cựu nữ sinh trong 7 thập niên,
từ 1950 đến nay, gồm:
- Thập niên 1950: 30 ảnh
- Thập niên 1960: 134 ảnh
- Thập niên 1970: 21 ảnh
- Thập niên 1980: 3 ảnh
- Thập niên 1990: 452 ảnh
- Thập niên 2000: 82 ảnh
- Thập niên 2010: 76 ảnh
- Chương tưởng niệm: 22 ảnh
- Chương Làng Gia Long: 292 ảnh.
Nội dung sách ảnh bao gồm:
1.112 tấm hình và 27 đoản văn của các tác giả sau đây:
1. Âm thanh trường xưa (tác giả NGỌC PHƯƠNG)
2. Các thầy cô Việt Văn của tôi (CHÂU THỊ NGỌC MINH)
3. Đời nội trú (LÊ THỊ PHỤNG)
4. Gia Long và tôi (NGUYỄN NGỌC CHUNG)
5. Lịch sử trường Gia Long (Cựu giám học NGUYỄN NGỌC ANH)
6. Lược sử trường Gia Long (GS BẠCH THU HÀ)
7. Thời nội trú (TRẦN THÀNH MỸ)
8. Thuở học trò (LÊ THỊ PHỤNG)
9. Chúng tôi là người Gia Long (BÍCH VI)
10. Dưới mái trường xưa (NGUYỄN THỊ KIM NGA)
11. Hồ bơi trường Gia Long được xây dựng trong trường hợp nào?
(VÕ THỊ Hai)
12. Khung trời dĩ vãng (GS NGUYỄN LÂN)
13. Thời vụng dại (LÊ THỊ LIÊN HƯƠNG)
14. Tình bạn (SONG THANH)
15. Tôi đi nhận nhiệm sở (GS LÊ THỊ HỒNG MẬN)
16. Thơ Gia Long Yêu Dấu (MAI AURELIE)
17. Chuyện bây giờ mới kể (BÍCH VI)
18. Về Làng (BÍCH VI)
19. Chuyện vui quanh Làng (VÕ THỊ HAI)
20. Mãi mãi Gia Long (BÍCH VI)
21. 20 tháng 11 trong tôi (BÍCH VI)
22. Tôi yêu những bài giảng huấn biết đi (VÕ THỊ HAI)
23. Gia Long Dễ thương (MÃ THỊ HUỲNH ĐIỂU)
24. Gia Long hoài nhớ (BÍCH LIÊN)
25. Gia Long lưu lạc (BÍCH VÂN)
26. Gia Long trong tôi (VÕ THỊ HAI)
27. Đêm rằm tháng Giêng ở Làng (BÍCH VI)…

28. Có một thời (Đỗ Kim Trâm)
Sách ảnh “Một thời Áo Tím – Gia Long” do Công ty Trường Phát ở Sài Gòn phát hành vào đầu tháng 3/ 2016 tại Việt Nam, dày 450 trang, in 4 màu.
Các bạn cựu học sịnh và đọc giả tại Sài Gòn vui lòng liên lạc để mua sách tại:
. Cửa hàng Sách 24, đường sách Nguyễn Văn Bình, Q1.
. Tổng Công ty phát hành Trường Phát, số 179 Lý Chính Thắng, Q3.
. hoặc gặp trực tiếp chị Huỳnh Kim Phụng, điện thoại số: 0903705283.
Giá bán tại Việt Nam: 350.000 đồng.
Giá bán tại Hoa Kỳ và hải ngoại: 25 USD.
Kính mời Quý thầy cô và các bạn đón xem.
Các giáo sư và nhân viên hành chánh của trường được tặng một bản sách.
Tiền lời thu được từ việc bán sách (nếu có) sẽ được sung vào Quỹ săn sóc thầy cô giáo Gia Long.
Thay mặt ban chủ biên:
. Bích Vi – Võ Thị Hai (Santa Ana, Nam California)
. Huỳnh Thi Kim Phụng (Sài Gòn, Việt Nam).

Ở Mỹ và hải ngoại muốn mua sách xin gửi check payable to Hai Vo có kèm tên họ, địa chỉ gửi về số 9353 Bolsa Ave #H18, Westminster CA 92683, USA
Phone 714-548-9008
Email : vothihai90350
Giá sách ở Mỹ: 25 USD
Cộng với cước phí gửi trong nước Mỹ: 10 USD
Cước phí gửi ngoài nước Mỹ: 15 USD

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phan Lạc Phúc- Nhớ Phạm Đình Chương

Nhớ Phạm Đình Chương

Phan Lạc Phúc

6-7308-1391793593.jpg

Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc Phạm Đình Chương

Nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương ra đời tại Hà Nội vào năm 1929, trong một gia đình nghệ sĩ, học Trường Bư Thanh Hóa sau Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp 1945. Sáng tác nhạc trước tuổi 20, ông là tác giả những ca khúc dân tộc như Tiếng Dân Chài, Ly Rượu Mừng, Hội Trùng Dương, hay những sầu khúc nhạc phổ thơ như Nửa Hồn Thương Đau, Mắt Biếc, Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi …

Tới Hoa Kỳ được ít năm, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California vào ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi, nhằm ngày 22 tháng 8 năm 1991. Bài dưới đây của nhà bỉnh bút Phan Lạc Phúc, hay Ký giả Lô Răng, một bạn học của nhạc sĩ từ Trường Bưởi, được viết ngay sau khi có tin buồn.

Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya. Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: "Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa". Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương – Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta Phạm Đình Chương đã đi thật rồi, một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt.

Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942 – 1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. "Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi"(1). Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương Hoàng Xá (2).

Ngày ấy, chúng tôi say mê hát "Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm" (3), "Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi" (4) và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây "kịch" và anh Phạm Đình Viêm, một cây "tenor". Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu "bất thành văn" của suốt một miền Bạch Mai – Phố Huế. Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên ’50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.

Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ – người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn "phi cao đẳng bất thành phu phụ". Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn: "Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu". Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá.

Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến thứ hai đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải "phòng thủ thụ động", các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình. Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá. Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi (phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối. Đến động Hoàng Xá tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đán nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày (Sài Sơn) thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. "Hội chùa Thày vui thay Cắc Cớ, Trai không vợ nhớ hội chùa Thày – Gái không chồng nhớ ngày mà đi". Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không? Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không? Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi. Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi.

Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai – Sơn Tây vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận mình là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn Khi mùa Xuân đã cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn đã tưng bừng nở đỏ thì cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. "Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc" (5), con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại vừa ôn thi.

Nhưng đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại vừa ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu Đức – Ý – Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang Chiến Khu Việt Minh. Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8 Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát "Lên Đường", lao đầu vào một cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung đoàn thủ đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(Quang Dũng)

Những năm đầu kháng chiến (1948, 1949, 1950) có những thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ …

Đầu mùa đông năm 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách"Quán Thăng Long". Ở trên vách quán, có treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm. Hai vị này tôi biết: ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N. T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây Thăng Long Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư mà vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan.

Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm "quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi". Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài"con vỏi con voi""con mèo trèo cây cau" nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương vừa mới được giải thưởng về bài hát "gì mà có con cò bay lả bay la".

À ra thế bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm (6) có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta "Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng" (7).

Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: "Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu". Đúng như thế, dạng "tạch, tạch, sè" (tiểu tư sản) như Chương và tôi thì dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho "tổ chức" mà thôi. Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã "áo bào thay chiếu …" (8) còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau "dinh tê" về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã trở thành một nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49 còn Chương và gia đình hồi cư năm 51.

Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh: Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng đã trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi cũng không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết là ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp.

Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo ban Hợp ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu. Người Sài Gòn vốn bộc trực "yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét" mà đã yêu thì yêu hết mình; chương trình của Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe – trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Ngưới ta mua "giấy" báo xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa "đã". Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế.

Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy tôi có lúc đã tự hỏi: "Vì sao mà trong một thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?" Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường thôi nên không dám đưa ra ý kiến có tính cách kỹ thuật nào. Bằng vào cái cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui. Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí(Ngựa Phi Đường Xa), vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng (Được Mùa), vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước (Tiếng Dân Chài), vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về (Ly Rượu Mừng). Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu, nên nó dễ dàng thấm đượm lòng người.

Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể nó thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng được niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam, Hoài Bắc – Khánh Ngọc một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức.

Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu của mình. Năm ấy ban Hợp ca cùng với "quái kiệt" Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề – Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân chúng Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn.

Nhưng mà ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi lững thững đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá một cây công tử Càn Long Hà Nội tôi mới được vào (bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc?).

Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng mà lần này, người Hà Nội bị ban Hợp ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch … chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi. Bây giờ Ban Hợp ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này.

Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho những nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết rằng trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt.

Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của ban Hợp ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của ban Hợp ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng … đều xuất hiện trong giai đoạn này.

Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ rằng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng thì đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn còn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có một nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui. Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con của người mẹ già hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá:

Quê hương tôi nghèo lắm ai ơiMùa đông thiếu áo (9) …

Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm (contrepoint), chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải là người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu cũng là đặc điểm của Ban Hợp ca Thăng Long …

Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào khoảng cuối thập niên ’50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về một căn nhà nhỏ đường Võ Tánh (Frères Louis cũ). Chính tại ngôi nhà này tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng với Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến "hầu bài" bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán …

Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu jeune premier đã tắt và đặc biệt Chương để một hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương: Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương.

Ban Hợp ca Thăng Long, với sự phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm ’60, ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung – Hoài Bắc – Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng đó chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và nhân ái của Phạm Đình Chương cũng không còn xuất hiện. Trong thời kỳ này ban Hợp ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh: Bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng.

Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương đã khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải là nghề của chàng. Như đã nói, Chương không phải là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau thì có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không. Cho nên những khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn … Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng của nó, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự "Chẳng đặng đừng". Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương có vẻ đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tân hồn nhân ái của tác giả.

Nói cho ngay từ thập niên ’60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự "chẳng đặng đừng". Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay cả việc trông coi phòng trà ca nhạc "Đêm Màu Hồng" Chương cũng làm chơi chơi, cho có. Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy nó lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một ban Hợp ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có mang hơi rượu cùng với nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu.

Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào thì chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì phải Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm "Hồ Trường, Hồ trường ta biết rót về đâu". Thanh Tâm Tuyền thì phải Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông? Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình (ít khi lắm). Hát tiếng Tây "Un jour si tu m’abandonnes" (Ngày nào, nếu em bỏ ta). Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên "Quang Minh Đỉnh".

Trong những năm "Đêm Màu Hồng" tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi kiếm một bó hoa thường là hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương phủ Quốc gửi vào.

Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu,uống cho say, uống cho quên uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo "Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu".

Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5 năm 1975 khi "đứt phim" được chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo. Bữa rượu im ắng thê lương.

Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trước. Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: "đi nhé". Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi. Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại. Đi nhé! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương.

Phan Lạc Phúc

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phỏng vấn Bs Nha Khoa Chu văn Cương-UCV Dân Biểu Texas KV 149

LGT: Đầu năm 2016, cá nhân tôi “hên” khi gặp, tình cờ, rồi phỏng vấn Nha sĩ Chu Văn Cương. Đây là một trong những cuộc phỏng vấn về đề tài “thời sự chính trị” mà tôi ưng ý. Người được phỏng vấn đã trả lời đầy đủ, rõ ràng, cô đọng, súc tích, kể cả những cái tạm gọi là “khá nhạy cảm”. Đó là nếu CỘNG SẢN VIỆT NAM cử người đối thoại công khai với cộng đồng thì sao, hay đường hướng đấu tranh của cộng đồng phải thay đổi như thế nào để có hiệu quả tối ưu?

Trò Chuyện với Lan Chi tháng 1/2016

Phỏng vấn Nha Sĩ Chu Văn Cương

UCV Dân Biểu Texas, KV 149

Hoàng Lan Chi: Xin chào Nha sĩ Chu Văn Cương. Texas, được xem như thủ phủ thứ hai của cộng đồng Mỹ Việt đã có Dân Biểu Hubert Võ từ Đảng Dân Chủ. Được biết ông sẽ là đại diện Đảng Cộng Hòa ứng cử chức vụ Dân Biểu Tiểu Bang Texas, Địa Hạt 149 trong nhiệm kỳ 2017-2018. Xin Nha Sĩ cho biết vài nét khái quát về tiểu sử?

Chu Văn Cương: Mến chào chị Lan Chi. Tôi đến Hoa Kỳ cùng cha mẹ vào năm 1980 lúc mới 14 tuổi. Tốt nghiệp Kỹ sư Điện tử và sau 10 năm làm việc, tôi và vợ tôi quyết định trở lại đại học để lấy thêm bằng Kỹ sư Hóa Học và sau đó tốt nghiệp Bác sĩ ngành Nha Khoa. Tôi gia nhập Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam năm 1989 và tham gia đảng Cộng Hòa vài năm sau đó. Vợ tôi là Bác sĩ Nha Khoa Phạm Thùy Linh và chúng tôi rất diễm phúc có tất cả 3 đứa con trai hiện đang là sinh viên đại học năm thứ 4. Cậu lớn, 24 tuổi, đang học ngành Xã Hội Học và hai cậu sinh đôi, 22 tuổi, đang theo học ngành Vật Lý. Tôi hiện đang hành nghề nha khoa tại thành phố Houston từ năm 2006 cho đến nay. Trong Cộng Đồng NVQG Houston, tôi hiện là một trong bốn Ủy viên của Hội Đồng Cố Vấn.

HLC: Được biết thân phụ ông là một nhà xuất nhập khẩu trước 1975, như thế gia đình gốc thương mại, bản thân tốt nghiệp Kỹ sư hạng Ưu, trở lại Đại Học ở tuổi ngoài 30 để lấy mảnh bằng Nha sĩ. Xem ra có vẻ con đường hoạn lộ rất suông sẻ, hanh thông với ông. Phải chăng sự hanh thông nầy đã khiến ông muốn “thử thời vận” khi bước vào chính trường Hoa Kỳ hay còn nguyên nhân nào khác thưa ông?

CVC: Tôi tốt nghiệp trường Nha lúc 39 tuổi, lộ trình để lấy được mảnh bằng Nha sĩ quả thật không phải suông sẻ hanh thông như nhiều người nghĩ. Với 3 đứa con nhỏ cần sự chăm sóc của cha mẹ trong tuổi còn thơ, chúng tôi vừa đi học, vừa đi làm và vừa lo cho 3 cháu ăn học nên thời gian 8 năm trở lại trường đại học quả thật rất là cam go, vất vả. Khi tham gia vào chính trường Hoa Kỳ, cá nhân tôi không bao giờ có ý tưởng muốn thử thời vận hay có tham vọng chính trị trở thành một người quyền uy chức lớn. Ba lý do chính thôi thúc tôi quyết định tham gia vào chính trị dòng chính là tôi muốn trả ơn lại cho đất nước Hoa Kỳ đã cho chúng tôi có được sự nghiệp thành công ngày hôm nay. Thứ hai, tôi muốn đem lại nhiều an sinh phúc lợi và quyền lợi về cho những cư dân trong Khu vực 149, nhất là cho Cộng Đồng NVQG Houston là nơi mà tôi đã sinh hoạt trong suốt thời gian 9 năm qua khi tôi đặt chân đến Texas. Qua những cuộc thăm dò, tôi nhận thấy rất nhiều người dân đang muốn thấy có một sự thay đổi toàn diện trong Khu Vực để họ có được một người Dân Biểu xứng đáng là người đại diện cho họ tại Austin. Thêm nữa, tham gia vào dòng chính sẽ giúp tôi đóng góp hiệu quả cho công việc dân chủ hóa Việt Nam qua ngã ngoại vận.

Tốt Nghiệp Nha Khoa lúc 39 tuổi

HLC: Được biết ông từng giúp đỡ một số khuôn mặt Cộng Hòa như Dân Biểu Edward Royce (California, Khu Vực 39, 2003-hiện tại), Dân Biểu Dana Rohrabacher (California, Khu Vực 48, 1989-hiện tại) và Dân Biểu Helen Bentley (Maryland, Khu Vực 2, 1985-1995). Xin kể rõ cụ thể ông đã giúp họ những gì và phải chăng đường lối, chiến lược của Đảng Cộng Hòa đã thu hút ông?

CVC: Đa số là tôi giúp cho họ với vai trò của một thiện nguyện viên trong giai đoạn họ đang tranh cử. Những công việc mà tôi đã làm bao gồm những việc như đi gõ cửa từng nhà để vận động cử tri, phân phát truyền đơn, gọi điện thoại nhắc nhở cử tri đi bầu và tổ chức, điều hợp làm MC cho những buổi sinh hoạt gây quỹ tranh cử. Trong thời gian đó, tôi hấp thụ được những đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng Cộng Hòa.Tôi nhận ra rằng đó là con đường mà tôi muốn đeo đuổi vì đối với tôi, sự cứng rắn và cương quyết của chính quyền Hoa Kỳ trên thế giới mới có thể đem lại sự an toàn cho người dân và nền kinh tế vững mạnh lâu dài trong nước. Đặc biệt, chính sách của Đảng Cộng Hòa chống lại sự bành trướng của cộng sản lúc đó là yếu tố mà tôi rất thích vì tôi đã là thành viên của Tổ Chức Phục Hưng lúc bấy giờ mà mục tiêu tối hậu của Tổ Chức là giải thể cái chế độ phản dân hại nước của nhà cầm quyền Hà Nội.

HLC: Được biết Dân Biểu Helen Bentley, người mà ông đã giúp khi ra tái tranh cử Quốc Hội, đã đệ trình Đạo Luật HR# 5413 lên Quốc Hội năm 1990 khi bà đắc cử. Kết quả là Đài Á Châu Tự Do (RFA) được thành hình và tài trợ bởi bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Cho hỏi ông đã đóng góp gì cho nội dung Đạo Luật này hay chỉ là giúp bà Helen Bentley khi tranh cử?

CVC: Bà Helen Bentley lúc đó đã là Dân Biểu trong Quốc Hội Hoa Kỳ và Bà quyết ra tái tranh cử. Trước đó, Bà đã đệ trình lên Quốc Hội một đạo luật để thành lập một Đài Phát Thanh quảng bá cho phong trào dân chủ hóa các quốc gia còn đang bị những chế độ độc tài hay cộng sản cai trị. Vì thế, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam đã phối hợp với Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, nguyên là Chủ Tịch Ủy Ban Vận Động Thành Lập Đài Á Châu Tự Do, để đẩy mạnh chiến dịch ủng hộ cho Bà Bentley tiếp tục trở thành vị Dân Biểu của tiểu bang Maryland, Khu Vực 2. Khi Bà Bentley tái đắc cử, Bà đã tiếp tục tranh đấu trong Quốc Hội và Đài Á Châu Tự Do được thành hình và hoạt động cho đến ngày hôm nay. Cá nhân tôi chỉ giúp cho Bà Bentley trong việc tái tranh cử chứ không có đóng góp gì về nội dung của đạo luật.

HLC: Với quá khứ từng ủng hộ rồi tham gia Đảng Cộng Hòa nên Đảng đã yểm trợ cho ông ra ứng cử dân biểu tiểu bang kỳ này. Tôi tò mò muốn biết sao không là sớm hơn?

CVC: Tôi nghĩ rằng trước khi ra ứng cử cho một chức vụ quan trọng như là Dân Biểu Tiểu Bang, thì người ứng cử viên phải có một quá trình hoạt động chính trị và một bề dày kinh nghiệm trong những sinh hoạt của Cộng Đồng để chứng minh cho những cư dân và đồng hương thấy là mình có đầy đủ những tiêu chuẩn và khả năng cho chức vụ đó. Tôi đã sinh hoạt chính trị và cộng đồng hơn 27 năm nay, tôi tin rằng đa số đồng hương nhận thấy được sự dấn thân làm việc của tôi phát xuất từ nguyện vọng là vì tôi muốn tranh đấu cho người dân có được những quyền lợi cho họ và cho đất nước chứ không phải cho quyền lợi cá nhân. Vì vậy, tôi nghĩ rằng thời điểm bây giờ đã chín muồi, tuổi tôi cũng còn tương đối trẻ và tôi đã có những thành tích đáng kể đóng góp cho quê hương dân tộc và cho cộng đồng nơi tôi sinh sống, cho nên việc tôi ra tranh cử lúc này là thời điểm tuyệt vời đối với cá nhân tôi.

HLC: Ông có những kinh nghiệm gì trong quá khứ khi sinh hoạt cộng đồng để thuyết phục cử tri tin rằng ông sẽ làm tròn nhiệm vụ của một dân biểu thật xuất sắc?

CVC: Đối với những sinh hoạt cộng đồng, tôi chỉ xin tóm tắt là kể từ khi tôi đặt chân đến thành phố Houston cách đây gần 9 năm, tôi đã phối hợp với những đoàn thể và cá nhân liên tục tổ chức rất nhiều những chương trình mang tính chất văn hóa, chính trị và xã hội đến cho đồng hương Houston. Những chương trình điển hình như triển lãm văn khố thuyền nhân, gây quỹ cho đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi, quảng bá DVD Sự Thật Về Hồ Chí Minh, DVD Sự Thực về Hồ Chí Minh: The Man and The Myth, DVD Thảm Hoạ Đỏ, hội thảo về tình hình biển Đông, Công Đoàn Lao Động Độc Lập của Lao Động Việt, Bách Việt của Nhóm Việt Học, Hiệp Ước TPP, v.v. Kể từ khi tham gia vào Tổ Chức CĐNVQG Houston và Vùng Phụ Cận, tôi cũng đã sát cánh với những anh em trong HĐĐDCĐ & HĐCV giúp đem lại sự ổn định và phát triển trong những sinh hoạt của Cộng Đồng ngày hôm nay. Ngoài ra, tôi đã từng là Tổng Thư Ký của Hội Vietnamese Lions Club of Houston và là Chủ Tịch Hội Nha Sĩ Người Mỹ Gốc Á (HAADS). Tôi thiết nghĩ với bản chất của một người hăng say làm việc, một lý tưởng trong sáng và với những kinh nghiệm tích tụ trong nhiều năm dấn thân cho cộng đồng, tôi tin là đồng hương Việt Nam sẽ dồn phiếu cho tôi trong kỳ bầu cử tháng 11 tới đây. Khi đắc cử dân biểu, tôi tin chắc sẽ đem lại sự hãnh diện và niềm vinh dự về cho tất cả mọi thành phần trong khối người Việt đang sinh sống tại thành phố Houston và các Vùng Phụ Cận.

Gây quỹ phát thanh Đài Đáp Lời Sông Núi

HLC: Với cử tri Mỹ Việt, nguồn gốc thành viên Tổ Chức Phục Hưng, theo ông có những thuận lợi/bất lợi nào nếu ông ứng cử dân biểu?

CVC: TCPHVN là một đoàn thể chính trị ra đời cách đây 38 năm với mục đích giải thể chế độ độc tài đảng trị của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Qua sự đào tạo và huấn luyện từ khi còn thời sinh viên, tôi đã trở thành một cán bộ cách mạng để đi đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho đất nước của mình. Một số đoàn thể và cá nhân trong quá khứ đã làm xấu đi ý nghĩa “chính trị”, cho nên đồng hương Việt Nam cho rằng đi làm chính trị là đồng nghĩa với tham quyền cố vị, tham nhũng, bè phái, v.v. Theo tôi, làm chính trị là để phục vụ cho quê hương dân tộc là điều tốt và mọi người cần phải làm chính trị hoặc phải có thái độ chính trị. Người làm chính trị cần phải có đạo đức và có cái tâm tốt. Tôi rất lấy làm tự hào là đã tham gia vào TCPHVN trong gần 27 năm qua vì trong Tổ Chức, tôi đã học hỏi, chung vai sát cánh với những anh em chiến hữu sống chết có nhau trên con đường quang phục quê hương. Dĩ nhiên sẽ có một số người lạm dụng từ “chính trị” để bêu xấu cá nhân tôi, cho rằng việc tôi ra tranh cử hay làm việc Cộng Đồng là lợi dụng để đem lợi riêng về cho Đảng. Tôi nghĩ rằng đa số những cử tri người Việt rất hiểu biết và sáng suốt biết nhận diện ra thế nào là lợi dụng, thế nào là thuận lợi cho việc tranh cử của tôi vì họ chỉ việc nhìn vào những việc làm của tôi trong suốt 27 năm qua thì sẽ rõ.

Đêm Thắp Nến

HLC: Xin đồng ý với sự giải thích rõ ràng hai chữ “chính trị”. Cá nhân tôi cũng nghĩ rằng, con người phải có thái độ chính trị, lập trường chính trị và tư tưởng chính trị. Trong bối cảnh hải ngoại hiện nay, tạm hiểu rằng thái độ chính trị là tẩy chay vc, vd tẩy chay ca sĩ đảng viên cộng sản hát ở hải ngoại, lập trường chính trị là lập trường quốc gia dân tộc, tư tưởng chính trị là không thoả hiệp với cộng sản. Ông hứa hẹn điều gì với cử tri nói chung và cử tri Mỹ Việt nói riêng nếu đắc cử?

CVC: Khi đắc cử, tôi sẽ thực hiện những điều sau đây: (1) Tạo điều kiện thuận lợi, thay đổi hoặc đơn giản hoá tối đa những luật lệ rườm rà về thương mại để những cơ sở làm ăn dễ dàng phát triển. Qua đó, tiểu bang Texas sẽ thu hút được thêm nhiều đầu tư của những thương gia từ các tiểu bang hoặc quốc gia khác; (2) Đệ đạt và thông qua những đạo luật gia tăng phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở cho phù hợp với sự phát triển về dân số ngày càng gia tăng ở khu vực; (3) Về phương diện giáo dục, tôi sẽ vận động cho chương trình “School Voucher” được thông qua để cho phụ huynh học sinh có quyền lựa chọn nơi con cái mình đi học; (4) Về vấn đề nhập cư bất hợp pháp, tôi sẽ tranh đấu để bảo vệ biên giới, giảm tối đa số người di dân vượt qua biên giới bất hợp lệ và hợp thức hoá những di dân nào đã ở tại Hoa Kỳ hơn 10 năm nếu họ đã từng đi làm và có đóng thuế như những công dân Hoa Kỳ. Đối với cử tri người Mỹ gốc Việt, tôi sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Cộng Đồng nơi mình sinh hoạt qua việc hợp tác làm việc chặt chẽ với văn phòng Nghị Viên Thành Phố và CĐNVQG Houston và Vùng Phụ Cận. Tôi sẽ đặt vấn đề an ninh trong khu vực lên hàng đầu để các cơ sở thương mại luôn cảm thấy an toàn và an tâm làm ăn. Và như đã nói trên, với cương vị Dân Biểu, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội để trình bày về tình trạng mất nhân quyền, phản dân chủ tại VN hiện nay và sẽ làm tất cả những gì có thể được để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa VN.

HLC: Xin cảm ơn về những mục tiêu rất rõ ràng mà ông sẽ thực hiện nếu đắc cử dân biểu. Cá nhân tôi chú trọng yếu tố sau: an ninh trong cộng đồng. Lý do: vài năm qua, nhiều tệ nạn xã hội đã xảy ra ở Houston; Hai, tôi cũng chú ý đến vấn đề phải bảo vệ biên giới chặt chẽ hơn nữa và thứ ba, phải gia tăng việc giúp các tổ chức xã hội dân sự ở VN được quyền hoạt động.

Về mặt đảng, xin cho biết những thành tựu đã, đang và sẽ của Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam mà hiện giờ ông đang là Chủ Tịch.

CVC: TCPHVN đã được thành lập trên 38 năm và có địa bàn hoạt động trải rộng khắp nơi trên thế giới. Những thành tựu mà Tổ Chức đã đạt được trong suốt 38 năm quá nhiều, tôi không thể liệt kê hết được trong vòng vài hàng. Tuy nhiên, tôi có thể nêu ra những điểm chính sau đây. TCPHVN luôn luôn chú trọng vào mặt truyền thông vì đó là vũ khí sắc bén nhất mà cộng sản lúc nào cũng sợ hãi. Từ khi mới thành lập, TCPHVN đã có những đài phát thanh như Tiếng Nói Tự Do từ Mạc Tư Khoa, Đài Diễn Đàn Dân Chủ và hiện nay là Đài Đáp Lời Sông Núi, liên tục phát về Việt Nam. Ngoài ra, Tổ Chức đã phối hợp với Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ của Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sàigòn (PTQDĐTTSG) để sản xuất ra phim tài liệu “Sự Thật về Hồ Chí Minh” và “Ho Chi Minh: The Man and The Myth” nhằm đả phá hệ tư tưởng Hồ Chí Minh mà cộng sản tự lập ra để nhồi sọ người dân VN. Cách đây 6 năm, TCPHVN đã cùng PTQDĐTTSG và Tập Hợp Đồng Tâm thành lập ra Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc và liên minh này đã hoạt động liên tục cho đến nay. Về mặt ngoại vi thì Tổ Chức đã thành lập và duy trì Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang (TTVNVL) với trên 1,000 học sinh và 200 thầy cô giáo tại thành phố San José, California hơn 37 năm qua với mục đích phục hưng văn hóa dân tộc. TTVN Văn Lang còn có mặt tại một số nơi khác ở Hoa Kỳ và Âu Châu. Trong sinh hoạt Cộng Đồng, TCPHVN luôn luôn sát cánh với các HĐĐD để hỗ trợ Ban Chấp Hành trong mọi công tác với mục tiêu giữ vững tinh thần đoàn kết và thành trì chống cộng của NVQG. TCPHVN có một đội ngũ cán bộ trẻ trung, được huấn luyện đào tạo trong tinh thần kỷ luật và dân chủ, luôn luôn đặt quyền lợi của đất nước và cộng đồng lên trên mọi quyền lợi cá nhân. Tôi rất lấy làm vinh dự đã được anh em thành viên ủy thác tôi vào chức vụ Chủ Tịch để tiếp tục lèo lái con tàu Phục Hưng cho đến ngày đất nước không còn bóng cộng sản.

HLC: Một lần nữa, cá nhân tôi xin được đồng ý về việc vũ khí mạnh của hải ngoại là “truyền thông”. Với sức mạnh của internet hiện nay, truyền thông sẽ giúp trong- ngoài chuyển đổi tin tức cần thiết.

Thưa ông, cộng đồng Mỹ Việt luôn chú trọng đến khuynh hướng, đường lối chính trị của một “public figure” đối với vấn đề Việt Nam. Là ứng cử viên dân biểu, ông có quan điểm gì trong tình thế hiện nay? Đường hướng đấu tranh của cộng đồng phải thay đổi như thế nào để có hiệu quả tối ưu?

CVC: Trong phạm vi quyền hạn của một vị dân biểu tiểu bang, thì sự ảnh hưởng của dân biểu trên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ rất là giới hạn. Quan điểm của tôi trong tình huống hiện nay là chúng ta phải thật khéo léo, dựa vào những luật lệ quốc tế để áp lực phía nhà cầm quyền CSVN phải tuân thủ theo những điều kiện mà họ đã ký kết để được hưởng những quyền lợi về kinh tế, vay mượn hay viện trợ (thí dụ như TPP). Con đường quốc tế vận cần được khai dụng tối đa để hỗ trợ cho những nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước. Để cho những nhà đấu tranh vững tâm hoạt động, người dân biểu luôn luôn phải sẵn sàng lên tiếng bênh vực và bảo vệ cho họ một khi họ bị sa cơ thất thế, không để cho họ bị trù dập và bị bỏ tù dài hạn. Đường lối đấu tranh của cộng đồng cũng phải được điều chỉnh để cho phù hợp với bối cảnh và để đạt được hiệu quả tốt hơn. Với kỹ thuật tin học hiện đại ngày nay, mỗi người chúng ta đều có thể tận dụng những laptop, cell phone để làm vũ khí đánh giặc. Các trang mạng xã hội như facebook, twitter, youtube là những chiến trường tư tưởng giữa người quốc gia và người cộng sản. Những cuộc biểu tình tuy có tác dụng giữ lửa nhưng không hữu hiệu bằng những hình ảnh tin tức trên mạng vì số người coi và đọc được có thể lên đến hàng triệu. Trong nước, các đoàn thể xã hội dân sự và công đoàn độc lập cần được động viên thành lập để thoát ra ngoài vòng kiểm soát của nhà cầm quyền. Ở ngoài nước, cộng đồng cần hỗ trợ tài chánh và tinh thần khi có những hội đoàn XHDS trong nước được hình thành. Và sau cùng, cộng đồng cần đầu tư vào giới trẻ để huấn luyện đào tạo một thế hệ mới chuẩn bị tiếp tay và thay thế cho cha anh là những người đang lâm vào tình trạng bị lão hóa. Chỉ có như thế thì chúng ta mới đấu tranh đường dài được.

HLC: Một lần nữa, xin đồng ý. Hải ngoại phải luôn ở tư thế hỗ trợ tài chánh và tinh thần cho các tổ chức dân sự trong nước. Chúng tôi xin phép sẽ trở lại đề tài mà tôi cho là hay “Làm thế nào để đào tạo một thế hệ kế thừa ở hải ngoại”. Đề tài này sẽ được mở rộng cho các cựu và đương kim chủ tịch tổ chức cộng đồng. (những người có trách nhiệm cao nhất trong việc đào tạo nầy).

Thưa ông, Texas, thời gian qua gây chú ý vì sự tranh luận công khai giữa ô Hoàng Duy Hùng và ô Trần Trí Hoàng. Tôi tò mò muốn được ông chia sẻ nhận định của ông về ông Hoàng Duy Hùng nếu không có gì trở ngại?

CVC: Mỗi người chúng ta đều có những phương thức chống cộng riêng và tôi tôn trọng cái quyền riêng tư đó. Chúng ta đang sống trên một đất nước tự do và dân chủ, chúng ta cần phải học được tinh thần dân chủ đó thì mới có thể áp dụng cho đất nước Việt Nam thời hậu cộng sản. Tôi không nghĩ cả hai ông Hoàng Duy Hùng hay ông Trần Trí Hoàng là Việt gian vì tôi không thấy có chứng cớ gì để cho rằng hai ông đó là thân cộng. Đối với tôi và đa số đồng hương, cũng như trong một tòa án hình sự, hai ông phải trưng bày chứng cớ rõ ràng không thể chối cải (beyond a reasonable doubt) thì tôi mới có thể kết luận là người nào là Việt gian. Điều tốt nhất là hai ông hãy nên tập trung năng lực vào kẻ thù là CSVN chứ không nên người này chụp mũ người kia, làm cho cộng đồng thêm hoang mang và mất đi sự đoàn kết.

HLC: Tiếp tục vấn đề Việt Nam, theo ông nếu CỘNG SẢN VIỆT NAM cử người đối thoại công khai với cộng đồng thì ý kiến ông thế nào?

CVC: Việc công khai đối thoại với CSVN đã gây ra khá nhiều tranh cải trong quá khứ cộng đồng của chúng ta. Trong số những người có đi gặp Thứ Trưởng CSVN Nguyễn Thanh Sơn khi ông ta đến Houston, ông Hoàng Duy Hùng là người duy nhất bị dư luận đánh nặng nhất, ngay cả trước khi ông có chuyến đi về Việt Nam. Theo tôi thì đàng sau hậu trường có những động lực nào đó mà ít ai biết được lý do tại sao ông Hùng bị đánh nặng như vậy. Nhận xét của tôi là CĐNVQG có phản ứng mạnh về ông Hoàng Duy Hùng vì họ cho rằng ông Hùng và phái đoàn bí mật đối thoại với CSVN trong phòng kín mà không có sự có mặt của phía truyền thông. Vì thế không ai biết là ông Hùng nói gì với ông Nguyễn Thanh Sơn cho dù ông Hùng đã nhiều lần thổ lộ nội dung của buổi nói chuyện. Ý kiến của tôi là khi biết tin của phái đoàn cộng sản muốn gặp đại diện của CĐNV hải ngoại, chúng ta cần triệu tập khẩn cấp một phiên họp để lấy ý kiến của đa số. Nếu đa số đồng ý trực diện đối thoại với phái đoàn CSVN, thì chúng ta cần phải chọn ra một số vị có uy tín và khả năng trong cộng đồng để đại diện đi nói chuyện. Điều kiện bắt buộc để cuộc đối thoại có thể diễn ra là phải có sự hiện diện của các cơ quan truyền thông trực tiếp truyền thanh và truyền hình những câu đối thoại của cả hai bên để tránh bị hiểu lầm hay bị chụp mũ. Riêng cá nhân tôi thì tôi duy trì lập trường không “đối thoại” khi mà CSVN còn duy trì điều 4 Hiến pháp và còn giam giữ các tù nhân lương tâm.

HLC: Thưa ông, chưa có một người nào mà tôi đồng ý khá nhiều khi tôi phỏng vấn nhất là trong lãnh vực cộng đồng như với ông. Đúng vậy, quan điểm của tôi tương tự ông: tập trung vào sức mạnh truyền thông để hỗ trợ người trong nước vì chính họ sẽ là người viết trang sử mới. Đối thoại với cs là điều không nên, không cần trong bất cứ giai đoạn nào. Một người bạn viết cho tôi: hẹn gặp nhau ở Sài Gòn trong năm mới này. Tôi rất ước ao được như vậy. Tôi cũng xin hẹn ông như thế!

Trước khi tạm biệt xin chúc ông và bà nhà sức khoẻ để vững tiến trên con đường tranh cử. Cá nhân tôi cũng đã đưa vài nhận định và đã được “người Houston hay bạn Houston” tiếp tay chuyển rộng rãi.

Đó là: Chúng ta nên bầu cho Nha Sĩ Chu Văn Cương vì các lý do sau đây:

Một, chúng ta cần sự đổi mới. Ứng cử viên đảng Dân Chủ, ô Hubert Võ, đã có 11 năm phục vụ, nay sẽ đến phiên UCV Cộng Hòa.

Hai, chúng ta cần có nhiều khuôn mặt Mỹ-Việt trong chính trường Hoa Kỳ. Ông Hubert Võ đã xong vai trò của ông, giờ đến phiên Chu Văn Cương.

Ba, một vài dân biểu/nghị viên Mỹ- Việt luôn biện minh rằng họ là người của Hoa Kỳ do đó phải tuân thủ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Tuy vậy, Nha sĩ Chu Văn Cương cho biết, nếu đắc cử, ông sẽ vận dụng mọi quyền hạn của một dân biểu tiểu bang để phục vụ đất nước Hoa Kỳ, cộng đồng Mỹ-Việt và cả cho một Việt Nam tự do-dân chủ.

Bốn, lần đầu tiên, một đảng viên Cộng Hoà và cũng là chủ tịch một tổ chức chính trị hoạt động 38 năm với lập trường dân tộc quốc gia và có nhiều thành tích phục vụ cộng đồng cùng quê hương: Tổ Chức Phục Hưng.

Hoàng Lan Chi thực hiện 1/2016

Web site của Nha sĩ Chu Văn Cương: www.nhasichuvancuong.com. Quý vị có thể liên lạc, nêu thắc mắc, yểm trợ…

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Bản tin HNA số 11-(Kim Tuyến tuyệt vời-Xem lại vụ Nguyễn Đạc Thành-Trách nhiệm, quyền hạn của toàn quyền Úc-VN sẽ ra sao khi VC dâng nước cho Tàu-Những điều nên biết về Trump)-August 8, 2016

Bản tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 11- August 8, 2016

(Tuần báo Thương Mại Miền Đông, Virginia)

LGT: Bản Tin TS Hoàng Ngọc An được viết cho Tuần Báo TMMD –Virginia, gồm các tin cộng đồng Hoa Thịnh Đốn và các tin đặc biệt trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Có nhiều links trong bản tin. Để hiểu rõ vấn đề hầu có được nhận định chính xác, quý độc giả cần theo links để xem. Hãy dành ít thời gian để đọc: đó cũng là một sự đóng góp vào con đường tranh đấu.

Trong số này: Kim Tuyến trả lời phỏng vấn, một tài liệu lịch sử- Xem lại trường hợp Ô Nguyễn Đạc Thành trong vụ “Bông hồng trên mộ hoang” năm 2013- Vụ ô Lê Văn Hiếu: LS giải đáp về quyền hạn và trách nhiệm của một toàn quyền Úc- Một bài viết chống Tàu rất hiệu quả-Bầu cử ở Mỹ, những điều nên biết về Trump.

Hoàng Ngọc An

*********************************************

Người nghệ sĩ cải lương tuyệt vời-Kim Tuyến

Nghệ Sĩ Kim Tuyến, đã chỉ thẳng mặt Kim Cương mắng tại Little Sài Gòn vào tháng 7/2016, vừa có một bài trả lời phỏng vấn tuyệt vời với Tuấn Khanh. Trong bài này, Kim Tuyến kể lại vài kỷ niệm sau 1975 khi vc vào thành. Những kỷ niệm này là có thể nói là tài liệu lịch sử được. Kim Tuyến đã tỏ thái độ ngay 75, sau 75, cả sau khi đến Mỹ thời gian đâu và thời gian từ 1993 với (Hoàng Thi Thơ), ngay cả khi vì tình cũ mà tiếp Bạch Tuyết nhưng khi BT có lời lẽ thân cộng, cả khi gặp Kim Cương 2016 ở Little Sài Gòn. Thật ngậm ngùi khi nhớ rằng, có một số người quốc gia, thành phần trí thức, cựu tù vc, đã ngả nghiêng sau 2005 ( thời gian mà Vc tung NQ 36 ra mua chuộc). Họ đã không giữ vững được khí tiết mà họ đã có vào những năm 75, 85 hay 95 chỉ vì họ hám danh chớ không phải vì họ nghèo không tiền. Khi đọc bài phỏng vấn, tôi có cảm giác sung sướng. Khi tôi chuyển tiếp thì một ông bạn già, Bùi Xuân Cảnh, Virginia, cũng bảo tôi là ông “sướng rên cả người”. Hóa ra, khi người ta cùng tư tưởng với quốc gia dân tộc thì cái cảm giác sung sướng khi được đọc tài liệu thật, kể thật về người có khí phách, làm cho người ta có cảm giác sung sướng như nhau. Tôi đang ngậm ngùi, không biết giới văn nghệ sĩ thủ đô Hoa Thịnh Đốn có ai có cảm giác sung sướng thế không nhỉ? Hay là họ chỉ sung sướng khi lễ sinh nhật của nhóm họ/ tổ chức của họ được ..bán hết bàn (!), khi nhạc họ được lancer, khi văn họ được ca tụng?! Coi đây đủ bài phỏng vấn Kim Tuyến ở đây:

Có cần thiết quỵ lụy vc để quyên góp bá tánh dưới chiêu bài xây mộ không

Năm 2010, ô Nguyễn Đạc Thành từ Mỹ sang Úc gây quỹ (Bông hồng trên nấm mộ hoang) và đã bị nhiều người quốc gia toàn thế giới cũng như toàn thể các chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng ở Úc phản đối vì phương cách của ông. LS Võ Trí Dũng, CT CĐNVTD Úc châu đã kết luận trong thông báo: vì đặc biệt lo ngại về phương cách và quan điểm của tổ chức đứng ra thực hiện công việc này khi biết họ chủ trương đối thoại và thương lượng với nhà cầm quyền CSVN trong việc cải táng mộ phần của các tử sĩ QLVNCH tại các trại lao tù (cải tạo) nên : “Vì những nhận xét nêu trên, chúng tôi kêu gọi các hội đoàn, đoàn thể và đồng hương tại Úc Châu, không tham gia, tiếp tay hoặc ủng hộ các chương trình gây quỹ cho việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa”. Xem tại link sau: TL về vụ Nguyễn Đạc Thành ( Bông hồng trên mộ hoa ng) ( 2010 và 2013)

Mới đây nhất, July 2016, Tạp Chí Dân Văn lại phổ biến tin tức liên quan đến hội VAF của ô Nguyễn Đạc Thành. Với chúng tôi, sự việc này đã khép vì CĐNVTD Úc cũng đã bày tỏ thái độ. Tuy vậy, nghe theo lời kêu gọi của CĐNVTD Úc hay không là quyền của mỗi công dân Úc-Việt. Tuy ở Mỹ nhưng chúng tôi nghe theo lời kêu gọi đó của CĐNVTD Úc Châu! Và vào năm 2013, trong một bài viết về vụ này, ý kiến cá nhân của chúng tôi là như sau:

Tóm lại, về vấn đề mà Nguyễn Đạc Thành kêu gọi, Báo Túm nghĩ rằng cộng đồng hải ngoại không cần phí thì giờ làm gì nữa. Hãy “ignore”.

Các cựu chiến sĩ của quân lực VNCH đã được người nhà di dời khá nhiều.

Dù chưa di dời thì họ, đã hy sinh đời trai cho tổ quốc, họ sẽ không cần chi cái gọi là “nắm xương tàn” để cho những kẻ hoạt đầu lợi dụng. Vc chỉ nắm giữ tạm thời guồng máy chính quyền, còn đất đai vẫn là của người Việt Nam. Xương máu họ đã hòa tan trong lòng đất mẹ. Họ, các chiến sĩ đã hy sinh, đang cần chúng ta làm những điều hữu ích cho đồng bào, những người còn sống và đang chịu ách bạo tàn của cộng sản thay vì chúng ta phải phân tán đủ thứ để lo cho những gìvĩnh viễn thuộc đất mẹ, của đất mẹ vì từ đất mẹ mà ra.Nhất là vì sự ưu tư này mà chúng ta đã bị đám phản bội gây rối loạn cộng đồng.

Nếu bọn Vc cày nát nơi an nghỉ của các chiến sĩ mà gia đình chưa có điều kiện dời được thì đề nghị chúng ta có hai biện pháp: (1) Chúng ta quyên góp và dời (2) Tố cáo mạnh mẽ trước quốc tế hành động bất nhân bất nghĩa này của vc.(ngưng trích).

Toàn Quyền Nam Úc, ô Lê Văn Hiếu có xứng đáng là công dân Úc không

Kể ra hỏi như trên cũng hơi tréo ngoe. Một vị toàn quyền mà lại bị đăt vấn đề là có xứng đáng là công dân Úc không? Thật ra, một công dân Úc-Việt là phải có một tư cách như thế nào đó, còn ô Hiếu đã cố tình phe lờ những câu hỏi chính đáng của cộng đồng người quốc gia trên thế giới thì chứng tỏ ông không xứng đáng là công dân của một người tự do-dân chủ. Loạt bài từ Hữu Nguyên với chứng cớ cho thấy có những khó hiểu trong nhân thân của ô Hiếu, trong sự kiện ông theo Thủ Hiến Úc về VN kêu gọi du học sinh qua Úc du học ở Adelaide. Những vị nào cho rằng TQ Hiếu chỉ làm theo lịnh cấp trên, chỉ có bổn phận với nước Úc thì hãy vui lòng xem bài viết của người khác trước khi phát biểu nếu không quý vị sẽ ở vào tình trạng biết một và chưa biết hai. Đây là một bài ngắn, điển hình: Tại Sao Phải Quan Tâm Vụ Toàn Quyền Nam Úc- Ô Lê Văn Hiếu-July 18, 2016

Một giáo sư tại Adelaide, Gs Kym Tran, người đi chung chuyến tàu với ô Hiếu đã lên tiếng. Đồng thời LS Mai Thành Đức từ Adelaide cũng giải đáp một số vấn đề liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của một toản quyền. Mời xem tại links sau:

Một bài viết chống Tàu hiệu quả
Một bài viết chống Tàu cộng rất hiệu quả. Bài viết kêu gọi công an, bộ đội trong nước hãy đứng dậy lật đổ nhà cầm quyền cs. Bài viết vạch rõ các hậu quả sẽ xảy ra cho dân VN nếu như Tàu Cộng chiếm VN theo Mật ước Thành Đô. Những kẻ nào nghĩ rằng sẽ cộng tác với Tàu và được trọng dụng là hoang tưởng. Căn cứ vào những gì Tàu đã làm với Tây Tạng, bài viết vạch ra những điều sẽ xảy cho dân chúng VN: là một vũ khí chống Tàu rất hiệu quả và tôi cho rằng có kết quả hơn rất nhiều so với các bài “cao siêu” của các ngài trí thức. Coi tại link sau:

§ Ngọc Ẩn-Điều gì xảy ra khi VC dâng nước qua mật ước Thành Đô? Nên xem nhất là các bạn còn kẹt ở VN của tôi nếu các bạn không muốn chết

Bầu cử ở Mỹ-Những điều nên biết về Trump

Mặt trận bầu cử vẫn sôi động. Đó là một sinh hoạt chỉ có ở các quốc gia dân chủ. Đặc biệt trong tranh cử, đôi bên ứng cử viên dùng đủ trò để tranh thắng. Người dân khôn ngoan là đọc hết, xem hết và sau đó tự quyết định. Thái độ chụp mũ cho người khác ý kiến mình (vd: nhận tiền nên dù không phải công dân Mỹ cũng viết bài đả kích Hillary) là điều không nên có ở người quốc gia VNCH nhất là chúng ta đã may mắn thoát cộng sản và đang sinh sống ở các quốc gia thuộc khối tự do.

Chỉ cần lấy cái đầu ra suy nghĩ vài điều: Một kẻ tâm thần có thành công trong thương trường vậy không? Một kẻ không ra gì có dạy được cả 5 người con nên người không? Tổng thống Hoa Kỳ có được toàn quyền làm mọi thứ theo ý muốn cá nhân hay bị kềm bởi chính đảng của họ và chính Quốc Hội, ( còn nói theo mặt đen thì bị kềm bởi tập đoàn siêu quyền lực)? Nói cách khác, những tuyên bố rầm rộ khi tranh cử có được thực hiện (một nửa) không? Bọn tài phiệt Mỹ có “ngu xuẩn” để nước Mỹ bị sập rồi họ chạy sang Ma rốc để ở không?

Trong bản tin HNA hôm nay, xin giới thiệu Vĩnh Tường với bài (Trump, Những điều cần biết). Tác giả nêu những điều cần biết về tiểu sử, hoạt động của Trump cho mọi người xem. Sau khi coi bài Vĩnh Tường, câu này của Trump làm cá nhân tôi rất “khoái” ( Từ 25, 30 năm về trước ông đã nói các nước tiếp tục lột da Hoa Kỳ trong những thoả thuận mậu dịch. Hoa Kỳ tiếp tục thiệt thòi cho đến ngày sẽ là con nợ lớn. Ông từng trả lời: “Tôi sẽ đòi đồng minh chia phần trách nhiệm công bằng. Chúng ta là đất nước nợ nần; một số vấn đề sẽ xảy ra trong những năm sắp tới đối với đất nước này, bỡi bạn không thể tiếp tục mất $200 tỉ. Và chúng ta đã để Nhật Bản đổ mọi thứ trên thị trường caủa chúng ta và mọi thứ nhé – đó không phải là tự do mậu dịch. Bây giờ nếu bạn đến Nhật bạn cố gắng bán thứ gì, miễn đi, Oparah. Hãy bỏ đi. Hầu như là không thể được. Họ không có luật lệ chống đối nhưng họ làm cho nó không thể thực hiện.”).

Thật vậy, hầu như nhiều quốc gia đều coi Mỹ là kẻ đứng đầu phải lo an ninh cho toàn thế giới nhưng vẫn “quạc” mồm ra chửi Mỹ khi cần. Điều kỳ lạ là chửi Mỹ nhưng không phát minh được cái gì cả, cứ hưởng các sản phẩm do trí tuệ của người Mỹ làm ra. Hưởng xong và chửi cho sướng miệng. Ố là la. C’est là vie!

Tôi ủng hộ việc Hoa Kỳ chú trọng lo cho quốc gia mình và Nato phài đóng góp nhiều hơn cho nền hòa bình thế giới. Chống cộng sản, chống phát xít hay chống Isis: không phải là nhiệm vụ của một mình Hoa Kỳ! (Tương tự, chống việt gian đang lũng đoạn cộng đồng người Việt hải ngoại là nhiệm vụ chung, không phải của vài người!) ( tương tự, người dân VN phải tự quyết định vận mạng mình, nỗ lực hành động, không dựa hoàn toàn vào Mỹ rồi chửi Mỹ!). Tôi chưa quyết định sẽ bầu ai hay không bầu ai. Vẫn wait and see! (xin phép cười cười).

Mời xem bài của Vĩnh Tường ở link sau:

§ Vĩnh Tường- Trump: Những Điều Cần Biết

Hoàng Ngọc An

8/2016

Bài cũ

§ Bản Tin HNA số 10-Mặt trận yên tĩnh-Thư Ray Starmann phản bác Khizr Khan-Song Chi tiếc nuối văn học miền Nam-Nhất Hùng vẫn nhả tơ dù đi vation-August 4, 2016

§ Bản Tin HNA số 9-Hai nhà truyền thông ở DC làm gì-Thái độ chính trị của Thế Sơn-Khi TQLC Trần Quang Duật nhớ lời thề số 3 của bộ đội vc-Bà TNHH kêu gọi VT đừng thâu tóm cộng đồng

§ Bản Tin Thời Sự số 8-July 27, 2016 -Khi ông Phạm Trần chụp mũ người khác là xía mũi-Tấm lòng “lương thiện” của ô DHC-Tường trình đại hội Cộng Hòa Và Dân Chủ

§ Bản Tin TS HNA số 7-Nhóm UCV Đinh Hùng Cường náo lọan Eden-Hai c hủ báo thị sát mặt trận-Chân dung người tài đức theo tiêu chuẩn của bà Tuyết Mai

§ Bản Tin HNA số 6 ( TT Lân ủng hộ bà Trúc Nương, Mũ Đỏ Phi vs Mùi -Lý luận của luật gia Bích Hà-Văn của Toàn Phong NXV-Hùng Ngô lên cơn-Bài chống Tàu hay-July 21, 2016

§ Bản tin Hoàng Ngọc An số 5-UCV Đinh Hùng Cường( rời VN trước ô Thiệu-Xe hoa July 4th 2008 có sao vàng trên nền đỏ ) -July 20, 2016

§ Bản tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 4-July 18, 2016

§ Bản tin HNA số 3-Mặt Trận miền Đông tạm lắng-Khi bà TM ấm ức-Michell Phương Thảo-Bằng Phong khóc một tình bạn -July 15, 2016

§ Bản Tin Thời Sự Hoàng Ngọc An số 2-July 12, 2016

§ Bản Tin Thời Sự Hoàng Ngọc An -July 7, 2016

Posted in Tạp Ghi | Comments Off