Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Lan Chi 2004-2013

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo-Những người “một thuở tung hoành ngàn năm không lưu dấu”

Hoàng Lan Chi 2014

Thời buổi bây giờ sách bán được phải nói rất hiếm. Vậy mà “Mặt Trận Đại Học” của Bạch Diện Thư Sinh (Trần Vinh) đã bán gần hết 400 cuốn ngay đợt đầu tiên dù không ra mắt sách, không cả quảng cáo. Bạn bè mua để tặng cho người thân và có khi đưa vào những buổi tổ chức triển lãm sách, thế thôi. Có lẽ hút vì yếu tố “mới”. Một lãnh vực chưa ai in sách và BDTS là người đầu tiên. Còn viết thì thật ra đã có một nhân viên khác của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo thực hiện. Tài liệu đó không in sách mà nằm trong "Hồi ký một đời người", lưu trữ net. Đó là Lê Anh Kiệt. Chính từ “sư huynh” Lê Anh Kiệt (anh cũng học Hóa-Khoa Học và lớn hơn tôi) mà tôi nhận sách Mặt Trận Đại Học của bạn anh, và cũng là cán bộ cùng chung tùng sự ở Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Bạch Diện Thư Sinh.

Khi xem tựa tôi đã bị thu hút và đọc ngay. Chưa có cuốn sách nào “hút’ tôi đến như vậy. Ngoài yếu tố “mới” thì còn hai điều khác: tình báođại học. Tôi vốn dĩ vẫn ưa thích những gì thuộc “tình báo”. “Môi trường đại học”, nhất là ĐH Khoa Học thì là “một phần của đời tôi mà”. Khoa học,Văn KhoaLuật Khoa ngày ấy là những nơi vc trà trộn nhiều nhất. Tôi còn nhớ, tôi là một dạng sinh viên thầm lặng, bất mãn trước những trò này nọ của Ban Đại Diện nhất là xé bài thi, hủy cuộc thi. Bất mãn mà không biết làm gì. Vào thời điểm tôi học chưa có ban A17. Phải đến khi tôi ra trường, lang thang Tổng Nha Kế Hoạch, rồi về lại trường thì đó là thời gian hoành hành của Huỳnh Tấn Mẫm và mới có Ban A17. Nhóm sinh viên thiên tả Bừng Sống ở Khoa Học của tôi núp dưới trướng GS Trần Kim Thạch, Ban Địa Chất và đánh nhau với nhóm sinh viên quốc gia bao bận trong sân trường Khoa Học. Tôi nghe nói và chưa chứng kiến bao giờ. Có lẽ vì quy chế giảng nghiệm viên thời đó chỉ dạy sinh viên thực tập có 12 giờ/một tuần nên chúng tôi không có mặt ở trường nhiều. Thời gian còn lại, tôi cũng như đa số các bạn khác, đi dạy tư thục. Nhưng hồi đó, tôi biết Phạm Hào Quang và rất mến anh. Lê Anh Kiệt đã mô tả Phạm Hào Quang là một điển hình cho sinh viên quốc gia, đóng góp không nhỏ cho cán bộ ban A17 hoạt động thành công trong việc chiếm lại Ban Đại Diện trả lại sự yên tĩnh cho sân trường đại học, cho đô thị và cũng là góp phần không nhỏ cho sự bình định quốc gia. Riêng du ca Miên Đức Thắng thì học cùng SPCN với tôi. Anh ta cũng tham gia ra ứng cử Ban Đại Diện. Sau này Thắng không học đến nơi đến chốn mà đi đâu tôi không biết. Sau 1975, một số khuôn mặt “bò về”. Chúng tôi mới biết đó là đám sinh viên Khoa Học nằm vùng và vào bưng.

Khi đọc bài về ban A17 của Lê Anh KiệtBạch Diện Thư Sinh, tôi rưng rưng và thấy áy náy. Áy náy vì ngày xưa chỉ chăm chắm lo học, không chú ý tình hình chung quanh. Chính sự thờ ơ đó của đa số sinh viên, không sử dụng lá phiếu, là nguồn gốc cho vc thâm nhập. Sự im lặng là đồng lõa với tội ác: là thế. Vì thế bây giờ tôi tự nhủ không cho phép mình im lặng trước điều xấu và kẻ xấu.

Tôi nói đùa với Bạch Diện Thư Sinh rằng sách anh do Lê Anh Kiệt tặng thì tôi “hớn hở” coi ngay còn cuốn “Việt Nam cội nguồn cuộc chiến” của cựu Đại Tá Hà Mai Việt gửi đã lâu thì tôi chưa đọc được hết.

Tuy thế Hoàng Lan Chi không phải là người “hớn hở” duy nhất. Khi gửi cho cô em họ xem bản nháp thì KA đã đòi mua. Bạch Diện Thư Sinh cười hì hì “Còn đâu mà mua. Phải chờ tôi hỏi bạn tôi đã. Mỗi tên ôm một ít. Có tên đã bán hết”. Tôi nói anh tái bản đi, anh bảo “chưa hoàn hồn”.

Hôm nay, sau khi Bút Tre gửi báo, tôi gửi bài điểm sách “Mặt Trận Đại Học” ra theo hệ thống mails. Chỉ mười phút sau, tôi nhận thư từ Chị BB rồi ông PQT (ơ hai vị này đều là người trong Văn Bút Hải Ngoại) đều hỏi “Hoàng Cô Nương ơi, tôi muốn mua thì làm sao?”

Phương Hoa, người mà tôi từng giới thiệu “Con dao xếp trong ngày Tết tây” nhưng đoạt giải chung kết của Việt Báo thì ở bài khác, mail cho tôi như vầy:

“Rất tâm đắc với đoạn phê bình này:

‘Đa số, nghĩa là nếu một người viết sách cho người quốc gia hải ngoại đọc, thì theo quy tắc cũ của VNCH. Còn nếu người đó viết sách cho vc hay người trong nước bây giờ đọc, thì có thể theo quy tắc của VC. Cho dù Y/I không phải độc quyền của Vc nhưng đại đa số dân chúng VNCH không biết, chỉ thấy VC dùng, thì sự kiện họ “dị ứng” với người dùng I thay Y là lẽ đương nhiên. Ở bầu thì tròn, nên áp dụng để độc giả không có cảm giác khó chịu khi đọc sách mình. Đó là sự tôn trọng độc giả, người sẽ đọc sách mình, trong một giai đoạn nào đó của lịch sử…’"

Bravo! Good job!HLC.

Tôi trả lời “Good comment, Phương Hoa”.

Thật ra, tôi thích câu này trong bài viết của tôi cơ “Nhưng tôi nghĩ rằng, với tôi, phỏng vấn người A không có nghĩa “show off” người A. Câu hỏi từ tôi, câu trả lời từ người A, sẽ quyết định là có “show off” hay không. Nếu ai chú ý theo dõi một số bài phỏng vấn của tôi sẽ thấy: tôi cố gắng đưa nhiều tài liệu đến độc giả. Tất nhiên tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trên câu trả lời của họ. Tôi không cho người kia tự “show off” nhiều mà chính là tôi giúp họ điều đó nếu xét ra những cái “show off” đó làm tăng thêm giá trị cho họ, cho cả bài phỏng vấn và có tính cách “điểm xuyết” cho bài phỏng vấn chứ không hề làm giảm. Sau nữa, tôi nghĩ rằng, lịch sử là do mọi con người đóng góp. Viết lịch sử cũng là do con người viết. Điều mà mỗi chúng ta có nghĩa vụ đóng góp vào giòng lịch sử không ngừng chảy của dân tộc là hãy làm chứng nhân cho thời đại mình sống, cho việc mình làm, cho những sự kiện mình chứng kiến. Người có trách nhiệm viết lịch sử sẽ đọc tất cả, từ những “tai voi”, “đuôi voi”, “ vòi voi” để phân tích, tổng hợp và cuối cùng những giòng lịch sử chân chính nhất sẽ hình thành. Do đó, tự viết, hay trả lời phỏng vấn: với tôi là NGHĨA VỤ chứ không phải “show off”.

Còn một ông thì mô tả về những sinh viên quốc gia tùng sự trong Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo bằng một câu duy nhất:

Một thuở tung hoành ngàn năm không lưu dấu!

Hoàng Lan Chi 1/2015

Hoàng Lan Chi và sách MTĐH

Dưới đây Hoàng Lan Chi xin giới thiệu 2 chương của sư huynh Lê Anh Kiệt, cũng là một nhân viên của ban A 17, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Xem bài Hoàng Lan Chi phỏng vấn Lê Anh Kiệt tại đây: Saigon Muôn Năm Cũ -Lê Anh Kiệt với Mặt trận tình báo

Vị nào muốn xem tiếp sách Lê Anh Kiệt xin mail cho Hoàng Lan Chi.

******************

GIỚI THIỆU 2 CHƯƠNG TRONG SÁCH CỦA LÊ ANH KIỆT

Chương 5. Những Báo Hiệu Về Sự Sụp Đổ Của Việt Nam Cộng Hoà

Ngày 21 tháng tư năm 1975, tôi đến văn phòng trong cơ quan rất sớm, các bạn tôi cũng thế. Họ đang bàn tán về việc bàn giao nhiệm vụ giữa ông Đặc Uỷ Trưởng Nguyễn Khắc Bình với ông Nguyễn Phát Lộc, phụ tá Điều Hành. Chúng tôi đã biết việc này xãy ra là kết quả của sự thay đổi trong phủ Tổng Thống, và mọi việc đang bắt đầu!

Ông Long, sếp chúng tôi cũng đến rất sớm. Ông ta bảo chúng tôi giữ bình tỉnh, nhưng tôi nghĩ chính ông ta lại thấy không có vẽ bình tĩnh chút nào. Ông ta đi quanh các phòng và hội trường nói nhiều chuyện khác nhau nhưng lại tránh không đã động đến việc đang xãy ra trong Dinh. Chúng tôi nghĩ chắc ông đã biết về việc chúng tôi đang suy đoán về sự từ chức của Tổng Thống.

Thật ra Nguyễn Văn Thiệu hay ai khác làm Tổng Thống không thành vấn đề với chúng tôi. Điều chúng tôi quan tâm chính là vận mệnh của đất nước và số phận của chúng tôi. Ai sẽ là Tổng Thống và ông ta sẽ làm gì để đối phó với vận mạng của đất nước? Phó Tổng Thống Trần Văn Hương không đủ sức để nắm chức vụ. Tướng Dương Văn Minh là người muốn hoà hợp với Cộng Sản. Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ có lẽ sẽ dẫn đất nước đến một trận chiến lớn.

Chúng tôi chẳng sợ chết nếu phải chiến đấu với VC. Chúng tôi cũng biết rằng mọi sự hòa hợp với Cộng Sản sẽ đưa đến sự thất bại bởi vì chúng sẽ không bao giờ giữ lời giao ước. Nhưng chúng tôi lại không có được sự lựa chọn nào! Áp lực chính là người Mỹ; đó mới chính là sự đau khổ cho dân tộc nước nhỏ. Tôi nghĩ người Mỹ không muốn chúng ta đánh nhau nữa. Họ muốn có thương thuyết để có một nền hòa bình trong danh dự như họ thường nói, và điều này có nghĩa là họ chọn Big Minh để thực hiện điều họ muốn. Nguyễn Văn Thiệu đã nói rằng: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì mà Cộng Sản làm”. Tôi không biết ai là tác giả thật sự của câu nói ấy, nhưng tôi nghĩ quả thật điều đó rất đúng.

Cô thư ký của sếp, Đẹp, vẫn tiếp tục đánh máy danh sách địa chỉ của nhân viên. Vài người muốn thay đổi địa chỉ, và vài người không vào cơ quan ngày hôm qua. Sự bàn giao chức vụ trong cơ quan diễn ra rất lặng lẽ; không có một nghi thức nào, không có sự tham dự của nhân viên, vì vậy chúng tôi sẽ không biết gì nếu không ai loan báo. Tin đồn về sự bàn giao này đã thành sự thật. Chúng tôi lại cũng nghe nói rằng Nguyễn Phát Lộc, tân Đặc Ủy Trưởng chỉ có nhiệm vụ duy nhất là lo chuẩn bị việc di tản cho chúng tôi. Chúng tôi hỏi sếp về tin đồn này, nhưng ông ta từ chối không chịu nói; ông ta chỉ nói rằng mọi việc sẽ diễn tiến theo sự sắp xếp. Những lời nói mập mờ này không làm chúng tôi bằng lòng, và chúng tôi quả thật không biết giải quyết tình trạng chúng tôi ra thế nào: hoặc là chờ đợi cơ quan hay tự tìm lấy phương kế riêng mình để thoát thân.

Sự từ chức của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được loan báo chiều hôm ấy, và bài diễn văn dài chín mươi phút của ông ta được truyền đi trên đài truyền hình và đài phát thanh khắp cả nước. Chúng tôi nghe một cách lơ đễnh dù tổng thống có một dáng vẽ rất là buồn rầu và giận dử. Chúng tôi đã biết trước việc này rồi, và chúng tôi cũng còn biết rằng ông cụ 72 tuổi, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương chỉ làm Tổng Thống tạm thời mà thôi. Điều chúng tôi đang lo là ai sẽ thay thế tiếp theo và ông ta sẽ đối phó ra sao với tình trạng của đất nước.

Lời kêu gọi đoàn kết để chống kẽ thù của Trần Văn Hương chỉ là nghi thức. Ông ta không có thực lực để huy động sức mạnh của các tướng lảnh và của nhân dân. Dân chúng không còn tin tưởng chính quyền nữa. Họ đổ cho chính quyền là tham nhũng và đưa quốc gia đến tình trạng hiện thời. Tôi không biết đó là sự thật hay chính là ảnh hưởng của sự tuyên truyền của VC. Nếu điều đó đúng thì sự tham nhũng của cấp lảnh đạo trong chính quyền và quân đội chính là sự tàn phá đất nước trong chiến tranh vì điều này khiến kẽ thù có cơ hội để làm tan nát sự đoàn kết toàn dân. Dân chúng sợ Cộng Sản, nhưng họ lại không tin tưởng vào chính quyền. Điều đó đã khiến một người nào có nhiệt tâm kết hợp toàn dân để chiến đấu chống Cộng sẽ rất khó khăn. Hầu hết mọi người Việt Nam đều biết câu tục ngữ “đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”, nhưng không ai thực hiện điều ấy. Quả thật là một điều khó khăn! Làm thế nào chúng ta có thể đối phó với việc này cho dù chúng ta có sức mạnh và nhiệt tình đi nữa?

Cái chết của vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam, Ngô Đình Diệm, vào năm 1963 đã bắt đầu cho sự xáo trộn trong cấp lãnh đạo ở Nam Việt Nam; sự từ chức của Nguyễn Văn Thiệu có lẽ là sự mở màn cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa! Chúng tôi đều nghĩ đến điều này, nhưng không ai biết phải làm sao để giải quyết vấn đề của đất nước và của chính bản thân chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng sẽ có cơ hội để chiến đấu một trận chiến cuối cùng với VC và mong rằng cái gọi là các quốc gia Đồng Minh sẽ không bỏ rơi chúng tôi trong cuộc chiến ấy.

Trận chiến ở Xuân Lộc đã thất bại trước khi Tổng Thống từ chức. Vài dư luận cho rằng Mỹ đã ngăn không cho tướng Lê Minh Đão, tư lệnh Sư đoàn 18 dùng một loại vũ khí hóa học để dành chiến thắng trong trận chiến ấy! Chúng tôi không biết điều đó có thật vậy không, nhưng sự thất bại này là sự thất vọng cho mọi người trong thủ đô vì đó là tuyến phòng thủ cuối cùng về phía Đông Bắc Sài Gòn.

Sự viện trợ của các nước Đồng Minh đặc biệt là của Mỹ chỉ là một sự mơ hồ sau khi Tổng Thống Mỹ Ford bị quốc hội Mỹ phủ quyết ngân khoảng viện trợ 722 triệu Mỹ Kim về quân sự khẩn cấp cho chính phủ Sài Gòn. Những cuộc di tản của người Mỹ, Nhật, và những người ngoại quốc khác ra khỏi Sài Gòn là một bằng chứng rõ ràng về sự bỏ rơi của Mỹ. Cuộc chiến hai mươi năm chấm dứt trong sự từ chức của tổng thống dưới áp lực nặng nề của nhiều phía. Tôi không biết Tân Tổng Thống có thể nào đối phó với hòa bình của đất nước hay không. Trong lúc ấy, tôi chỉ nhìn thấy viễn ảnh của sự mất nước sẽ xãy ra khi chứng kiến trên truyền hình Ông Trần Văn Hương di chuyển rất khó khăn dưới sự trợ giúp của người khác. Mặc dù trong diễn văn, ông ta thề rằng ông ta sẽ chiến đấu cho đến khi nào mọi lực lượng đều chết hết hay đất nước mất đi và sẽ được chôn chung với các chiến sĩ, tôi nghĩ chắc ông ta không có cơ hội thực hiện lời thề vì ông ta đã quá già yếu ở cái tuổi bảy mươi hai.

Rõ ràng rằng sự chuyển giao chức vụ trong cơ quan là để chuẩn bị cho việc di tản cho nhân viên, nhưng chúng tôi cũng không thấy một chương trình nào cả. Một cơ quan tình báo phải sắp xếp rất nhiều điều một khi muốn bỏ cuộc như việc tiêu hủy hồ sơ, chuẩn bị phương tiện vận chuyển cho hàng ngàn nhân viên và gia đình, vân vân… Chúng tôi chỉ được khuyên là nên giữ bình tỉnh trong mọi tình huống và chờ đợi quyết định của cấp trên. Tôi nghĩ họ chẳng dám quyết định gì hết. Một vài người có cơ hội riêng đã đi ra ngoại quốc, số còn lại không thể tự lo lấy mình được thì đang phải chờ đợi trong vô vọng một kế hoạch của cấp lảnh đạo.

Những ngày tiếp theo quả là những ngày dài nhất của chúng tôi. Lời kêu gọi của Tân Tổng Thống giữ vững vị trí để chống lại kẽ thù được ban ra như một mệnh lệnh. Chúng tôi phải ứng trực một trăm phần trăm trong cơ quan. Chúng tôi phải ở lại trong văn phòng cả ngày ngoại trừ khi đi tiếp xúc với cộng tác viên hay về nhà thay quần áo. Chúng tôi không biết làm gì mà chỉ còn biết túm tụm nhau đánh bài và bàn tán. Tôi không biết đang chờ đợi việc gì: một trận chiến với VC, một cuộc di tản, hay sự sụp đổ của đất nước. Thật là một tình huống bi thãm!

Vợ tôi cũng phải ở lại trong văn phòng, và chúng tôi chỉ gặp nhau vào buổi cơm trưa. Tôi cãm thấy tội nghiệp cho cô ấy với cái bầu trong lúc này. Cô ta là một người phụ nữ nhỏ nhắn mà tôi hay gọi đùa là “fragile”, và cô ta cũng rất thích cái tên ấy. Trong tình trạng ấy, tôi không hiểu cô ta có đủ sức để chịu đựng hay không. Tôi tự hỏi cái bầu ấy là một niềm hạnh phúc hay chính là nỗi buồn của cô ta mặc dù cô ta đã chờ đợi nó rất lâu. Tôi không thể nào có quyết định gì cho chúng tôi mỗi lần nhìn vợ tôi. Cô ấy quá mãnh mai và cái bầu thì lại quá nặng nề; làm thế nào có thể leo lên tàu để làm một chuyến đi đến một nơi vô định! Tôi sẽ không thể nào bỏ mặc vợ tôi một mình trong lúc ấy vì cô ấy cũng làm việc cho cơ quan, và tôi cũng không muốn bỏ rơi cô ta để tìm cách tự cứu lấy mình. Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ cùng chết nếu tình trạng tồi tệ diễn ra. Điều tôi mong mõi là con tôi sẽ được sanh ra trước khi tình trạng tồi tệ xảy đến, chúng tôi sẽ tìm ra một phương cách cho chúng tôi: trốn ở đâu đó, đi ra khỏi đất nước, hay tự sát nếu cần thiết.

Bên cạnh tình trạng xáo trộn của đất nước, chúng tôi vẫn phải làm công tác thường lệ. Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã được bầu một cách thành công. Phạm Minh Cảnh, cộng tác viên của tôi trở thành Chủ Tịch. Lễ ra mắt Tân Ban Chấp Hành vẫn được tổ chức như thường lệ. Thay vì tổ chức ca nhạc trong buổi lễ ra mắt, lần này chúng tôi cho chiếu một phim đã bị xem là tội lỗi vào thời ấy, đó là phim Exorcist. Tôi không biết tại sao sếp lại chọn phim ấy vì nó đã bị cấm từ lâu bởi cơ quan kiểm duyệt của chính phủ. Tôi cũng không đến dự buổi lễ vì tôi không muốn cho vợ tôi xem phim rùng rợn trong khi cô ấy đang mang thai và cũng chính vì tôi đang quá lo lắng cho số phận của chúng tôi trong hiện tình của đất nước. Điều đầu tiên mà Tân Tổng Hội yêu cầu là cho tấn công Bắc Việt bằng vũ khí nguyên tử để giải quyết tình trạng miền Nam. Tôi nghĩ đó quả thật là một điều vô ích và buồn cười bởi vì không ai trên thế giới còn muốn một cuộc chiến tranh nguyên tử. Chiến Tranh Việt Nam chính là cuộc chiến tranh cục bộ giữa chủ nghĩa Tư Bản và chủ nghĩa Cộng Sản để tránh một cuộc chiến toàn cầu. Mọi thứ vũ khí hiện đại nhất của hai phe Đông Tây đều đã được thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam trong suốt hai mươi năm. Có lẽ đây là lúc phải chấm dứt cuộc chiến ấy! Điều đáng buồn là chúng ta, những người lính Nam Việt Nam đã bị hy sinh bởi những nước lớn.

Trận chiến ở Xuân Lộc đã chấm dứt với sự thất bại của sư đoàn 18; những người lính thất trận rút lui một cách vô trật tự về thủ đô. Các đơn vị VC bao vây Sài Gòn; hỏa tiển của VC rơi khắp nơi trong thủ đô, ngay cả trong bộ chỉ huy cơ quan. Trong khi đó chính phủ dưới sự lảnh đạo của một ông cụ già, Trần Văn Hương, đã bị VC từ chối việc đại diện để thực hiện cuộc hòa đàm. Ở Mỹ, Tổng Thống Ford loan báo rằng đối với người Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt. Điều còn lại đối với Mỹ là việc di tản cho sáu ngàn người Mỹ ở Việt Nam. Để di tản cho khoảng hai trăm ngàn người Việt Nam có liên quan với Mỹ, họ cần một đơn vị rất lớn, và điều này khó có thể được quốc hội Mỹ chấp thuận.

Tôi cãm thấy rất đau lòng khi phải đặt số phận mình trong tay những người sống bên kia bờ đại dương, những kẽ không quan tâm đến gì khác hơn là quyền lợi của họ. Rỏ ràng rằng dân chúng Mỹ đã quá sợ cuộc chiến mà họ cho rằng dài nhất trong lịch sử Mỹ; họ mong có hòa bình! Họ không muốn tiếp tục cái mà họ gọi là “Chiến Tranh Việt Nam”, nhưng tôi nghĩ họ chẳng quan tâm gì đến hàng triệu người Việt Nam mà số phận của họ đang bị đe dọa một khi Cộng Sản chiếm cứ. Năm 1972, cái gọi là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” sau hiệp định Paris đã dọn đường cho sự rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam. Người Mỹ cuối cùng sẽ ra khỏi Việt Nam để chấm dứt cuộc chiến tranh mà họ càng lúc càng bị lún sâu vào vũng lầy.

Người Mỹ cho rằng Chiến Tranh Việt Nam là cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử Mỹ, và họ không muốn đổ tiền vào cái lỗ không đáy ấy nữa. Họ đổ cho chính quyền Việt Nam là tham nhũng và đã làm mất nước, nhưng họ không cho nhân dân Việt Nam tự chọn lựa cấp lãnh đạo. Họ đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ như ở Mỹ với sự tự do hoàn toàn và với sự đối lập. Tôi nghĩ điều này quả thật là quá viễn tưởng đối với một nước đang ở trong chiến tranh hàng trăm năm.

Hầu hết mọi đảng phái đối lập và ngay cả trong các tổ chức chính quyền, VC đều có người len vào để thúc đẩy những phần tử bất mãn làm việc có lợi cho chúng. Thay vì giúp đở cho việc xây dựng một chính quyền mạnh thì Mỹ lại giúp cho các tổ chức chống đối để Cộng Sản có cơ hội lợi dụng. Những phong trào sinh viên học sinh từ Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi đều bao gồm những người Cộng Sản từ cấp lãnh đạo đến các người ủng hộ. Cái gọi là mẹ và chị trong các phong trào này chẳng ai khác hơn là những người Cộng Sản. Nếu chính quyền đàn áp các phong trào này thì bị cho rằng chính quyền đã dùng bạo lực với đàn bà và thanh niên, nếu không thì càng lúc càng thêm xáo trộn cho đất nước. Các vấn đề này càng ngày càng làm chính quyền trong tình trạng tiến thối lưỡng nan. Tôi không bào chữa cho chính quyền, nhưng trong nhiệm vụ hàng ngày tôi đã từng đối đầu với những khó khăn này. Điều tôi muốn nói ở đây là một quốc gia có chiến tranh không giống như một đất nước đang hòa bình, và chúng ta cần nên chấp nhận trách nhiệm của mình chứ không nên đổ cho chính quyền mà thôi. Tôi vẫn luôn nhớ một thành ngữ của Trung Hoa rằng: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách (Sự còn mất của đất nước là trách nhiệm của mọi người ngay cả kẻ thất phu.)

Sự di tản của người Việt Nam là đề tài chính trong những ngày này đặc biệt là đối với sĩ quan và nhân viên chính quyền Nam Việt Nam, nhưng thường dân lại đầy đặt phi cảng Tân Sân Nhất. Quốc lộ 15, con đường chính để di tản từ Sài Gòn đã bị VC siết chặc. Hầu hết những sĩ quan Nam Việt Nam có phương tiện đều đã đưa gia đình ra đi, nhưng số còn lại thì tự hỏi việc ra đi này có quá sớm hay không! Vấn đề khó khăn cho chúng tôi lúc ấy là một cuộc ra đi quá sớm là việc đầu hàng mà không có chiến đấu, nhưng nếu để quá trễ thì lại không còn kịp nữa. Tổng Thống từ chức Nguyễn Văn Thiệu đã rời Sài Gòn đi Đài Loan mặc dù trong diễn văn từ chức ông ta đã nói rằng ông ta chỉ từ chức chứ không bỏ cuộc. Nguyễn Khắc Bình, Đặc Ủy Trưởng đã đi ngay ra nước ngoài sau khi bàn giao quyền hành. Vài vị lãnh đạo trong cơ quan như ông phụ tá Tấn, Giàu, ông Tâm trưởng ban A, đã bỏ cuộc và ra đi. Trong khi đó lệnh từ tân Tổng Thống là phải giữ vị trí để chuẩn bị trận chiến đấu cuối cùng. Mọi việc đang xãy ra khiến chúng tôi hoang mang hơn lúc nào hết. Ông Long, sếp chúng tôi cố gắng trấn an chúng tôi bằng cách hiện diện thường xuyên trong văn phòng, nhưng tôi nghĩ ông ấy cũng đang rất lo lắng vì ông ta không có những phong cách thường ngày. Ông ta đi vòng quanh và tránh những câu hỏi của chúng tôi về hiện tình của đất nước.

Chương 8 . Cải Tạo

Hầu hết nhân viên của Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo không thể di tản được đều có mặt ở trụ sở trung ương sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975 nhưng lại ở ngoài sân thay vì trong văn phòng như mọi ngày. Chúng tôi phải trình diện cho cái gọi là “Uỷ ban Quân Quản” của “Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời”. Mọi người cố giử vẻ bình tỉnh, nhưng không ai có thể che dấu được sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt. Mặc dù rất đông người trong sân, một sự im lặng nặng nề bao phủ khắp nơi. Ai nấy đều thì thầm với nhau dường như sợ rằng lời nói của mình có thể bị người khác nghe được. Không như tôi đã dự đoán, Tuân, Banh, và hầu hết những người làm việc với tôi như Nhàn, Trung, Tâm, Trí, Lâm, Vinh, đều ở lại. Tôi nghĩ họ đều độc thân, hay gần như độc thân, việc leo lên một con tàu nào đó để đi là một việc rất dễ dàng đối với họ. Tuy nhiên, tôi đoán rằng có lẽ họ đều đã quá tin vào kế hoạch di tản chung của Phủ. Một kế hoạch không hoàn chỉnh đã tạo nên một tình trạng bi thảm như thế này đây! Giờ này thì mọi người chỉ còn biết giao tính mạng mình cho sự may rủi mà thôi.

Sau khi đã điền tên vào giấy để trên bàn đặt giữa sân, vợ tôi và tôi đến gặp Linh và Lan, chị vợ tôi cùng chồng chị ấy. Giấy tờ chúng tôi đã tiêu hủy vào tối hôm qua nên không thể nộp cho viên thư ký ngồi ở bàn theo lời yêu cầu của ông ta. Tôi không biết viên thư ký này, nhưng vài người cho chúng tôi biết đó là trung tá Khương, trước đã từng là Chánh sở An Ninh của Phủ. Tôi cũng không rõ ông ta là Việt Cộng hay chỉ là người Cơ Hội! Tôi đi ngang qua Tuân và Banh; cả hai chỉ nhìn tôi gật đầu không nói lời nào. Tôi không còn nghe tiếng cười của Tuân và Banh như thường ngày nữa. Chúng tôi chỉ trao nhau những nụ cười chua cay để thay vào đó.

Lần đầu tiên chúng tôi phải ngồi xổm xuống đất để đợi đến phiên mình làm giấy tờ. Long, cựu nhân viên của phòng tuyển mộ gọi tên từng người trong danh sách; chúng tôi tuần tự đến ký tên vào một tờ giấy đặt trên bàn ở gần cổng của phòng y tế, kế bên bãi đậu xe.

Những ngày từ 2 tháng năm đến 14 tháng sáu, tôi nhớ có hai lần tôi phải đến trình diện với những tên VC đã tiếp thu Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo. Lần đầu tiên -tôi không nhớ rõ ngày nào- họ cử hai người mặc thường phục đến nhà mẹ tôi chở tôi đến một trụ sở cũ của cơ quan ở đường Trần Bình Trọng. Chúng bảo tôi viết lại những gì tôi biết được về khoảng thời gian từ năm 1969 đến 1972 lúc tôi trà trộn trong sinh viên để tiếp cận với Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn do Huỳnh Tấn Mẫm làm chủ tịch. Họ giữ tôi từ sáng đến sáu giờ chiều mới đưa tôi về nhà. Tôi phải đưa tiền để mua phần ăn trưa. Lần thứ hai, họ gửi thư gọi tôi đến trình diện tại nhà an toàn cũ của ban A17 tại đường Phan Thanh Giản, nơi đây tôi gặp Nguyễn Tá, người đã làm việc chung với tôi khi tôi còn làm ở Ban Z, Ban Công Tác Nội Chính, và cũng là người đã tiếp thu Phủ. Tôi nghĩ lần đó chỉ vài ngày trước khi tôi phải đi trình diện cải tạo. Tôi không phải viết gì lần này. Nguyễn Tá khuyên tôi nên đi trình diện học tập cải tạo theo chỉ thị của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời để được sự khoan hồng của nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa.

Kể từ đó, danh từ “Cải Tạo” được nghe nói đến khắp nơi! Cải Tạo Tư Tưởng, Cải Tạo Nếp Sống, Cải Tạo Xã Hội, Cải Tạo Kinh Tế, vân vân và vân vân, được loan báo hàng ngày trên đài phát thanh và truyền hình. Binh sĩ Nam Việt Nam trình diện cải tạo và được thả về sau ba ngày. Hạ Sĩ Quan Nam Việt Nam được thả về sau bảy ngày cải tạo, và rồi sĩ quan từ cấp thiếu uý đến đại uý phải học tập trong 10 ngày. Sĩ quan từ Thiếu Tá trở lên, nhân viên chính quyền từ Trưởng Ty đến Tổng Thống cũng như nhân viên tình báo trung cấp và cao cấp phải trình diện học tập trong một tháng.

Theo thông cáo của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời, lịch trình trình diện của chúng tôi là từ ngày 13 tháng sáu đến 15 tháng sáu và địa điểm là trường Trung Học Chu Văn An. Chúng tôi phải đóng tiền ăn trong một tháng là mười bốn ngàn đồng cho mỗi người và phải mang theo chăn màn quần áo. Mọi việc diễn tiến rất hợp lý. Cộng Sản chọn trường học để làm địa điểm trình diện cải tạo và quy định thời gian hợp lý cho từng cấp bậc. Mặc dù chúng tôi không tin vào lời nói của Cộng Sản, chúng tôi cũng phải tự trấn an bằng cách hy vọng điều đó là sự thật. Ngoài ra, chúng tôi làm được gì trong hoàn cảnh ấy, và chúng tôi có thể trốn đi đâu bây giờ? Chúng tôi coi như đã chết rồi từ ngày 30 tháng tư.

Ngày 13 tháng sáu nhằm ngày thứ sáu, ngày xui xẻo! Ngày 14 là Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng năm, cũng là ngày xui đối với người Việt Nam! Chúng tôi quyết định chọn ngày 14 tháng sáu là ngày đầu tiên đi cải tạo với hy vọng rằng hai cái xui sẽ trở thành một cái hên! Tôi chẳng còn tiền để đóng nên đành phải cầm thế chiếc nhẩn cưới để có tiền đi cải tạo. Điều này giống như một chuyện đùa, nhưng đó chính là sự thật mà tôi đã trải qua một cách cay đắng.

Trên chuyến xe buýt từ nhà mẹ tôi đến trường Trung Học Chu Văn An, chúng tôi gặp một ông lão, ông ta hỏi chúng tôi đi đâu vậy. Tôi nghĩ rằng ông nhìn thấy đồ đạc cồng kềnh của chúng tôi. Tôi trả lời rằng chúng tôi đi “học tập cải tạo!”. Ông ta nhìn chúng tôi cười một cách khó hiểu và chúc chúng tôi may mắn. Lúc đó tôi không hiểu được ý nghĩa nụ cười của ông ta, tôi đoán chắc ông ấy tỏ vẻ thương hại chúng tôi. Không chỉ có hai chúng tôi đi cải tạo mà còn có cả đứa con còn trong bụng vợ tôi nữa!

Trường Trung Học Chu Văn An là trường mà tôi đã theo học vào lớp 12. Đó là năm 1963, năm mà Dương Văn Minh được Mỹ giúp sức để làm cuộc đảo chánh giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bắt đầu xáo trộn miền Nam Việt Nam ngõ hầu Mỹ có cơ hội đưa quân vào Việt Nam. Mười hai năm sau, tôi lại trở lại trường xưa, và Dương Văn Minh, người đã vừa giúp đở VC chiếm miền Nam, đang ở trong Đại Học Xá Minh Mạng dành cho sĩ quan từ cấp đại tá đến cấp tướng ở kế bên.

Bạn bè và đồng nghiệp của tôi đang đứng phía trước trường. Lan và Linh, vợ chồng chị vợ tôi đã trình diện vào hôm qua sau khi giao hai đứa con trai bốn tuổi và một tuổi cho ông bà ngoại nuôi dùm. Nhìn cái bụng vợ tôi, tôi tự hỏi làm sao cô ấy có thể chịu đựng được một tháng cải tạo cho dù đó là một tháng như họ nói. Nhưng tôi lại nghĩ mỗi người đều có hoàn cảnh khó khăn riêng. Hơn nữa, tôi nghĩ rằng chúng tôi coi như đã chết từ cái ngày “giải phóng”. Phần còn lại chỉ là một cuộc sống vô vọng; ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ là một danh từ. Trong ý nghĩ đó, chúng tôi bước vào ngày cải tạo đầu tiên của chúng tôi sau khi nói đùa với bạn bè rằng “ai đi sớm sẽ được về sớm.”

Trường Trung Học Chu Văn An nằm đối diện với nhà thờ Ngã Sáu, trên đường Minh Mạng thuộc quận Năm Sài Gòn. Từ trường tôi có thể nhìn thấy trụ sở Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn trên đường Hồng Bàng nơi tôi thường đến hầu như hàng ngày từ năm 1969 đến năm 1975 trong công tác. Trường có hai dãy nhà hai tầng. Tôi được đưa vào nhà đầu tiên, vợ tôi cũng thế. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy quang cảnh trên đường phố bên ngoài. Vợ tôi vào phòng đầu tiên dành cho phụ nữ, nơi từng là lớp học của tôi mười hai năm trước. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là đời tôi đang diễn ra những sự trùng hợp kỳ lạ. Tôi đứng trên ban-công của trường nhìn về phía nhà thờ nơi tôi từng chơi đùa cùng bạn bè. Bạn tôi vẫn đang ở đấy, nhưng họ không phải là những người bạn học cũ của tôi. Một vài người lo lắng quay về nhà; một vài người khác vội vã băng qua đường để vào “trường” sau khi từ giã thân nhân.

Lớp học nơi tôi bước vào hoàn toàn trống rỗng. Mọi vật đã được dời đi nơi khác. Tôi trải chiếc chiếu cói lên sàn nhà nơi được đặt bục giảng của giáo sư trước kia. Chúng tôi chia nhau mỗi người một khoảng trống khoảng vừa một chiếc chiếu. Cái ba-lô biến thành gối nằm và nó đi theo cùng tôi đến lúc tôi trở về mười bảy năm sau. Trong ba-lô, tôi có 1 cái mùng nilon, một cái mền nilon nhà binh, hai quần Jean, hai áo sơ mi, cái bi-đông đựng nước uống, cái áo khoác, một pon-sô nhà binh, mười gói mì ăn liền, một gói cơm sấy, một gói thịt khô, và một gói đựng thuốc gồm Tylenol, Penicillin, thuốc tiêu chảy, Quinine, và một cuộn băng keo. Tôi chuẩn bị cho một cuộc sống trong rừng chứ không phải trong thành phố. Cái mà tôi quên là chiếc võng mà tôi nghĩ có lẽ sẽ rất cần thiết với tôi sau này. Lớp học gợi tôi nhớ đến những người bạn xưa, vài người đã chết trong cuộc chiến, vài người đang ở nơi nào đó bên ngoài kia, một vài người chắc đang ở trong hoàn cảnh giống như tôi bây giờ đây.

Tôi đi qua phòng vợ tôi. Mọi người trong phòng đã giúp vợ tôi có chổ nằm kế bên chị vợ tôi. Ngọc, Liễu, Ba, những người đàn bà làm chung với vợ tôi trước kia ở phòng tuyển mộ cố an ủi tôi bằng cách hứa sẽ chăm sóc vợ tôi khi cô ấy cần. Tôi rời vợ tôi sau một lúc và đi quanh tìm bạn bè.

Mọi người đang bàn tán về danh từ “cải tạo” của Cộng Sản, nhưng không ai dám nhìn nhận sự thật rằng cải tạo không gì khác hơn là trả thù. Danh từ “tẩy não” và quyển sách “Trại Đầm Đùm” được viết bởi một nhà văn ở miền Nam là những gì mà tôi được biết về sự cải tạo của Cộng Sản, nhưng sự thật về cái gọi là “Cải Tạo” vẫn còn là một điều bí mật đối với tôi. Chúng tôi đã được biết ít nhiều về việc cải tạo các “Cosack” ở Liên Sô sau khi Cộng Sản cầm quyền ở đây, các Cosack được đưa đi Siberia để cải tạo và chết ở đấy. Sau khi chiếm Trung Quốc, Cộng Sản đã đưa hàng trăm ngàn người Trung Hoa Quốc Gia đi Tân Cương để cải tạo và chết ở đó. Nhưng chúng tôi không biết gì về số phận các người Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh chiếm miền Bắc. Họ đã bị giết chết hay vẫn còn trong các trại tập trung ở miền Bắc Việt Nam? Những người Cộng Sản Việt Nam đối xử thế nào với kẻ thù của họ?

Tôi không nghĩ Cộng Sản Việt Nam sẽ làm một cuộc thảm sát giống như Hitler đã làm ở các lò sát sinh vì chúng không muốn làm mục tiêu cho công luận, nhưng giết lần mòn là điều mà họ có thể thực hiện mà không sợ ai phản đối. Đi vào trại, chúng tôi phải chấp nhận mọi điều xãy ra ngay cả điều xấu nhất, đó là cái chết.

“Tẩy Não” và “Cải Tạo” có lẽ là hai từ rất tương đương nhau! Cộng Sản “tẩy não” kẻ thù của họ như thế nào? Cải tạo tư tưởng là từ mà Cộng Sản dùng rất nhiều trong những ngày đầu “giải phóng”. Chúng bảo rằng nhân dân miền Nam đã từng sống một thời gian dài với Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Nam Việt Nam cần phải được cải tạo tư tưởng để thích hợp với xã hội mới: Xã Hội Xã Hội Chủ Nghĩa!

Nhưng cải tạo như thế nào vẫn là một điều khó hiểu. Mỗi nơi có một cách để cải tạo. Những thanh niên bị cắt quần ống loe, phụ nử không được mặc áo dài và không được trang điểm, cái gọi là “nhạc vàng” bị cấm triệt để, sách vở xuất bản ở miền Nam Việt Nam bị coi là “phản động và đồi trụy” và bị thiêu huỷ, dân chúng phải lao động và thu nhập tuỳ theo công sức mà họ đóng góp, vân vân và vân vân. Đó là những điều mà Cộng Sản gọi là cải tạo xã hội. Nhân viên của chế độ cũ phải được học tập những điều gọi là “tội ác” của Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền cùng chiến thắng của cách mạng và của Xã Hội Chủ Nghĩa. Đó là những điều mà Cộng Sản gọi là cải tạo tư tưởng để thích hợp vơi xã hội mới. Mặc dù chúng tôi không tin đơn giản như vậy, nhưng chúng tôi lại hy vọng mọi việc sẽ không đến nỗi quá tồi tệ. Điều đó cũng rất tự nhiên đối với một con người khi lâm vào cảnh khốn cùng thì luôn mong mỏi một điều gì đó khá hơn để mà tự an ủi mình. Chúng tôi không thể đi đâu được, không thể trốn tránh được, chúng tôi đành phải đặt số phận mình vào tay kẻ thù, đi vào trại cải tạo và chờ đợi mọi điều có thể xảy ra với chúng tôi.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Mặt Trận Đại Học-Bạch Diện Thư Sinh (Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo)

Hoàng Lan Chi

Điểm Sách “Mặt Trận Đại Học” của Bạch Diện Thư Sinh

Tôi thích sự tình cờ.

Một tình cờ, tôi gặp được “sư huynh” Anh Kiệt trên đường thiên lý net. Bài phỏng vấn chào đời sau đó đem nhiều thích thú cho bạn đọc. Đơn giản: vấn đề mới. Đó là “mặt trận đại học” nghĩa là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo của VNCH đã thiết lập Ban A 17 và Ban này đã thành công rực rỡ trong việc chống lại sự thâm nhập của cộng sản vào hàng ngũ sinh viên học sinh.

Sư huynh Lê Anh Kiệt nhờ bạn đem đến tặng tôi sách của Bạch Diện Thư Sinh. Nhìn cái tựa “Mặt Trận Đại Học Thời Việt nam Cộng Hòa”, tôi thấy hấp dẫn và mail cho sư huynh Kiệt “HLC sẽ đọc ngay.” Sau khi xem sơ tôi nhờ Kiệt nhắn cho tác giả vì tôi muốn được trò chuyện trước khi phỏng vấn. Mở ngoặc, đọc đến cuối sách của Bạch Diện Thư Sinh BDTS, tôi mới thấy có trích đoạn một phần của bài tôi phỏng vấn Lê Anh Kiệt.

Thì cũng coi như một tình cờ khác.

Chúng tôi, Bạch Diện Thư SinhHoàng Lan Chi trò chuyện hơn một giờ. Nhưng cuối cùng thì Bạch Diện Thư Sinh nói rằng, anh không muốn phỏng vấn. Những gì muốn nói, muốn kể, muốn chia sẻ, tất cả có trong sách. Anh nói, như Lê Anh Kiệt cũng từng nói trong bài trả lời Hoàng Lan Chi trước đây, mặt trận đại học là một mặt trận tình báo và họ, những người tham dự là những người “làm việc trong bóng tối và cũng sẽ chết trong bóng tối”. Họ, chỉ muốn chứng minh rằng, họ cũng đóng góp cho quốc gia. Họ, không trực tiếp cầm súng ngoài chiến trận nhưng họ chiến đấu trong mặt trận chìm. Cuộc chiến đó, đôi khi là cuộc chiến giữa đầu óc với đầu óc. Sinh mạng giới sinh viên cũng từng bị tước đoạt như Lê Khắc Sinh Nhật. Họ, sau khi vc cưỡng chiếm miền Nam, bị vc thù hằn, đày ải, có khi nặng hơn người quân nhân ngoài tiền tuyến. Do đó, BDTS xin tôi hãy chỉ giới thiệu sách mà thôi. Anh cũng thành thật cho biết, có lẽ do tính cách “mới” nên 400 cuốn vừa in, đã gần hết. Bạn bè cùng giới đã mua rất nhiều.

Cá nhân tôi chỉ đồng ý một phần với BDTS. Tất nhiên, tôi tôn trọng quyết định của anh nghĩa là tôi không phỏng vấn anh nữa. Nhưng tôi nghĩ rằng, với tôi, phỏng vấn người A không có nghĩa “show off” người A. Câu hỏi từ tôi, câu trả lời từ người A, sẽ quyết định là có “show off” hay không. Nếu ai chú ý theo dõi một số bài phỏng vấn của tôi sẽ thấy: tôi cố gắng đưa nhiều tài liệu đến độc giả. Tất nhiên tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trên câu trả lời của họ. Tôi không cho người kia tự “show off” nhiều mà chính là tôi giúp họ điều đó nếu xét ra những cái “show off” đó làm tăng thêm giá trị cho họ, cho cả bài phỏng vấn và có tính cách “điểm xuyết” cho bài phỏng vấn chứ không hề làm giảm. Sau nữa, tôi nghĩ rằng, lịch sử là do mọi con người đóng góp. Viết lịch sử cũng là do con người viết. Điều mà mỗi chúng ta có nghĩa vụ đóng góp vào giòng lịch sử không ngừng chảy của dân tộc là hãy làm chứng nhân cho thời đại mình sống, cho việc mình làm, cho những sự kiện mình chứng kiến. Người có trách nhiệm viết lịch sử sẽ đọc tất cả, từ những “tai voi”, “đuôi voi”, “ vòi voi” để phân tích, tổng hợp và cuối cùng những giòng lịch sử chân chính nhất sẽ hình thành. Do đó, tự viết, hay trả lời phỏng vấn: với tôi là NGHĨA VỤ chứ không phải “show off”.

Một nét nhỏ trong buổi trò chuyện giữa BDTS và Hoàng Lan Chi: tôi thẳng thắn bày tỏ, cách đây nhiều năm, tôi có xem một bài trên net của anh. Tôi hơi bị “bối rối”. Lý do: nội dung là của “người mình” nhưng sao hình thức lại là “của Vc” vì những chữ Y thành I? Bạch Diện Thư Sinh giải thích: Cách viết đó không phải là của vc hay quốc gia, mà là nỗ lực tiến tới thống nhất chính tả tiếng Việt trong môn ngữ học. Anh nói anh viết I và Y như thế từ trước 1975. Đó cũng là chủ trương của GS. Đoàn Xuân Kiên (Anh Quốc) trong bài khảo cứu nhan đề “Nói Thêm Về Chữ I Và Chữ Y Trong Chính Tả Tiếng Việt” đăng trên tạp chí Định Hướng (HK) số 32, Mùa Thu 2002. Thế nhưng chuyện đó tôi biết Bộ Giáo Dục VNCH chưa chấp thuận cho phổ biến trong trường học trước khi chúng ta mất nước. Tôi cũng góp ý kiến rằng, với tình thế hiện tại, thì hãy nên chấp nhận những cái cũ của VNCH xưa khi viết sách nói về mặt trận đại học. Như thế độc giả dễ chấp nhận hơn. Không nên ôm đồm. Muốn phổ biến việc Y/I, dành cho bài khác và chỉ áp dụng khi được đa số chấp thuận. Đa số, nghĩa là nếu một người viết sách cho người quốc gia hải ngoại đọc, thì theo quy tắc cũ của VNCH. Còn nếu người đó viết sách cho vc hay người trong nước bây giờ đọc, thì có thể theo quy tắc của VC. Cho dù Y/I không phải độc quyền của Vc nhưng đại đa số dân chúng VNCH không biết, chỉ thấy VC dùng, thì sự kiện họ “dị ứng” với người dùng I thay Y là lẽ đương nhiên. Ở bầu thì tròn, nên áp dụng để độc giả không có cảm giác khó chịu khi đọc sách mình. Đó là sự tôn trọng độc giả, người sẽ đọc sách mình, trong một giai đoạn nào đó của lịch sử. Cá nhân tôi nghĩ thế.

TỔNG QUÁT

Mặt Trận Đại Học, MTĐH, của Bạch Diện Thư Sinh, do Tủ Sách Hoàng Sa phát hành. Ấn bản lần đầu tháng 12/2014. Sách dày hơn 400 trang, giấy trắng đẹp. Bìa giản dị, ba mầu nâu, vàng, trắng. Một hình biểu tình bạo loạn của sinh viên. Bên trong, đầu tiên là một trang vinh danh những sinh viên ngã xuống tại đại học hay bỏ mình trong lao tù cộng sản. Trang kế là Lời Giới Thiệu của GS Đỗ Khánh Hoan, Trưởng Ban Anh Văn ĐH Văn Khoa Sài Gòn. Tiếp đó là Lời Mở Đầu. Nội dung gồm 22 bài. Nhiều hình ảnh đặc biệt.

NHẬN ĐỊNH

Tôi cho rằng “Mặt Trận Đại Học” của Bạch Diện Thư Sinh ( Trần Vinh) là một cuốn sách có giá trị. Xếp vào loại sách tài liệu thì “có giá trị” là thước đo.

I-Giá trị Hình Thức:

Ưu điểm của MTĐH là hình thức rõ ràng, khoa học. Là người xuất thân khoa học, cá nhân tôi ưa chuộng những gì được sắp xếp theo khoa học. Sự ngăn nắp là điều kiện tiên quyết để sách được độc giả hiểu nhanh chóng. Hầu như 22 bài đều chung một “format”: Các dữ kiện trình bày theo từng mục, đa số theo thời gian, dưới cùng là nhận định của BDTS và vài hình ảnh. Các nhận định này được viết ngắn gọn theo kiểu 1, 2, 3.

Ưu điểm thứ hai của MTĐH là văn chương ngắn gọn. Hầu như đây là một “sử liệu” nên sự kiện được trình bày bằng ngôn ngữ rõ ràng, khúc chiết, không cầu kỳ, bóng bẩy.

II- Giá Trị Nội Dung

1-Chọn đúng nhân vật:

Trong Lời Mở đầu, BDTS cho biết: chủ đề rộng lớn, cần sự bổ túc thêm của nhiều người, chỉ chú trọng tới sự chiến đấu với Thành Đoàn CS trong mặt trận đại học và không chú trọng các sinh hoạt khác của tuổi trẻ, chỉ bàn môi trường đại học không nói tới trung học, hình ảnh đôi khi không được rõ vì bầm dập theo thời gian. Từ những điều trên, MTĐH xác định rõ mục tiêu: tập trung về 3 nhân vật tiêu biểu: Trần Bạch Đằng ( người chỉ huy cao nhất trong Mặt Trận Đô Thị), Huỳnh Tấn Mẫm (sinh viên vc nhiệt tình nhất, nổi đình đám nhất và cuối cùng bị bỏ rơi), Nguyễn Đăng Trừng (cán bộ trung kiên, vừa khôn khéo thâu đạt địa vị, vừa thủ đoạn để giữ quyền hành). Cá nhân tôi cho rằng, sự chọn lọc này của Bạch Diện TS là đúng. Cách đây nhiều năm, khi còn sống ở VN, tôi có đọc vài tài liệu về Thành Đoàn và hiểu rõ người tài ba, thông minh trong mặt trận đô thị chính là Trần Bạch Đằng. Về Huỳnh Tấn Mẫm, mọi người miền Nam trước kia đều biết. Riêng Nguyễn Đăng Trừng, có thể không nổi đình đám như Huỳnh Tấn Mẫm nhưng với tư cách người trong cuộc, Bạch Diện Thư Sinh đã điểm trúng huyệt. Ba con người tiêu biểu cho cộng sản. Sự đào sâu, trình bày cặn kẽ về cuộc đời ba người này, qua nhiều giai đoạn, có một giá trị đặc biệt. Giá trị đó là giúp độc giả nói chung, giới thanh niên hải ngoại nói riêng, hiểu rõ hơn về Cs với những “người thật, việc thật, bằng cớ thật”.

2-Chọn lọc tài liệu:

Là người trong cuộc, đương nhiên những gì thuộc VNCH thì Bạch Diện Thư Sinh nắm vững, viết rõ. Theo lời anh tâm sự, anh còn phối kiểm từ hai nguồn: bạn bè cùng Ban A 17 và bạn cũ đại học. Ngoài ra, những gì của Thành đoàn CS cũng được trình bầy rất chi tiết. Những tài liệu này BDTS ghi chú ở dưới bài: anh có tham khảo nguồn sách xuất bản trong nước. Tôi xác nhận điều này. Và cũng xác nhận cả điều này: một số sách xuất bản trong khoảng 1975-1980 của vc có thể bây giờ đã tuyệt tích. Có nhiều lý do, sách không còn, hoặc vc không muốn phổ biến những tài liệu đó nữa kể từ 1994, khi vc quyết định “mở cửa” để cứu đảng. Ngay cả khi trích dẫn những ý kiến trên net của netters về một bài viết nào đó, Bạch Diện Thư Sinh cũng không trích những ý kiến không có giá trị. Ý tôi muốn nói, những ý kiến vu vơ, đầy cảm tính không được thâu thập mà chỉ những ý kiến viết đàng hoàng, có dẫn chứng điều mình viết.

3-Trích nguồn rõ ràng:

Tất cả tài liệu hay nhận định của tác giả trên một tài liệu nào đó, đều ghi rõ nguồn rất đầy đủ. Những nguồn này rất phong phú. Điều này cho thấy BDTS đã “ấp ủ” vấn đề này từ lâu. Do đó, mỗi khi nghe, đọc, xem, thấy lưu trữ được là lưu trữ ngay. Ví dụ, tôi rất thích thú khi đọc: Nguyễn Ngọc Lan từng viết “Chúa hôm nay vẫn ở ngoài đường” , “Chúa sắp vác chiếu ra tòa”, ..( Trang 177 trích dẫn báo Đứng Dậy ngày 15-4-1975 với những ngôn ngữ thiên tả rõ rệt của Nguyễn Ngọc Lan).

4-Bình tĩnh trong nhận định:

Khác với vài hồi ký của cựu quân nhân, BDTS không có thái độ hằn học hay tức giận khi nêu nhận định. Tôi rất thích những nhận định của tác giả về ba nhân vật đầu sỏ.

III-Những điều kỳ thú:

MTĐH cho tôi nhiều thích thú. Đơn giản là vì tài liệu phong phú về một lãnh vực mà ít người viết tới. Các trận đánh oai hùng, các chiến công hiển hách, các đày ải trong ngục tù cs: đã có rất nhiều. Nhưng mặt trận đại học với đầu sỏ Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đăng Trừng thì một số khuôn mặt có tiếng là trí thức của miền Nam đã được “vạch trần’: LM Nguyễn Ngọc Lan, LM Chân Tín, Lý Chánh Trung…Những vc nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Đào Hiếu, Hạ Đình Nguyên cũng được mô tả chi tiết. Nhóm “Hát cho đồng bào tôi” nghe, góp phần không nhỏ trong sự xáo trộn của đại học miền Nam đã đưa ra ánh sáng: Tôn Thất Lập, Trương Quốc Khánh, Miên Đức Thắng, Nguyễn Văn Sanh..Báo chí thiên tả cũng được điểm mặt: Tin sáng, Tia Sáng, Điện Tín, Đuốc Nhà Nam. Đám dân biểu, giáo chức góp phần phá hoại miền Nam gồm Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Ngọc Cứ, Kiều Mộng Thu…Đặc biệt, rất nhiều sinh viên nằm vùng được liệt kê đầy đủ.

Một thích thú khác là bài viết về vai trò của Dương Văn MinhNguyễn Cao Kỳ trong mặt trận đại học. Sự bao che cho Huỳnh Tấn Mẫm của hai người này: là một ô nhục cho cá nhân họ nói riêng và VNCH nói chung.

Hai bài đem cho tôi thích thú nhất nhưng cũng ngậm ngùi: Bài 13-Ban A 17 đối đầu với Thành Đoàn CS và bài 22-Sinh Hoạt Sinh Viên.

Bài 13, tổng cộng 14 trang. Nguyên nhân thành lập, hệ thống tổ chức, nhân sự nổi, những thuận và bất lợi…Câu viết này làm lòng tôi rưng rưng “Mọi binh chủng, mọi thanh tích được phổ biến công khai trước công luận. Riêng ngành an ninh, tình báo mang tính bí mật đặc thù, phải tuân thủ nguyên tắc bảo mật nghiêm ngặt. Ngày sập trời 30/4, nhiều tài liệu mật chưa kịp phá hủy. Trong lao tù nghiệt ngã, làm sao bảo tồn được mọi nguyên tắc, giữ mãi được mọi bí mật. Nhưng tôi chắc chắn rằng A 17 vẫn còn giữ được một số bí mật nhân sự và bí mật chiến thuật công tác. Vì lẽ đó, về ban A 17, chúng tôi tự chế, chỉ nói đến những gì mà bất cứ ai quan tâm cũng có thể biết được mà thôi. (trang 252).

Tôi rất thích câu này “ Ban A 17 ra quân trong tình thế không mấy thuận lợi. Phải đối phó với đối phương sừng sỏ, thái độ cam chịu của nhiều giáo sư, sinh viên. Song nhờ tất cả các cán bộ ban A 17 có trình độ học vấn thích hợp, cộng với sự hy sinh , tinh thần kỷ luật mà ban A 17 đã vượt mọi trở ngại khó khăn và thành công tốt đẹp. Thắng lợi của Mặt Trận Đại Học cho thấy CS không phải quá ghê gớm. Ban A 17 chẳng những có khả năng biết rõ đối phương, lại còn biết cách đánh thắng đối phương, nên đã thắng nhanh và triệt để.” Trong phần “Nhìn lại”, tác giả viết “Ban A 17 đã nhập trận, đã so găng bằng những đòn cân não gay go nhưng không kém phần gian nan, nguy hiểm và đã chiến thắng.”

Bài 22, Sinh Hoạt Sinh Viên (giới thiệu hoạt động của sinh viên). Tôi thích câu viết này “Mặt trận đại học là thứ mặt trận đặc thù, rất khó phân biệt giới tuyến, bởi vì đối thủ hoạt động dưới nhãn hiệu giáo sư, sinh viên, cộng với quy chế “Tự trị đại học”; đằng khác dư luận thường dành nhiều ưu ái cho lãnh vực trường ốc. Vì thế, ngoại trừ chính lực lượng Sinh viên Quốc Gia ra tay nhập trận thì không có bất cứ lực lượng nào thích hợp hơn để có thể đánh thắng cs trong Mặt trận Đại Học. Dùng Quân Đội là không thích hợp. Dùng Cảnh Sát cũng chỉ ngăn chặn đàng ngọn, vừa không thể bứng tận gốc vừa rất dễ bị dư luận lên án. Mặt trận Đại Học diễn ra ngay trong khuôn viên đại học, đôi bên so găng bằng những đòn cân não, nhưng vẫn có đổ máu, có hy sinh tính mạng như các chiến sĩ ngoài mặt trận.”

Sinh viên Luật Khoa,Văn Khoa đã đến Trường Sa vào ngày 10 tháng 5, 1974. Một bia nhỏ lưu niệm. “Quần Đảo Trường Sa-Lưu niệm hè 1974- Sinh viên Đại Học Sài Gòn” được trao tặng cho “chúa đảo”, Trung úy Đỗ Công Thành, Chỉ Huy Trưởng Tiểu Đoàn Mãnh Sư 371. Tôi đã ứa nước mắt khi đọc trang này. Cũng như tôi đã ứa nước mắt khi đọc trang mô tả sinh viên Ngô Vương Toại bị vc bắn ngày 20-12-1967 trong đêm nhạc của tên VC TCS và Khánh Ly, chuẩn bị cho màn bầu cử của ĐH Văn Khoa. Tôi vô cùng xúc động khi đọc bài mô tả sinh viên Nguyễn Văn Tấn (ký giả Cao Sơn sau này) đã xông vào cứu bạn. Trước đó, cũng chính Nguyễn Văn Tấn, một mình một ngựa, lận dao, xông vào đám du thủ đang đóng đinh vào đầu Sv Trần Lam Giang, dìu Lam Giang ra đường Cường Để dưới làn mưa đá của bọn sv thân cộng…” (trang 132)

KẾT

“Mặt Trận Đại HọcThời Việt nam Cộng Hòa” của Bạch Diện Thư Sinh (Trần Vinh), cựu giáo sư một số tư thục (vỏ bọc) tại Sài Gòn, tùng sự tại Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, là một tài liệu lịch sử hữu ích. Những linh mục, giáo sư, sinh viên thiên tả được lột trần. Sinh viên quốc gia, dù đang nặng nợ sách đèn, nhưng đứng trước tình thế thủ đô luôn hỗn loạn bởi những vụ xuống đường do bọn VC thâm nhập vào Tổng Hội hay Ban Đại Diện các Phân Khoa, đã nhập cuộc và thành công nhanh chóng.

Một mặt trận cân não giữa các sinh viên vc thuộc Thành Đoàn Cộng sản và sinh viên quốc gia, đóng góp vào mặt trận chung.

Hoàng Lan Chi thực hiện 12/2014

Phái đoàn sinh viên Luật Khoa tại đảo Song Tử Tây, Hè 1974. Ngồi giữa là “Chúa đảo”, Trung Úy Đỗ Công Thành và đại diện các chiến sĩ Tiểu Đoàn Mãnh Sư 371 trấn đóng Quần Đảo Trường Sa.

Đoàn sinh viên Khoa Học Sài Gòn đi thăm Trường Tiểu Học Song Phú, Quận Bình Minh, Tỉnh Vĩnh Long. Năm 1972, Trường Tiểu Học Song Phú đã bị Việt Cộng pháo kích bừa bãi, giết chết nhiều học sinh thơ dại.

Sinh viên Chủ tịch Nguyễn Hữu Tâm đang đọc diễn văn trong buổi Lễ ra mắt Ban Đại diện Sinh viên Văn khoa niên khóa 1973-74 tại Rạp Thống Nhất, Sài Gòn.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Thư gửi em ta- Tội nghiệp cho “người tội nghiệp thơ lục bát”

Em này, trời bây giờ là chớm đầu đông. Khi chớm đông người ta hay buồn vẩn vơ em ạ. Chị của em hôm nay thì không những buồn vẩn vơ mà lại cộng thêm cái buồn không vẩn vơ tí nào. Ấy là vì chị vừa được đọc một bài viết của một người. Họ tội nghiệp cho thơ lục bát em ạ. Còn chị đọc xong thì lại tội nghiệp cho cái người tội nghiệp thơ lục bát.

Em ngạc nhiên ư? Thôi để chị kể em nghe nhé. Em biết đấy, chuyện một bài thơ hay một bản nhạc bị chế lời là thường tình. Có người chế hay, có người chế không được hay lắm. Về nhạc, có lẽ Lam Phương bị “chế nhạc” nhiều nhất em còn nhớ không. Thơ thì Nguyễn Bính cùng số phận. Có lẽ vì bài thơ của Nguyễn Bính có cái gì đó dung dị dễ khiến người khác “trêu ghẹo”. Em có nhớ chị hay trêu vầy không: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, cách nhau cái dậu mồng tơi xanh lè” (nguyên bản là xanh dờn). Trong nhiều bài chế ở net, chị thích bài này nhất vì tếu vui vô cùng.

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái cọc để phơi áo quần
Hai người nhầm lẫn tứ tung
Nàng như cũng có cái quần giống tôi
Để rồi có một lần phơi
Thế nào tôi lấy nhầm ngay của nàng
…Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Thấy nàng hé cửa gọi sang thế này
"Ấy ơi ấy hãy vào đây,
Cho tui đổi lại cái này chút coi"
Lần đầu tiên thấy nàng cười
Nàng che một tấm vải dày ngang eo
"Cái quần duy nhất của em,
Hôm qua anh lấy về bên ấy rồi."

… viết tiếp đoạn cuối:


Tui nghe rồi tủm tỉm cười,
"Cô đưa tấm vải rồi tui trả quần."

Nàng sao chẳng thấy tần ngần,
Kéo phăng tấm vải lộ thân ngọc ngà.

Làm tui vừa chạy vừa la,

"Đâu phải con gái mà là con trai."
Nàng rượt theo gọi: "Anh hai,

Sao anh hổng chịu trả tui cái quần."

Bài thơ này chả có “chỉnh” lắm về quy luật thơ lục bát nhưng đọc lên cũng xuôi tai và vui vì cái nội dung của nó.

Em có thấy hầu như “nhạc chế” hay “thơ chế” thường là không đúng âm luật phải không? Xưa nay chả ai thắc mắc về chuyện ấy vì …vui thôi mà.

Thế nhưng em biết không, mới đây có là một ông nhà văn của Nam CA nổi hứng nói về thơ lục bát. Gọi là “nổi hứng” thì cũng không đúng lắm. Dường như ông bị túng đề tài hay sao ấy cho nên ông viết một bài có tựa vầy “Tội nghiệp cho thơ lục bát”. Trong này, ông giảng cho khắp bàn dân thiên hạ nghe về quy luật thơ lục bát. Cơ khổ, ông cứ làm như chỉ có mình ông là …con nhà giáo, người bác học, thông thạo luật thơ còn người khác ngu hết cả. Rồi thì ông phê phán, ông chỉ trích, ông dè bĩu rằng đấy là bài thơ lạc điệu của một người cựu học sinh của một ngôi trường danh tiếng.

Thấy nhóm chữ “ngôi trường danh tiếng”, chị giật thót cả người em ạ. Em biết đấy, chị luôn bảo vệ những gì tốt đẹp của Việt Nam Cộng Hòa mình ngày xưa. Ở xứ tạm dung này, còn gì để nói cho thế hệ sau biết về một quê hương cũ, một tổ quốc xưa nếu như không nói về những cái tốt đẹp của nó em nhỉ? Chị vẫn nói rằng bốn ngôi trường lớn, danh tiếng của Sài Gòn ngày nào thường là nơi xuất thân của nhiều tài năng. Tất nhiên các trường ở tỉnh cũng có nhưng tính về đa số thì vậy. Tương tự ở ngoại quốc cũng thế. Một số tài năng thường xuất thân từ những ngôi trường danh tiếng. Chị đi tìm hiểu thì em ạ, giời ôi, người cựu học sinh ấy là ..đồng môn của ông! Hơn thế nữa, nhỏ hơn ông thì phải, có nghĩa đấy là sư đệ của ông.

Đó chính là lý do mà chị của em hôm nay có nỗi buồn không vẩn vơ. Hỡi ôi, thời buổi đảo điên nên những cái luân thường đạo lý, những cái như chị ngã em nâng, những cái như một con ngựa đau cả tầu không ăn cỏ, những cái như tôn sư trọng đạo, nghĩa đệ huynh, tình bằng hữu dường như hơi lộn xộn rồi em ơi.

Có đâu một người sư huynh, nghĩa là cùng học dưới một mái trường lại đem lên mặt báo chế diễu một cậu em không phải vì cậu ấy vi phạm lằn ranh quốc cộng, cũng chẳng phải vì cậu ấy làm chuyện ô nhục gia môn, mà chỉ vì cậu ấy mua vui cho bạn bè tại các buổi tiệc tùng của hội ái hữu cựu học sinh bằng cách hát một bài từ một bài thơ chế từ thơ Nguyễn Bính.

Em ơi

Lễ nghĩa ngày nay thật là buồn

Sư huynh sư đệ cứ luồng tuông

Đem em ra diễu ngoài đường phố

Những chuyện cỏn con, thật đáng buồn!

Hoàng Lan Chi 1/2015

************************************

Nguoi Việt- Saturday, January 10, 2015 3:24:20 PM

Tội nghiệp lục bát

Bùi Bảo Trúc

Lục bát là thể thơ đặc biệt của người Việt Nam. Người Hoa không có lục bát. Ở Đông Nam Á, chỉ có Thái Lan có lục bát với cách gieo vần giống như lục bát của chúng ta.

Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu và nhiều tác giả khác trong văn học Việt Nam đã sử dụng lục bát trong các tác phẩm của họ. Người bình dân trong những câu hò, câu lý, trong ca dao cũng đã đến với lục bát. Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc cho rằng thơ lục bát dễ làm nhưng làm được một bài lục bát hay thì rất khó. Dở một chút thì lục bát thành vè ngay.

Nhưng có thật là lục bát dễ làm không?

Ở bậc trung học trước năm 1975, ngay ở năm đầu, tôi nhớ là học sinh lớp đệ thất cũng đã được dậy về luật thơ lục bát: Chữ cuối của câu sáu phải vần với chữ thứ sáu của câu tám; chữ cuối của câu tám phải vần với chữ cuối của câu sáu, và chữ thứ sáu của câu sáu phải vần với chữ thứ sáu của câu tám … và cứ như thế tiếp tục trong suốt 3,254 câu của truyện Kiều.

Cách hiệp vần lục bát như vừa nêu ra ở trên thoạt nghe thì có vẻ khó nhớ, nhưng chỉ cần lẩm nhẩm mấy câu đầu của truyện Kiều là nhớ ngay cách hiệp vần lục bát:

Trăm năm trong cõi người TA
Chữ tài chữ mệnh khéo LÀ ghét NHAU
Trải qua một cuộc bể DÂU
Những điều trông thấy mà ĐAU đớn lòng

Trong những câu trên, TA vần với LÀ; NHAU vần với DÂU, với ĐAU. Tuy dễ như vậy, nhưng hình như không phải người Việt Nam nào cũng biết cách hiệp vần của thơ lục bát. Mới đây, một cựu học sinh của một trường trung học danh tiếng ở Sài Gòn trước đây cũng đã lạc vận một cách tệ hại trong mấy câu gọi là lục bát của ông:

…Ấy ơi, ấy hãy vào ĐÂY
Cho em đổi lại cái QUẦN chút COI
Cái quần duy nhất của EM
Hôm qua anh lấy về BÊN ấy rồi

Hôm nay mưa đổ sụt SÙI
Tơ không hong nữa cái QUẦN không PHƠI
Bên hiên vẫn vắng bóng NÀNG
Rưng rưng tôi nghiện cái QUẦN của em

Trong 8 câu lục bát, chỉ có mấy chữ EM, QUÊN và NÀNG, QUẦN là tạm có thể coi là có vần với nhau mặc dù có hơi khiên cưỡng. Những câu khác thì đều lạc vận. ĐÂY không thể vần với QUẦN; COI không thể vần với EM; SÙI không thể vần với QUẦN; PHƠI không thể vần với NÀNG.

Thơ tự do thì không cần phải có vần. Nhưng nếu một câu sáu kế đó là một câu tám thì đó là lục bát và phải theo luật của lục bát và phải hiệp vần.

***Mấy câu đó được nghe thấy trong một cuộc họp mặt tất niên của các cựu học sinh mấy trường trung học ở Sài Gòn trước đây. ***

Nguyên đó là một bài thơ lục bát của Nguyễn Bính gồm 42 câu kể chuyện một cuộc tình bi thảm của một thanh niên với cô hàng xóm. Mối tình chưa có dịp thổ lộ thì người phụ nữ trẻ qua đời. Bài thơ này đã được ít nhất hai nhạc sĩ phổ thành nhạc. Và một trong hai bản nhạc cũng được sửa lời để hát diễu thành hai người lấy lộn quần của nhau vì cùng phơi trên một cái cọc giữa hai căn nhà. Nhưng rồi chính lời diễu của bài hát diễu đó cũng lại được sửa lại thành những câu lục bát lạc vận một cách thảm hại được hát lên trong buổi họp mặt vừa qua.

Tác giả của những lời ca được sửa lại lần nữa với những câu lục bát què quặt ấy, theo bài tường thuật trên báo, cho biết có giữ bản quyền. Việc đó không cần thiết vì lục bát mà như vậy thì sẽ không có ai chôm chỉa của ông đâu khiến ông phải quá lo xa.

Nếu tác giả chỉ đọc cho vợ con nghe trong bếp thì tôi sẽ không bao giờ có ý kiến. Nhưng vì nó được phổ biến ở một nơi công cộng nên người nghe được quyền có ý kiến và nhận xét.

Có ý kiến vì tôi sợ rằng sẽ có người nghe hay đọc thấy những câu ấy rồi tưởng thơ lục bát là như thế rồi cứ thế mà bắt chước làm thơ lục bát thì tội cho cụ Tiên Điền biết là chừng nào. Bỗng nhớ hai câu bi thảm của Nguyễn Du:

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Ba trăm năm nữa có dư/Biết còn ai khóc Tố Như Tiên Điền)

Thưa Tố Như tiên sinh, lục bát, thể thơ mà tiên sinh dùng để viết truyện Kiều đã bị thảm sát như vậy thì con số người khóc tiên sinh chắc chắn không phải là nhỏ.

Mà cũng tội nghiệp cho lục bát biết là chừng nào! Ấy là chưa nói tới câu cuối (rưng rưng tôi nghiện cái quần của em) là một câu tuyệt đại cực kỳ nham nhở và dơ dáy.

Nên cũng tội nghiệp luôn cả Nguyễn Bính nữa.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phan Ni Tấn-(Dứt tình tại bậu)- Hoàng Lan Chi (Nối tình là ở tui nè!)

Bắc kỳ chín nút Hoàng Lan Chi đọc bài thơ của Phan Ni Tấn, thấy vui quá nên giả bộ bắt chước viết theo chứ không phải thật à nha. J

Phan Ni Tấn là một thi sĩ có nhiều bài thơ thật dễ thương.

Hoàng Lan Chi

*****************************

Continue reading

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phương Hoa- Con Dao Xếp Trong Ngày Tết Tây

Tác giả: Phương Hoa
Bài số 4426-14-29826vb5010115

Bài viết là chuyện một tình yêu chung thuỷ cảm động trong ngày Tết Dương Lịch. Tác giả Phương Hoa, định cư tại Mỹ từ 1994 diện tị nạn chính trị theo chồng, vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ nhất của tiểu bang Calif. Với loạt bài viết về Vietnam Museum, “Viện Bảo Táng Của Những Người Lính Bị Bỏ Quên” tác giả đã nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2014.

* * *

Chiều cuối năm năm ấy…

Ngoài trời mưa bay lất phất. Như cuộc tẩy trần cho sạch sẽ những gì còn sót lại của năm qua, hầu đón chào một Tân Niên tinh khôi. Những người khách sau cùng đã chào chúng tôi, về nhà chuẩn bị tiệc "CountDown" năm mới. Tôi ra mở cửa sau để hưởng chút không khí lạnh dìu dịu từ bên ngoài. Bỗng một cô thợ gọi:

- Chị ơi! "Bà già gân" tới kìa! Chị đã chuẩn bị mẫu mới cho bà ấy chưa?

Cô không nói tôi cũng biết, Laura bà khách già người Đức đang tới, vì tiếng nổ ầm ầm quen thuộc từ chiếc truck GMC bự chảng của bà nghe như rung rinh cả tòa nhà. Khổ rồi. Tôi than thầm. Mỗi lần bà Laura tới là tôi phải tốn ít nhất hơn một giờ đồng hồ cho bà, thay vì nửa tiếng như những khách hàng khác. Đã vậy, bà không bao giờ làm hẹn, mà chỉ ghé lại bất cứ khi nào bà rảnh. Nếu tôi bận thì bà chạy đi, lát sau trở lại.

Tôi ra đón cái thùng dụng cụ trên tay bà Laura. Bà tự mang theo đồ nghề vì không muốn dùng đồ của shop, sợ lây bệnh. Bà vừa mừng sinh nhật thứ tám mươi tư, nhưng nhìn bà người ta tưởng chừng bảy chục. Da bà không trắng lắm. Người cao ráo gọn gàng. Ăn mặc phù hợp "tông-xuyệc-tông" từ quần áo đến nữ trang. Bà luôn trang điểm kỹ, mày cong vòng nguyệt, mắt xanh, má hồng, môi đỏ thắm. Và mái tóc nâu luôn được chải sấy kiểu cách. Bà khỏe nhiều so với độ tuổi vì nhờ biết ăn uống cẩn thận, và dù bận cỡ nào, bà cũng cố gắng đi Gym tập thể dục. Bà lái xe rất cừ khôi, mà toàn là xe tải hạng nặng.

Lần đầu tiên đến, bà chạy chiếc GMC to kềnh và đậu phát một vào chỗ trống giữa hai chiếc xe trước cửa. Cả tiệm chúng tôi phục lăn, trầm trồ bà dám lái chiếc truck to mà còn đậu đẹp nữa. Bà cười: -Đó chỉ là chiếc…xe đạp của tôi! Tôi còn lái xe tải chở hàng thật dài kìa! Sau này chúng tôi biết, bà có rất nhiều xe tải vì làm chủ một cơ sở lớn, chuyên bán dụng cụ bảo vệ sức khỏe (health therapy equipment) như giường rung, nệm nước, ghế xoa bóp, máy đấm lưng, mền điện, và nhiều dụng cụ khác. Bà luôn lái xe tải dẫn đường để các tài xế công nhân chở hàng chạy theo bà tham dự hội chợ "State Fair" khắp nơi trong tiểu bang, và giao hàng tận bên Nam Cali hoặc Lake Tahoe, Reno.

Chẳng những bà Laura mạnh mẽ, lái xe tải chạy ầm ầm, mà bà còn biết bắn súng. Khi ra ngoài, bà thường bỏ trong xe khẩu súng nhỏ để đề phòng cướp. Lần nọ bà ghé shop mặt còn vương nét hoảng sợ, nhưng lại cười rất thích thú. Bà nói vừa đến tòa án để lo một số giấy tờ. Trên đường đi, bà có chở dùm ông khách hàng một đoạn vì xe ông hư. Ông ta từng là bạn học bắn súng với bà, nên hai người lấy súng ra khoe với nhau. Không biết bằng cách nào ông nọ đã cầm nhầm súng của bà, và khẩu súng của ông ta thì lại chui vào nằm trong túi xách bà ấy.

Thế mà khi bà vào cửa, máy rà an ninh của tòa án không phát hiện khẩu súng mới lạ. Bà nói trong tiếng cười sảng khoái. -Vô trong ngồi, tôi mở xách lấy cây son môi thì thấy khẩu súng nên hết hồn vội vã đứng lên đi ra. Bà nói "hết hồn" nhưng mặt vẫn tỉnh bơ: -Nếu họ thấy khẩu súng thì tôi…tiêu tùng. Vì chẳng những phạm tội mang vũ khí vào nơi công quyền, mà tệ hơn nữa, khẩu súng đó không có giấy tờ vì nó là của người khác. Có lẽ mấy chiếc lượt, cái máy sấy tí hon, và số phấn son trong xách đã che chắn cho khẩu súng của bà. Quả là cái tính "xí xọn" lúc nào cũng mang theo đồ làm đẹp đã cứu bà thoát được một "kiếp nạn" ngồi tù rất hy hữu. Do đó mà chúng tôi gọi bà là "Bà Già Gân."

Bà Laura rất khó tính, nhưng lại tốt bụng và thương người. Một lần cận Tết Âm Lịch, bà đến gặp lúc tôi đang ngồi ghi cái list gửi tiền về Việt Nam. Tôi kêu bà chờ để tôi hoàn tất danh sách gửi tiền giúp mấy người già yếu bạn của mẹ tôi ở quê ngày xưa. Tôi tiện miệng kể, dù mẹ tôi không còn nhưng thuở sinh tiền bà rất thương những bạn già trước 1975 từng có ruộng đất cò bay thẳng cánh, sau này không đủ cơm ăn áo mặc, cho nên năm nào chúng tôi cũng gửi giúp chút đỉnh để họ ăn Tết. Tôi chỉ nói để bà khỏi giận vì phải chờ. Không ngờ nghe xong bà đứng dậy ra xe lấy vào một tờ trăm đưa cho tôi và nói bà cũng muốn giúp họ.

Người nhà bên Việt Nam nhận được tiền của tôi và của bà Laura, đem đổi cả ra tiền Việt, bỏ vào phong bì mang về làng cũ tặng những người già nghèo khổ ốm đau, và chụp hình gửi qua. Bà Laura rất xúc động khi nhìn hình ảnh những ông bà già hom hem áo quần rách rưới nhưng cười móm mém trong hạnh phúc khi cầm lấy bao thư. Từ đó về sau, đến Tết tôi chưa kịp nói bà đã hỏi chừng nào thì gửi tiền Tết cho mấy người già.

Dù là người gan dạ, nhưng có lẽ sống một mình bà Laura cũng rất cô đơn. Bà thường trao đổi tâm sự với tôi. Độc đáo và ly kỳ nhất là câu chuyện vượt thoát kinh hoàng khỏi nước Đức của bà. Nghe chuyện, tôi mới biết bà là một trong những nhân chứng sống từ thời Đệ Nhị Thế Chiến còn lại đến bây giờ. Chuyến đi của bà cũng thật dễ sợ, hiểm nguy không kém những chuyến vượt biên của người Việt tị nạn. Sự giết người man rợ của lính Đức Quốc Xã thời Hitler làm cho chính người dân của họ cũng phải bỏ chạy.

Năm 1944, thời điểm quân Hitler sắp thua, Laura mới hơn 15 tuổi. Bà được cha dắt trốn đi tị nạn. Nhưng giữa đường hai cha con bị bọn lính Đức Quốc Xã bắt lại. Để bảo vệ cô con gái nhỏ, người cha dặn dò bà cách tìm đường đến trại tị nạn rồi ông bỏ chạy qua hướng khác để cho bọn lính rượt theo. Họ bắt ông lại và bắn chết trước mắt cô con gái đang run rẩy núp trong bụi rậm gần đó. Nhìn cha bị giết, bà quá kinh hãi nên đã ngất xỉu.

Laura tỉnh lại thì bọn lính bỏ đi hết. Nhớ lời cha dặn, bà đành bỏ mặc xác cha nằm trong đống xác người, lần mò đi tiếp. Trong sợ hãi và đói khát, nhiều lần bà phải rúc vào nằm chung với các xác chết bên đường, lấy máu của họ bôi vào mặt giả chết, chờ bọn lính của Hitler qua khỏi mới đứng dậy đi tiếp. Lê lết đến mười mấy ngày, thường xuyên liếm những giọt sương bên đường cho đỡ khát và nhai cả cỏ để đỡ đói. Laura theo một nhóm người vượt qua biên giới, tới được cổng trại tị nạn thì ngã vật ra vì kiệt sức.

Cuối cùng, cô bé mồ côi được nhận đến tị nạn ở San Francisco, Hoa Kỳ. Laura kể, bà tồn tại được cũng nhờ vào lời căn dặn sau cùng của cha trước khi ông lao mình chạy đi:

- Con hãy nhớ đừng bao giờ bỏ cuộc! Nếu ngã xuống thì hãy đứng lên và đi tiếp!

Bà nói lời căn dặn đó đã theo bà suốt đời. Bà chưa bao giờ biết bỏ cuộc dù trong việc làm ăn hay bất cứ việc gì, cho nên sự nghiệp ngày hôm nay của bà cũng nhờ đó mà có. Hồi mới đến Mỹ, bà vừa học vừa làm ở McDonald cho đến khi lấy được bằng High School rồi lấy chồng.

Chồng bà Laura, Steve, là người Mỹ, cấp bậc trung úy quân đội Hoa Kỳ. Ông mất tích trong cuộc chiến Nam Bắc Triều Tiên, để lại cho bà hai người con, một trai một gái. Dù khi ấy mới hai mươi hai tuổi, bà vẫn ở vậy một mình nuôi con chờ tin tức chồng. Người con gái lớn của bà hiện là một bác sĩ Tâm Lý, người con trai là thạc sĩ Khoa Học và bà có năm đứa cháu nội ngoại.

Dù chồng mất tích hơn năm chục năm, bà Laura vẫn đợi, vẫn nghĩ Bắc Hàn còn giam giữ ông. Mỗi khi có ai hỏi cuộc chiến Triều Tiên qua lâu rồi, sao bà vẫn nghĩ chồng bà còn sống, bà trả lời, "Không có tin nghĩa là tin tốt (No news is good news), chưa có tin ông ấy tử trận thì tôi còn hy vọng. Biết đâu bọn Bắc Hàn điên khùng còn giữ ông ấy chờ dịp đòi điều kiện với Hoa Kỳ thì sao?"

Tuy bà Laura đến shop gần chục năm, quen biết hết mọi người, nhưng chẳng ai dám "lãnh" bà khách này, trừ tôi, vì bà rất khó tính trong việc làm móng. Móng tay móng chân của bà đều giả và rất dài. Mùa nào kiểu nấy, từ ngày bà đến tiệm, tôi phải tự "design" cho bộ móng tay và cả mười móng chân cho bà. Những mẫu bà đòi nhiều khi thật lạ kỳ, khó vẽ. Lúc thì chiếc lá shamrock màu xanh trong ngày Thánh Patrick, khi thì con thỏ trong lễ Phục Sinh. Có lần bà mang đến một chiếc móng ngựa thật, là một cục sắt nặng chình chịch, rồi kêu tôi vẽ design y như vậy cho bà. Dù cái mẫu móng ngựa nom kỳ cục, tức cười, bà nói mang nó sẽ đem lại may mắn. Phiền nhất, mặc kệ tôi bận cỡ nào bà cũng không tha, mà bắt tôi phải vẽ trực tiếp bằng sơn chứ không chịu dán mẫu "sticker" có sẵn. -Tôi muốn độc quyền mẫu của tôi, không muốn giống kiểu với ai hết! Bà nói.

Ngoài những mẫu "quái dị" trong dịp đặc biệt của riêng bà, các ngày lễ lớn trong năm bà Laura thích design theo biểu tượng. Giáng Sinh vẽ cây thông, Tạ Ơn thì gà tây, lễ Ma trái bí đỏ… Nhưng thật lạ, ngày Tết Tây bà không cho tôi vẽ ly rượu hay chữ "Happy New Year" như mọi người. Bà bắt tôi phải vẽ hình con dao xếp trên móng tay và móng chân, kể cả những móng chân út nhỏ xíu. Việc ấy quả là một cực hình cho tôi. Phần thì khách hẹn đang chờ, phần vì phải nín thở vẽ để khỏi bị lem mất công chùi đi vẽ lại, nên tôi rất căng thẳng. Lúc nào vẽ cho bà, trong bụng tôi cũng kêu khổ và rủa thầm "bà già chằng ăn!" Một điều làm tôi khổ sở hơn, là mỗi Tết Tây bà Laura bắt tôi phải vẽ những con dao xếp kiểu mẫu khác nhau, không được trùng lập với các mẫu design năm trước.

Chúng tôi có tò mò "tra gạn" để tìm hiểu tại sao bà thích vẽ con dao xếp. Nhưng bà không nói. Riết rồi chúng tôi không hỏi nữa vì biết đó là điều riêng tư của bà.

Năm nay tôi đã chuẩn bị từ sớm một mẫu vẽ rất mới cho bà Laura. Hình con dao xếp nhỏ xíu, bầu dục, chính giữa hơi eo lại nhìn rất uyển chuyển, theo một mẫu tôi tìm thấy trên online. Vỏ con dao màu huyết dụ, lóng lánh kim tuyến vàng, trên có viết tên "Laura" màu trắng. Một đầu mở ra lưỡi dao bé tí, cây dũa răng cưa bên phải, và một cái đinh xoắn khui rượu mở ra bên trái. Mới thoạt nhìn, nó giống như con rùa tí hon màu đỏ với cái đầu và hai chân trước óng ánh bạc.

- Wow! Đẹp quá! Bà Laura trầm trồ, lộ vẻ xúc động khi tôi vẽ xong con dao đầu tiên trên móng tay cái của bà. Đây là mẫu đẹp nhất từ trước tới giờ đấy. Nhìn giống như thật!

Trước khi ra về, bà bỗng nhìn tôi: – Này! Ngày mai là New Year, cô có rảnh không? Nếu rảnh trưa mai đến nhà tôi chơi, tôi sẽ cho cô xem một thứ, bảo đảm là cô sẽ thích!

Đây quả là một lời mời bất ngờ. Tôi rất thân với bà Laura, từng nhiều lần mời bà đến nhà tôi dự tiệc, năm mới, đám giỗ, và cả đám cưới các con tôi. Nhưng bà chưa một lần mời tôi đến nhà riêng ở thành phố lân cận. Bà chỉ mời tôi đến cơ sở kinh doanh của bà, vì nó nằm cùng con đường với tiệm của tôi. Tôi thích thú nhận lời ngay không chút do dự.

Ngày Tết Tây shop đóng cửa, tôi lái xe một mình đến nhà bà Laura. Ngôi nhà hai tầng nằm bên trong hàng rào cây xanh kín mít dọc con đường lớn ở vùng ngoại ô thành phố, nhưng cửa chính thì quay vào mặt đường nhỏ phía trong. Một ngôi nhà kiểu cổ (Victorian house) rất đẹp. Nhà lớn, nhưng nó như lọt thỏm vào giữa khu vườn rộng thênh thang rậm rạp cây cối. Chào đón khách ngay cổng là một chiếc xe RV (Recreational Vehicle) thật to, cửa đang mở.

Tôi vừa ngừng xe, bà Laura từ trong chiếc RV bước ra chào đón. Bà nói đang dọn dẹp và trang bị các thứ trong xe để đến chiều các con cháu bà về sẽ cùng bọn họ đi chơi xa một chuyến nhân dịp nghỉ lễ.

Vừa đi vào nhà với bà Laura, tôi vừa hỏi bà có sợ khi ở một mình nơi vắng vẻ thế này. Bà cười, tuyên bố một câu "xanh dờn":

- Tôi bật Alam trước khi lên lầu ngủ. Đứa nào lạng quạng mò vô, hệ thống báo động réo, tôi sẽ bắn chết chúng!

Chỉ tôi ngồi ở sofa trong phòng khách, bà Laura nói chờ một chút, rồi đi ra phía sau. Gian phòng thật ấm áp với ánh lửa bập bùng trong lò sưởi. Tôi nhìn quanh, thầm khen bà chủ nhà có con mắt thẩm mỹ, đã sưu tập những bộ ly tách, bình hoa, các bộ đồ trà kiểu Á Châu rất độc đáo chưng trong tủ kính.

- Qua đây Linda! Tiếng bà gọi từ phòng ăn. Tôi bước lại và suýt chút nữa không nhận ra đó là bà. Trước mặt tôi là bà Laura kiều diễm trong chiếc áo đầm trắng dài lướt thướt kiểu cô dâu. Mái tóc nâu của bà được bới lên cẩn thận. Đầu đội lệch chiếc mũ trắng có vành, đóa hoa trắng lớn với hai dây tua lấp lánh kim tuyến nằm bên phải, rũ dài theo gương mặt sáng ngời trang điểm của bà.

- Wow! Bà đẹp quá! Tôi buột miệng trầm trồ. Trông giống một cô dâu!

- Thì hôm nay tôi là cô dâu mà! Bà cười nói. Mồng một Tết năm nào tôi cũng kỷ niệm ngày cưới của tôi. Rồi bà lẩm bẩm: -Năm mươi mấy năm rồi…

Tôi đứng sững sờ. Không ngờ một người có cá tính mạnh mẽ như bà Laura lại là người dạt dào tình cảm. Vậy mà trước giờ tôi cứ nghĩ bà cứng rắn như đàn ông.

Mời tôi ngồi vào ghế xong bà lại ngồi phía đối diện. Trên chiếc bàn ăn dài bằng gỗ nâu bóng loáng, mấy món ăn đơn giản được bày sẵn. Một ổ bánh CornBread, đĩa bắp cải muối chua, khay xà lách trộn pho mát bào và các loại hạt, tô thịt bò hầm đậu, và một khúc thịt xông khói. Bà lúc nào cũng chọn món ăn tốt cho sức khỏe, tôi thầm khen.

Nhìn về phía đầu bàn, tôi ngạc nhiên thấy một khung ảnh lớn lộng tấm hình trắng đen. Bên cạnh là một lá cờ Mỹ được gấp gọn gàng, và một chiếc hộp nhỏ màu đen hình chữ nhật đặt bên trên lá cờ.

Đó là hình một cái đám cưới nhà binh. Chú rể cao lớn đẹp trai, oai nghi trong bộ quân phục sĩ quan, khoác tay cô dâu đang cầm bó hoa trắng, áo đầm trắng dài kiểu xưa không chấm đất, eo thật nhỏ bên dưới xòe bung, đầu đội lệch chiếc mũ trắng có hoa, giống hệt trang phục bà Laura hiện giờ. Một điều rất kỳ lạ, là cặp đôi này bước đi giữa hai hàng lính. Đối mặt với nhau, quân phục chỉnh tề, đứng nghiêm thẳng tắp, trên tay mỗi người lính đều cầm một thanh kiếm dài sáng choang. Hai hàng quân cùng đưa cao kiếm lên khỏi đầu, bên này đâu chéo kiếm lại với bên kia tạo thành một mái che cho cô dâu chú rể bước đi bên dưới.

- Ô! Đây là đám cưới của bà ngày xưa hả? Tôi hỏi. Cô dâu chú rể trông oai quá!

- Ừ, đám cưới của tôi đấy. Cô nhìn kỹ tấm hình đi, xem có thấy gì lạ không?

Tôi quan sát thật kỹ tấm hình, nhưng không thấy gì ngoài cặp tân lang tân giai nhân đang đi dưới "rừng gươm" giữa hai hàng lính và một cây kiếm ai bỏ nằm dưới đất sau lưng họ.

Tôi nói cho bà biết.

- Đúng rồi! Cô đã thấy nó! Bà Laura gật đầu nói tiếp: Đó là cây kiếm của một trong những người lính của Steve chồng tôi. Anh ta là lính mới, và không biết vì run hay vì lạnh mà khi chúng tôi vừa bước qua khỏi anh ta là thanh kiếm vụt rời khỏi tay anh ta bay cái vèo xuống đất. Sém chút nữa là chúng tôi đã bị chém trúng rồi!

- Trời! Tôi kêu lên, người nổi đầy gai ốc. Thật là một điềm rất xấu cho đám cưới.

Bà Laura kể, có lẽ vì điềm xấu đó đã báo hiệu trong ngày cưới, mà chưa đầy hai năm sau, khi bà vừa có thai đứa con thứ nhì, thì chồng bà bị mất tích ở Đại Hàn. -Anh lính đó đã ân hận và khóc đến mù mắt khi Steve bị mất tích, vì cho là lỗi tại anh ta mang điềm xui tới cho chúng tôi trong ngày cưới. Bà thẫn thờ nói.

- Đó có phải là thời kỳ chiến tranh Nam Bắc Triều Tiên? Tôi hỏi.

- Đúng rồi! Steve mất tích trong trận Hồ Nước Chosin (Battle of Chosin Reservoir) ở Triều Tiên, tháng Mười Hai năm 1950. Anh ấy thuộc Sư đoàn 7 Bộ Binh Hoa Kỳ. Là cấp chỉ huy, khi trung đội anh bị vây hãm nhiều ngày và có lệnh rút lui, Steve đã cho binh sĩ rút trước. Anh tình nguyện một mình ở lại ngăn chặn địch quân.

- Vậy sao? Trận Hồ Nước Chosin?

Gì chứ trận Hồ Nước Chosin nổi tiếng trong chiến tranh Triều Tiên thì cả thế giới đều biết. Nhiều tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Hàn đã thua đậm các lực lượng của Nam Hàn và Liên Hiệp Quốc đuổiđến tận vùng biên giới Đông Bắc của Bắc Hàn, nhưng nhờ đại quân Trung Quốc tràn sang trợ giúp nên mới cầm cự được. Đầu tháng 12, 1950, trong trận Hồ Nước Chosin -the Changjin Lake Campaigne- 30,000 quân Nam Hàn và quân Liên Hiệp Quốc, trong đó có Sư đoàn 7 Bộ Binh và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Ky, đã bị 67,000 quân Trung Quốc vây hãm nặng nề. Sau 17 ngày chiến trận với số thương vong lớn cho cả hai phía, quân Mỹ vẫn phá được vòng vây để rút lui. Đây là trận đánh đưa tới kết cục là quân Liên Hiệp Quốc cho thoả hiệp ngưng chiến, và Hàn Quốc bị chia đôi.

Bà Laura bắt đầu kể về trận đánh cuối cùng của ông chồng, trong khi tôi ngồi im, mắt nhìn chăm chăm vào hình Steve vị chỉ huy anh hùng với lòng ngưỡng mộ. Người ta nói lại với bà Laura, khi Steve lệnh cho quân sĩ của anh chạy đi, không ai chịu bỏ đi vì họ rất thương quý cấp chỉ huy của họ. Mọi người đều nói anh không đi thì họ cũng liều chết ở lại chiến đấu đến cùng. Nhưng Steve buộc tất cả phải rút, và nói cùng lắm anh sẽ tình nguyện chịu bị bắt rồi sau trao đổi tù binh chứ anh không để mất mạng đâu. Nghe vậy mọi người mới rút đi.

Bà Laura dừng lại, vói tay cầm lấy chiếc hộp màu đen bên trên lá cờ, vừa mở hộp ra vừa nói tiếp với giọng trầm khác thường:

- Sau khi quân đội bình định, họ trở lại chỗ bụi cây, nơi Steve đã nằm bắn chận cho quân sĩ rút, thì không tìm thấy anh đâu cả. Họ lục lạo cùng khắp nhưng chỉ tìm được cái này. Bà đưa chiếc hộp cho tôi.

Tôi đón lấy chiếc hộp đen mở náp nhìn vào. Và bỗng lặng người há hốc. Tôi nín thở, muốn kêu “Trời ơi!” Nhưng không phát ra lời.

Trong hộp là một con dao xếp vỏ màu đỏ đậm, lóng lánh kim tuyến vàng, trên có khắc tên "Laura" màu trắng. Lưỡi dao trên đầu đã được mở ra, cây dũa răng cưa cũng mở ra bên phải, và một cái đinh xoắn mở ra bên trái. Nó giống hệt con dao xếp tôi đã vẽ trên móng tay bà Laura năm này. Thảo nào bà đã xúc động khi tôi vẽ xong con dao và nẩy ra ý định mời tôi đến nhà để cho tôi xem con dao thật. Tôi cầm con dao lên ngắm nghía với tâm trạng bồi hồi, xúc động, lẫn ngưỡng mộ.

Quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy thú vị và cảm động. Tôi chỉ vẽ theo mẫu hình con dao xếp tôi tìm thấy trên Google. Không ngờ nó lại giống y chang con dao mà mấy chục năm về trước vị sĩ quan kiêu dũng của dân tộc Hoa Kỳ đã bỏ lại cho vợ anh. Steve người chỉ huy ấy đã can đảm hy sinh để cứu binh sĩ của mình. Vợ anh Laura mất đi người chồng, con anh mất cha, nhưng anh đã được tổ quốc ghi công lưu danh thiên sử.

- Đây là con dao tôi tặng Steve trong lần cuối cùng chúng tôi ở với nhau. Bà Laura chợt lên tiếng sau một lúc yên lặng. -Anh ấy đã lén bỏ nó lại như là lời nhắn nhủ trước khi bị bắt đi. Người ta đem nó đến cho tôi lúc báo tin anh mất tích. Con dao bảo tôi là anh ấy còn sống.

- Từ đó đến giờ bà có nghe tin tức gì của ông ấy không? Tôi hỏi khi đã qua cơn xúc động.

- Không. Tôi luôn luôn hy vọng và chờ đợi. Nhưng mà…Bà dừng lại, chỉ vào lá cờ gấp để trên bàn: – Trước lễ Memorial Day năm nay, tổng thống Goerge W. Bush đã duyệt lại danh sách những quân nhân mất tích trong cuộc chiến Triều Tiên. Và ông ấy sai người đem đến lá cờ Mỹ này trao cho tôi cùng với lời tuyên bố là Steve đã chết. Tổng thống Bush cũng mời tôi đi Washington một chuyến để dự buổi lễ tuyên dương. Bà dừng lại một lát rồi nói giọng quả quyết: – Nhưng tôi vẫn không tin Steve đã chết!

- Điều gì làm cho bà nghĩ vậy? Tôi hỏi.

- Bỡi vì chính phủ cũng chưa có thông tin gì về cái chết của Steve. Khi tôi hỏi nếu anh ấy đã chết thì bằng chứng đâu, hài cốt đâu, họ không có được câu trả lời. Tôi biết là vì thời gian quá lâu nên họ đoán vậy thôi. Hiện tại còn nhiều nghìn quân nhân Mỹ, MIA (Mising In Action) mất tích trong cuộc chiến Triều Tiên chưa có tin tức, nên tôi vẫn còn hy vọng.

Tôi đứng lên, bước lại ôm lấy vai người vợ lính tám mươi bốn tuổi, xúc động đến nghẹn lời. Sự thủy chung của người phụ nữ phương Tây đã quá bát tuần này cũng đâu thua kém người thiếu phụ trong "Hòn Vọng Phu" của Việt Nam tôi ngày trước.

- Laura, bà nói rất đúng! Tôi cũng nghĩ như thế! Tôi thì thầm bên tai bà. -Cho nên bà cần phải giữ niềm hy vọng ấy.

Người vợ của vị sĩ quan anh hùng đưa tay lên vỗ vỗ vào bàn tay tôi như muốn nói lời cám ơn. Dưới ánh sáng của chùm đèn hoa thủy tinh kiểu cách treo trên trần nhà tỏa xuống bàn ăn, những con dao xếp trên bộ móng tay bà Laura lấp lánh lung linh như những đôi cánh Thiên Thần, đang dang ra che chở cho niềm tin và hy vọng của bà.

Tôi đứng im bên bà một lúc. Trong cái tĩnh lặng của buổi trưa ngày đầu năm, tiếng củi cháy tí tách từ lò sưởi vọng sang cộng với tiếng gõ tích tắc của chiếc đồng hồ cổ trên tường, bình yên như một khúc hòa tấu êm đềm, sao tôi lại cảm thấy lòng mình sóng dậy..

Lát sau bà Laura mời tôi cùng bà dùng bữa. Bà nói năm nào vào ngày Tết Tây bà và các con cháu cũng đều làm tiệc kỷ niệm ngày cưới của bà rất linh đình thay cho tiệc Tết. Bữa trưa nho nhỏ này bà chuẩn bị chỉ để đãi tôi, tiệc dinner vào tối nay mới là tiệc chính. Sau đó thì cả nhà sẽ đi chơi xa.

Khi tôi từ giã, Laura tiễn tôi ra xe. Trời đã quá trưa nhưng vẫn hiu hiu lạnh. Chúng tôi sóng bước trong hương gió đầu năm. Hương gió thoang thoảng nhẹ nhàng, quyện cùng mùi gỗ đốt từ lò sưởi trong nhà đưa vào không khí một mùi hương đặc thù mùa lạnh

- Lái xe cẩn thận! Bà nói và vẩy tay chào khi tôi ngồi vào xe.

Tôi hạ kính xuống vẫy lại bà. Xe ra khỏi cổng tôi vẫn còn thấy bà Laura đứng nhìn theo. Vạt áo đầm trắng của cô dâu năm xưa, sau cả nửa thế kỷ, vẫn bay bay trong cơn gió đầu năm. Hình ảnh bà Laura vẫn liêu xiêu, bà trông thật cô độc bên ngôi nhà to lớn và khu vườn rậm rạp thênh thang. Nhưng tôi biết, bà không cảm thấy cô độc tí nào. Bà đang sống với một niềm hy vọng vô biên. Niềm hy vọng có ngày được biết tin về Steve, chủ nhân của con dao xếp đỏ gửi lại trên chiến trường trận Chosin, Korea.

Chúc bà may mắn. Tôi nói thầm và nhấn ga.

Tết Dương Lịch 2015

Phương Hoa

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Đầu năm đi lễ chùa, ghẹo tượng

Cuối năm, gửi Lan Chi ngày tháng cũ với những hình ảnh nhu mì của Đồi Cù, Thung Lũng Tình Yêu, Đền Ngọc Sơn, Tháp Rùa, thì hôm qua, đầu năm đi lễ chùa nhưng ghẹo …tượng. (cười). May mà là đầu năm tây. Đầu năm ta thì “hỏng dám đâu”.

CA có chùa Đài Loan là lớn nhất. Có lẽ đây là lần thứ tư tôi ghé thì phải. Buổi trưa chủ nhật có buffet chay khá ngon.

Năm 2010, khi qua Canada, đi chùa Đại Tùng Lâm, Hoàng Lan Chi cũng đã ghẹo tượng rồi. Ngó mấy tượng với những tư thế như thế, cái máu nghịch nổi lên và Hoàng Lan Chi đã ghẹo. Năm nay, 2014 cũng vậy. Rải rác trong và ngoài chùa có mấy tượng nhỏ và cứ thế là HLC nhái theo tư thế của các ngài. Coi photoshow, HLC ghẹo tượng ở chùa Canada năm 2010 ở link sau: Thăm Đại Tùng Lâm ở Canada

Continue reading

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Hoàng Lan Chi sẽ xông vào “Mặt Trận Đại Học” nhé!

Cách đây không lâu, sư huynh Lê Anh Kiệt nhờ bạn đem cuốn sách “Mặt Trận Đại Học” của Bạch Diện Thư Sinh (Trần Vinh) tặng tôi. Nhìn thấy cái tựa là tôi bị hấp dẫn rồi. Thế là chưa đầy tuần, tôi đọc ngay. Khi viết điểm sách xong, Bạch Diện Thư Sinh cười khì “In 400 cuốn mà bạn bè bán gần hết rồi, còn đâu mà cho độc giả địa chỉ liên lạc?”. Ngon dữ vậy đó. Tôi ngẫm nghĩ, điệu này thì chắc mình phải viết một cuốn, ví dụ, Mặt Trận …mẹ chồng thời @, chắc cũng hút khách lắm đó. (cười).

Continue reading

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Thư cuối năm cho một người còn ở lại

Tặng Nga

CA đang gió lộng. Trong căn phòng nhỏ, em lắng nghe tiếng gió gào. Gió Santa Ana nổi tiếng. Đó là lý do, em, khi ở Virginia thì có Rừng Gió Virgina thì về đây em vẫn có Rừng Gió CA.

Trong cái năm cùng tháng tận này, lòng em ngổn ngang trăm mối. Hoài niệm ngày tháng cũ. Nhớ thương người đã ra đi. Ngậm ngùi cho tình xa. Thương cảm cho tình gần.

Những lúc này thì âm nhạc sẽ ru em đằm thắm lại để tâm hồn không vò xé từng cơn. Anh biết không, Nga nói với em vầy khi nghe một số bản nhạc của anh mà em gửi ra tuần trước “Nếu so sánh thì em cho rằng Nguyễn Văn Đông tài ba hơn Phạm Duy. Lý do, PD chỉ sáng tác được một loại nhạc mà chúng ta quen gọi là nhạc sang. Trong khi đó, Nguyễn Văn Đông vẫn có thể viết nhạc sang như Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Về Mái Nhà Xưa và đồng thời viết được cả hai loại nhạc khác. Nhạc trung gian giữa nhạc sang và sến chính là bài “Xin đừng trách anh” do Hùng Cường hát mà chị gửi ra hôm nọ. Hồi đó nghe bài ấy em cứ tưởng là nhạc của Nhật Trường. Loại nhạc thứ ba mà Nguyễn Văn Đông viết được là loại nhạc mà chúng ta gọi là sến. Ngoài ra, Nguyễn Văn Đông còn một bản nhạc có thể soạn giao hưởng. Em thích nhạc cổ điển nên em biết bài đó soạn giao hưởng rất hay”.

Continue reading

Posted in Tạp Ghi | Comments Off