Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off on Thư Ngỏ

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off on Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Link các bài của Gs Phạm Thị Nhung

§ Phạm Thị Nhung-Trầu Cau Trong Đời Sống Văn Hóa Dân Tộc

§ Phạm Thị Nhung-Chinh-Phụ Ngâm Vấn Đề Chiến Tranh Và Ý Thác Ngụ Của Tác Giả

§ Phạm Thị Nhung-Dẫn Vào Thế Giới Ca Dao

§ Phạm Thị Nhung-Những Hình Thức Nghệ Thuật Trong Ca Dao

§ Phạm Thị Nhung-Phụ Nữ Việt Nam Và Vấn Đề Giáo Dục

§ Phạm Thị Nhung-Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Link các bài của Gs Phạm Thị Nhung

Không phải mùa Thu mà sao em vàng lá- Nov 21, 2021

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

Không Phải Mùa Thu Mà Sao Em Vàng Lá

Hôm nọ ra vườn thấy cây cối lá đổi vàng, "Bà Tổng" HLC ứng khẩu:

Không phải mùa Thu mà sao em vàng lá

Để lòng ta cũng héo úa theo em

Và còn mấy câu nữa nhưng quên mất tiêu rồi.

Cây xoài giống R2A2 rất ngọt mà hư không thể tả. Năm nào cũng chỉ cho một trái. Tôi giận và không thèm nói chuyện với nó nữa

Bưởi năm roi mới mua hồi tháng Bẩy. Hoa thơm và nhiều. Tước hết để nuôi rễ vậy mà tháng 10 lại ra hoa. Trời gió lộng và hiện tại bưởi còn bốn trái. Chụp ở mé này chỉ thấy hai. Bưởi cao lắm, chỉ có một mét thôi!

"Bà Tổng" HLC là người hay có sáng kiến. Aphid tấn công vườn hồng. Tôi phải cắt trụi hết và treo túi tỏi. Thế là cây hồng thành cây tỏi! Chưa hết, hôm nay để mười giờ dưới gốc. Thế là hơn 10 chậu hồng đang trơ trọi buồn hiu bỗng tưng bừng khoe sắc. Thế đấy, cỏ cây cũng cần có đôi để vẻ đẹp được nhân đôi!

Úi chu choa, cây sứ Thái trơ cành vào mùa Đông và tôi làm một vòng hoa bao quanh, treo lủng lẳng petunia trông rất đẹp. Bây giờ sứ đã xanh lá và trổ hoa vàng rất đẹp, thơm ngát. Có điều đáng tiếc là hoa rụng mỗi ngày. Phải chi hoa cứ ở trên cành một tháng thì hay biết mấy.

Không chỉ nhặt hoa rơi mà còn phải tỉa tót. Những chậu petunia không còn đẹp vì cành đã dài được kéo vào nhà kho để cắt. Mấy chậu hư để cạnh nhau san sát nên che được khoảng trống. Thế mà lại đẹp. Thấy chưa, khi "đoàn kết", khi " quây tụ" thì "một cây làm chẳng nên hoa, ba cây chụm lại ra tòa thiên nhiên"!

Khu Vườn Noel mới thêm cảnh này. Hôm nay trang trí lại. Giữa các cỏ giả là đá tổ ong đỏ để che các mối nối. Đấy, cây cối được trình bày theo chủ đề và có cảnh chứ không chỉ là các chậu cạnh nhau . Giữa vườn là con hươu kéo xe cho ông già Noel và cactus. Bên cạnh là chậu hoa 10 giờ tròn

Cô kia ghé và kể " Con đi tới đây, không cần nhìn số vì cứ cái cổng mầu tím là biết nhà cô Lan Chi. Với lại cứ nhìn vườn hoa là cũng biết là cô. Đa số cao niên VN trồng hoa là rất nhiều và cạnh nhau san sát. Cô không vậy. Cô xếp hoa lá thành tiểu cảnh. Mỗi góc là một cảnh. Nó là "phong cách" riêng của cô"

Ừ hén. Con bé nhận xét tinh tế. Các nhà cao niên VN đúng là rất nhiều chậu cạnh nhau. Tôi chỉ có 5-6 khu. Khu nào cũng gọn trong hàng rào nhỏ. Khu hồ nước. Khu hoa sứ với hoa lá theo mùa. Khu cactus cũng là tiểu cảnh với suối đổ và đường mòn quanh co. Khu Vườn Noel là bồn hoa tam giác và bồn hoa thấp cũng được mix hoa theo nghệ thuật chứ không cắm đại. Vòng theo cây thông hôm nay được đổi style: toàn một mầu xanh nõn của sedum. Khu hoa hồng và lan thì dăm chậu cạnh nhau và cuối đường là lưới cáo.

Chắc vài tháng sau buồn buồn tôi lại đổi style khác. Tôi không thích phong cách "tĩnh lặng" chỉ toàn đá và thông, tùng bách kiểu Nhật vì tôi rất mê hoa. Tôi thích ngắm hoa đủ màu sắc. Kiểu Nhật chỉ toàn một màu xanh tôi thấy buồn. Nó tĩnh lặng quá.

Âm nhạc là một quà tặng của Thượng Đế. Hoa lá cũng là quà tặng của Thượng Đế. Tôi đã được nhận hai món quà rồi đó. Bạn thì sao nhỉ?

Hoàng Lan Chi

11/2021

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Không phải mùa Thu mà sao em vàng lá- Nov 21, 2021

Nguyễn Văn Lục- Nguyên Sa của một đời và của một thời- Nov 13, 2 021

LGT: bài dài như thường lệ! Thì công phu, thì sưu tầm kỹ lưỡng. Vì thế Ông Nguyễn Văn Lục hay viết dài. Xem cho biết. Thì cũng biết được nhiều điều vì ô Lục góp nhặt từ nhiều nguồn chen vào đó là những nhận định của ông. Ô Lục thích Nguyên Sa. Cũng phải thôi. Họ cùng trang lứa thì phải. Họ cũng là phải nam như nhau. Và có lẽ tư tưởng, lập trường chính trị quốc gia của một số văn nghệ sĩ trạc tuổi đó, có vẻ như nhau. Thật tình nếu không lười thì tôi cũng thích phỏng vấn một số người -của thời đó- để tìm hiểu vì sao họ giống nhau đến vậy. Cái "giống nhau" mà tôi cứ tạm cho là "phảng phất" đi là sống trong xã hội thời ấy mà hơi "hờ hững" với thời cuộc nếu không nói là …họ hơi thân tả. Thân tả có nghĩa họ không có tinh thần quốc gia mãnh liệt chứ họ không thích gì cs. Cũng có những cái tôi không đồng ý với bài viết nhưng lười chả muốn tách bạch. Tôi có thể thích Nguyên Sa vì thuở mới lớn, sinh viên, cũng thích "Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc" nhưng không thể nhá nổi " buồn như con chó ốm". Tôi không giống họ vì tôi nhỏ tuổi hơn họ, tôi là nữ, tôi yêu quê hương từ bé, tôi ghét cs ghê gớm. Có lẽ thế mà tôi yêu thơ Vũ Hoàng Chương hơn. Tôi thích cái “bi hùng” trong Ta Về của Tô thùy Yên ( cho dù Yên, cũng hao hao giống Nguyên Sa về cái lập trường quốc gia)

Thì thôi, nếu bạn thích Văn Học Nghệ Thuật thì cứ xem cho biết. Vậy nhé

À cũng phải ghi chú thêm, ông Lục và tôi có trò chuyện với nhau vài lần. Giọng Bắc ấm. Lục cũng có góp ý với tôi về vài vấn đề mà nay tôi quên mất rồi.

Nguyên Sa của một đời và của một thời

Nguyễn Văn Lục

Về một cõi thơ tình đột sáng chất ngất.

Nguyên Sa là một tên tuổi quá quen thuộc. Nhất là trong lãnh vực thơ tình kéo dài cả hơn 10 năm. Trước ông , có nhiều thi sỹ thế hệ tiền chiến. Như Nguyến Bính (1918-1966) với những mối tình vu vơ và đầy lãng mạn. Và những đàn anh như Đinh Hùng với Đường vào tình sử ; hoặc cao sang như Vũ Hoàng Chương trong tập Mây.

Tiếp đến là thế hệ thi sĩ đồng thời, ngồi cùng chiếu với ông như Quách Thoại (mất sớm, ngay từ những ngày đầu của báo Sáng tạo. NVL) Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Diễm Châu, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng. Và nhiều thi sĩ khác.

Và có thể nói, mỗi người một phong cách thơ. Mỗi người một vũ trụ thơ như một cõi riêng.

Thật vậy, cùng làm thơ Tự do, đều là « thơ hôm nay » nhưng có điều gì khác giữa Nguyên Sa và Thanh Tâm Tuyền?

Phải nói một lần là số người khởi nghiệp cầm bút ở Việt Nam thường bắt đầu làm thơ nên con số hàng trăm thi sĩ đủ loại. Nhưng được nhìn nhận và mến mộ thì không nhiều như Trần Long Hồ (bác sĩ y khoa) đã nhận xét.

Tác giả Trần Long Hồ trong bài viết : Nguyên Sa, Thơ Tình giữa hai đầu thế kỷ cho rằng : «Từ cổ chí kim, không có thơ nào như thơ Nguyên Sa được lứa tuổi học trò yêu thích đến mức độ gần như đâm mê. Họ trân quý chép thơ Nguyên Sa, ghi khắc trong tim, chuyền tay nhau đọc và tha hồ mơ mộng, rồi thả hồn bay khỏi lớp, phiêu diêu khắp bốn phương. » Và tác giả kết luận : « Nếu thơ tình Việt Nam như một dòng sông, Nguyên Sa không ở đầu sông, mà ông chẳng ở cuối sông , thơ tình Nguyên Sa chính là cả một dòng sông chảy suốt hơn bốn thập niên.»

( Trần Long Hồ. 05-/98)

Giải thích hiện tượng Thơ Tình của Nguyên Sa có thể có nhiều lẽ lắm.

Về hình thức, có thể là phong cách tự sự, nghiêng về văn xuôi, như một thứ văn vần, thường dùng thể thơ lục bát- một thứ «lục bát Nguyên Sa», hay đầy âm hưởng ca dao. Hoặc nó đầy nhạc điệu. Hoặc nó còn được người ta gọi là thơ phá thể. Thơ ấy, còn dùng nhiều điệp khúc, láy đi láy lại mà không nhàm chán.

Về nội dung, Thơ Nguyên Sa gần gũi, mới, lạ lùng, hấp dẫn, ngôn từ tuôn chảy tự nhiên mà không gò ép, mà cũng không có những tiếng khóc than, tiếng thở dài với nước mắt hoặc day dứt đứt gánh, hoặc tuyệt vọng, gẫy đổ.

Nó quen thuộc mà lạ quá như thể lần đầu tinh khôi, chưa một lần được nghe đến.

Nói đúng ra là sự sáng tạo không giả tạo, không bắt chước. Nó cũng không làm dáng trí thức với từ ngữ triết lý bởi vì ông vốn là giáo sư Triết. Ông thong dong trong cõi thơ mà không bị luẩn quẩn trong các từ ngữ triết học như một số người thường làm.

Nói đến Nguyên Sa, thơ ông đắt giá là ở chỗ ấy nên người ta không thể không nhắc đến :

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.

Anh vẫn thương màu áo ấy vô cùng

Nhắc đến áo lụa Hà Đông thì có gì mới lạ ? Nhưng trong ngữ cảnh toàn bài thơ thì nó trở thành quyến rũ, say mê lòng người. Tôi cũng muốn nhấn mạnh là Thơ Tình Nguyên Sa- dù ở Paris – thì bối cảnh vẫn là khung trời Sài gòn. Nắng Sàigon, tháng sáu trời mưa Sàigòn, áo Sàigòn, em Sàigòn. Ông vẫn quay quắt với Sài gòn theo cái kiểu « Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi…)

Vì thế một số bài thơ tình nổi tiếng của Nguyên Sa đã được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc. Thơ và nhạc như có cơ duyên cùng cất cánh bay lên. Đó là các bài Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em. Tuổi mười ba, Tháng sáu Trời mưa

Chỉ trừ một lần. Một lần thôi : Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng (Áo lụa Hà Đông). Hay «Paris có gì lạ không em».

Thơ ấy nó như bắt chợt, như khởi đầu. Như một khối tinh nguyên, tinh vẹn hình hài. Nó vượt trên tất cả. Nó ới gọi tuổi trẻ mà không phải như một khích động. Mà như một tiếng thì thầm êm dịu. Mặc dầu vậy- một mâu thuẫn nội tại- Tôi chưa từng nghe rôn rang một cô gái nào, dù yêu thơ Nguyên Sa lại là người tình của thi sĩ ?

Cuối cùng thì nói bao nhiêu cũng không vừa. Càng biện biệt, phân tích, càng phân lìa. Có khi ta chỉ đọc và ta cảm nghiệm thôi.

Nhưng có lẽ hay hơn cả là hãy để Nguyên Sa tự giãi bầy về thơ ông. Trong cuốn sách Hành Trình Đức Tin. Những trường hợp về Đạo Chúa, 2014, Ông lý luận như sau :

  • Về phép làm thơ – Vần thơ có vần chính, vần thông, vần cưỡng áp và lạc vận. Vần chính không cần sự hỗ trợ, không cần sự phối âm, nhưng việc xử dụng những nền âm thanh khác biệt có khả năng làm cho vần thông thành vần chính. Vần cưỡng áp ngay cả vần lạc vận cũng được nắm tay giữ được trong khoảng không gian giữa trời đất mênh mông. » ( sách Nguyễn Đức Tuyên đã dẫn, trang 247).
  • Chủ đề Tình yêu- Đề tài tình yêu thường thay đổi theo thời gian. Trước năm 1963, tình yêu đó thuần túy những cảm xúc, những đam mê. Đó là niềm đam mê lúc tin tưởng mạnh mẽ, lúc rụt rè hãi sợ, lúc ngỏ lời, lúc không dám ngỏ. Nhưng về sau, lúc người ta 50, 60 tuổi, đam mê tình ái không còn nữa, như xao xuyến về một vạt áo trong sân trường, như bồi hồi vì một mái tóc xõa ngang vai không còn nữa. Thời gian xóa bỏ nhiều thứ. (sách Nguyễn Đức Tuyên đã dẫn, trang 248)

Cuộc đời và nhân thân của Nguyên Sa

Có một chi tiết cần viết thêm ở đây là : Trong cuốn Hành Trình Đức Tin của tác giả Nguyễn Đức Tuyên có ghi chú theo lời kể của Nguyên Sa thì ông không phải người gốc Bắc chính hiệu, dù sinh đẻ ở Hà Nội. Ông cố Nội ông là Thượng Thư Trần Trạc, giữ chức Hiệp tá Đại Học Sĩ trong triều đình Tự Đức. Đời ông nội mới ra Hà Nội. Năm chiến tranh 1946, gia đình ông tản cư về Hà Đông, ông bị Việt Minh bắt cóc lúc 15 tuổi.

Ông có kể lại chi tiết việc bắt giam này như sau : Ông bị giam tại trại Văn Đình. Trại giam Hòa Bình, rồi trại giam Sơn Tây. Ông phải vào rừng ăn trộm củ sắn và được phép cán bộ cho ăn cùng bạn tù. Khi máy bay Pháp tới oanh tạc, mỗi toán ba người trói tay vào nhau do lính cộng sản dắt đi, súng kề vào đầu phòng hờ khi phi cơ Pháp thả dù xuống nơi đó là bắn bỏ các tù nhân trước khi rút lui. (Trích bài Kính mừng Maria in ở hải ngoại).

Hồi cư về Hà Nội, ông mới được gia đình gửi sang Pháp, học Trung Học năm 1949. 1953, đậu tú tài Pháp. Ông ghi danh học đại học Sorbonne về triết học. Hầu hết các bài thơ Tình đều làm trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với Trịnh Thúy Nga. Được biết đám cưới cực đơn giản.- Không ai cưới. không nhà hàng. Không bố mẹ đôi bên. Chỉ một nhóm nhỏ bạn bè rủ nhau ra quán cà phê.

Vậy mà họ đã nên vợ chồng, sống trọn đời bên nhau.

Đầu năm 1956, hai người mới về Việt Nam.

Ông sinh ngày 1-3- 1932, tại Hà Nội trong một gia đình khá giả. Có đến sáu người con. Ông là anh cả. Còn lại là gái và trừ người em út là em trai. Lần lượt các em ông là Trần Thị Kim Thoa, Trần Thị An, Trần Thị Kim Cang, Trần Thị Kim Anh và Trần Văn Chang.

Phần ông bà có ba người con hai nam, một nữ. Trần Minh Triết, Trần Văn Học, Trần Nương Thơ. (Triết-Học-Thơ. Quả là khéo đặt tên).

Ông mất ngày 18-4-1998 tại California với tên nhà thơ Nguyên Sa, Giuse Trần Bích Lan.

Xin ghi lại đôi lời tạm biệt trước giờ hạ huyệt ngày 22-04- 1998 của người em kết nghĩa Trần Dạ Từ- Nhã Ca.

Là đứa em trong tinh thần gia đình và đời sống văn học của nhà thơ Nguyên Sa, tôi xin có đôi lời về người anh lớn của tôi.

Thi sĩ có tài phân thân thành muôn mảnh. Chàng phân thân vào hạt cát vào giọt nước, hợp lại thành núi non, sông biển. Chàng phân thân vào hơi gió, vào nắng, vào mưa, hòa tan cùng lòng người.

Muôn mảnh phân thân của nhà thơ hôm nay, gom lại đôi bờ.

Âm dương hai ngã. Như thơ Phân thân của Nguyên Sa:

“ Này đây, tả ngạn làm thơ

Còn kia hữu ngạn ngồi chờ tin em

Cái người năm ấy em quen.

Phân thân nửa ở bên em, nửa về”

Nửa về của nhà thơ là thể phách, chúng ta đang đưa tiễn.

Thưa chị Nga và các anh chị em.

“ Nửa ở bên em” của nhà thơ là tinh anh, là tình yêu, ở mãi bên chị, ở mãi cùng chúng ta, ở mãi cùng sự sống.

Thưa anh Nguyên Sa,

Cám ơn anh đã tới trong đời em, như người thầy, người bạn, người anh.

Xin tạ ơn trên cho gia đình chúng ta có anh, và thời đại chúng ta có Nguyên Sa thi sĩ.

Trần Dạ Từ

Phải nói sống đẹp và chết đẹp. Nguyên Sa của một đời và của một thời

Đôi dòng khép lại và tiếp tục hành trình Nguyên Sa của cả một thời

Hành trình thơ cũng như trí thức của Nguyên Sa là một đoạn đường dài. Bắt đầu từ ngoài nước đến về Việt Nam cho đến 1975. Sau đó chặng đường cuối là tại hải ngoại.

Mỗi chặng đường là một cột mốc, đánh dấu một thời kỳ dựa trên các câu hỏi: Viết ở đâu, viết lúc nào, viết cho ai, viết để làm gì và tại sao viết.

Nắm bắt được những tiêu chí đó sẽ giúp giải đáp được một phần sự đóng góp cũng như đánh giá công bằng về tác giả.

Cứ cho rằng, ông bắt đầu làm thơ trong những năm du học trung học, rồi đại học Sorbonne. Và cuộc gặp gỡ bà Nga, một sinh viên theo ngành toán học, còn ông triết học. Mối tình đầu đã nở hoa và với vô số bài thơ viết riêng cho Nga mà không đăng như kỷ niệm giữ riêng cho mình. Và chỉ phổ biến sau này khi đã kết đôi lứa.

Đây là những bài thơ tình tưởng chỉ dành cho hai người, trở thành một thứ hiện tượng văn học muôn thuở đi vào văn học bằng cửa chính mở toang.

Thơ ấy mỗi thời điểm là mỗi khác biệt len lỏi vào tâm tư, tình cảm của lớp người trẻ. Cái chính là đọc thơ Nguyên Sa, người trẻ thấy mình trong đó, một gia tài chung mà lại riêng cho từng người.

Nó như thể đốn ngã và lấp kín một cách ngoài ý muốn các nẻo đường văn học khác theo cái nghĩa “vượt trội” hay thì người ta tìm đọc của đám đông.

Chẳng hạn Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng vẫn có chỗ đáng kính dành cho các ông. Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, Cung Trầm Tưởng cũng vậy. Mỗi người là một đặc sản.

Và điều đó cũng là cá tính làm nên văn học, nghệ thuật miền Nam. Sự đa dạng và sự cá biệt bao hàm tự do. Và thơ Nguyên Sa là biểu tượng cho một thời miền Nam khó phủ nhận. Và khó quên đối với mọi người.

Thơ ông đi vào lòng người và ở lại như chốn quê nhà mà không là quán trọ.

Và đã có lần Nguyên Sa tự nhận mình một cách “hài ước” là Công tử Nguyên Sa. Bài thơ ý lạ, hiếm mà ít người biết đến nên tôi ghi lại ( Hoàng Hải Thủy có danh hiệu là “ công tử Hà Đông” cũng cùng một lẽ chăng?)

Ta là công tử đời xưa

Nàng xuống ngựa đứng chờ rất ngoan

Tay cầm chiếc lọng vua ban

Vai mang võng tía có nàng nằm trên

Ta đi giữa phố Sài gòn

Với thơ với nhạc với làng mạc quen

Với trăng trên áo hoa vàng

Với chim thần thoại chỗ gần cuối môi

Ban mai ở chỗ nàng ngồi

Buổi chiều bên suối đêm dài dưới chân

Chín lần ở dưới gót chân

Chín con rồng đỏ có hình dáng ta

Nhẹ nhàng áo gấm hòa hoa

Xin trời biển với chiều tà chút mây. »

( Bài thơ này nhiều người không hay, trích trong trang bìa Nguyên Sa (1956-1975). Nxb Nam Sơn. Montréal, Juillet 2004)

Và cứ thế, cứ thế, ông nhẹ đi vào đời với những bài thơ như «Tháng sáu trời mưa » trong tập thơ Nguyên Sa một, những năm 1950. Tỏ tình ngọt « như uống ly chanh đường ». Với những điệp khúc láy đi láy lại trong mỗi dòng mà không thừa, nhàm chán. Nó có vẻ như phảng phất trong ngôn từ của họ nhạc sĩ họ Trịnh. Phải chăng các đấng thiên tài có một điểm đồng quy. Giống mà khác ?

Tháng sáu trời mưa không ngớt

Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa

Anh lạy trời mưa phong tỏa đường về

Và đêm ơi xin cứ dài vô tận.

Và một bài thơ nhan đề vỏn vẹn có chữ « Nga », làm tại Pháp năm 1954 :

« Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chả là nước biển

Tại sao Nga ơi, tại sao..

Đôi mắt em nghẹn như sát từng lần vỏ hến

Hơi thở trũng như sợi chỉ không căng.

Bước chân không đều như thước kẻ làm cong

Ai dám để ngoài mưa, ngoài nắng ! »

Đọc một đoạn khác trong bài « Tuổi mười ba » mà bất cứ ai cũng phải thuộc

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường

Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương

Tôi thay mực cho vừa mầu áo tím…

Thôi thì nói sao cho vừa. Ví người yêu như con chó ốm, như con mèo ngái ngủ thì chỉ Nguyên Sa làm được. Dễ thương chi lạ. Thơ Nguyên Sa như một dòng sông mà bao giờ chúng ta múc cạn được một dòng sông đang tuôn chảy?

Tuy nhiên Viết lúc nào, viết cho ai, vì sao viết đã có những câu trả lời thích đáng cho từng thời kỳ.

Nguyên Sa từng thời điểm đã được ghi dấu những khác biệt.

Nguyên Sa những năm 1950 không giống với Nguyên Sa thập niên 1960.

Nguyên Sa khi cộng tác với Sáng Tạo đã hẳn không giống với Nguyên Sa trên tờ Đất Nuớc, nhất là tờ Trình Bày.

Nó xác định một cách công khai và rõ rệt một thái độ trí thức của người cầm bút trước hiện tình đất nước.

Nó cũng cho thấy những khác biệt riêng của một Nguyên Sa thời kỳ VNCH đến 1975 và thời kỳ sau 1975 khi ở hải ngoại.

Ở Hải ngoại Nguyên Sa viết được gì?

Ngay trong thời kỳ 1954-1975 cũng phải phân định hai thời kỳ : thời kỳ Đệ I và Đệ II Cộng Hòa.

Thời kỳ Đệ I tương đối thanh bình, an lạc ý hướng viết khác. Thời kỳ Đệ II chiến tranh lan rộng, bản thân nhà thơ phải nhập ngũ, ý hướng sáng tác mang tính cách dấn thân, nhập cuộc. Tập thơ “Những năm 60” đã bị chính quyền kiểm duyệt, không cho xuất bản. Thế Nguyên, chủ nhân nxb Trình Bày đã buộc lòng in ronéo 200 bản gửi bạn bè làm kỷ niệm. Vì thế mà hiện nay những bài thơ đó còn được giữ lại.

Nhưng chính vì thế, người đọc thơ Nguyên Sa thời VNCH những năm 1954 ít biết đến thơ văn này như thể “ngoài văn chương” nếu họ không có cơ hội đọc 18 số Đất Nước, 42 số Trình Bày, 25 số Nghiên cứu Văn Học.

Và đó là sự khác biệt. Người ta không thể đòi hòi một sự thuần nhất và liên tục trong thơ ông; Thơ trước là thơ Tình, lãng mạn, mang tính cách tiểu tư sản thành thị trong một xã hội an bình.

Chiến tranh ngày một lan rộng, tiếng đại bác dội về thành phố, tâm trạng con người bất an. Thái độ sống chuyển động. Và đã đến lúc đòi hỏi nhà thơ phải có một thái độ nào đó trước thời cuộc.

Nhiều khi phải thú thực, tôi không đồng ý với Mai Thảo năm 1954 cũng là Mai Thảo những năm 1969, rồi 1975. Rồi Mai Thảo hải ngoại.

Mai Thảo hầu như suốt cả đời vẫn là Mai Thảo.

Rời bỏ nền văn chương trú ẩn

Bài viết này của Nguyên Sa, đăng trên Tạp chí Đất nước số 2, tháng 12 năm 1967. (xin ghi tóm tắt và sơ lược. Độc giả cẩn trọng, có thể tìm bản chính, vì nó cũng không dễ đọc)

Có thể nói nó như một tuyên ngôn văn học của tác giả và những người bạn đồng hành.

Thường ý tưởng sáng tạo trong nghệ thuật là một thái độ khẳng định nói không với dĩ vãng. Nghĩa là nói không với cái đi trước, nói không với những tác phẩm đã có và nói không với cả chính mình. Nói không để chứng tỏ là mình mới để chứng tỏ ta đây đổi mới.

Nhưng đôi khi đó chỉ là thái độ tự lừa dối chính mình, chưa chắc đã sáng tạo được gì. Chẳng hạn khi TLVĐ thành lập đã khước từ cái cũ, chủ trương cái mới. Nhưng cái mới là cái gì? Hình như nó chưa định hình?

Đến thập niên 1960, Khước từ cái cũ trở nên ồn ào, rộn ràng hơn lại phủ nhận văn nghệ tiền chiến. Những tiếng không dõng dạc, những đứng dậy, những chối bỏ, xét lại là những cựa mình ghê gớm chẳng khác gì dã thú ngủ suốt mùa đông thức dậy.( Đây là trường hợp của Sáng Tạo với Mai Thảo, theo vết chân TLVĐ phủ nhận Tiền chiến, lại đi theo vết xe đổ của TLVĐ. NVL)

Nhưng thật ra văn nghệ là sự làm lại liên tục đó. Cái cũ cái mới đan xen nhau. Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân , Khái Hưng, Nhất Linh vẫn là gia tài để lại êm dịu lắm. Nó cũng đem lại những cảm hứng sảng khoái khi gõ cửa những tùy bút của Mai Thảo, bùng cháy với tình yêu của Chu Tử hay khu vườn tuổi nhỏ của Duyên Anh.

Nghĩa là nó có chỗ đứng của nó, xác định từng thời kỳ không thể chối bỏ.

Nhưng ngày hôm nay, bắt buộc vẫn phải cựa mình, rời bỏ cái động ấm áp ấy đi tới một cuộc phiêu lưu mới. Vẫn phải nói không với dĩ vãng, không thể chấp nhận nơi trú ẩn an toàn đó. Và phải nhìn nhận ngay trong cái mới của ta đã có mầm mống của cái sáng tạo ra rồi trong một hình thức mới.

Theo Nguyên Sa, khi tờ tập san Đất Nước số một ra đời, chúng tôi cũng đã ngồi lại với nhau bẻ gẫy nó trước khi chấp nhận nó. Và chúng ta cùng nhau tìm kiếm ra những giải đáp cho những thắc mắc lớn nhỏ đặt ra cho thời đại chúng ta. Chúng tôi cũng có những tâm trạng hoài nghi, hân hoan cũng như thống khổ.

Và phóng ra những cái nhìn bốn phía, những tiếp xúc tứ phía, ý thức về những tương quan chính trị và không thể nào đi vào chủ nghĩa “sô vanh” (ý nói chủ nghĩa độc tôn, một mình, một chiếu văn học. NVL)

Trong cái hoàn cảnh chính trị vệ tinh chia cực mà chúng tôi chỉ là chầu rìa này, như hoàn cảnh viện trợ, hoàn cảnh phân chia này để tìm một lối thoát.

Chúng tôi có một dân tộc và chúng tôi yêu lắm chứ. Biết cầm bút, chúng tôi biết nỗi nhục, biết mơ ước dân tộc đang ước mơ, biết hãnh diện về một niềm kiêu hãnh chưa đạt tới.

Rời bỏ nền văn chương trú ẩn, khuôn thước, rời bỏ động đá vững vàng. Hay khởi đi về trước mặt. Đi đâu? Chưa biết.

Đó là một cuộc phiêu lưu. Có thể là một khám phá, có thể là sự gục ngã trong dại khờ còn hơn trong khôn ngoan. Chết ở chân trời thử thách, chết trong cuộc phiêu lưu còn hơn sống mãi trong tầm gửi trong động đá trú ẩn êm ấm.

Nguyên Sa

  • Trong cái tinh thần ấy ra đời những bài như : Lời cầu siêu thoát cho Nguyên Quang Đại ở Khe Sanh. Nguyên Sa. Đất Nước số 5. Tháng 6-7- 1968.

Tiếp theo là : Cắt tóc ăn thề

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta

Cắt cho ta sợi dài,

Cắt cho ta sợi ngắn

Cắt cái sợi an gian

Cắt cái sợi nói dối

Sợi ăn cắp trên đầu

Sợi vu oan dưới gáy

Sợi bè phái đâm ngang

Sợi ghen tuông đứng dọc

Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng

Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt.

Sợi nấp trong hầm

Sợi ngồi trong hố

Sợi đau sót như giây dù chẳng mở

Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng

(…) Hãy cắt cho anh,

Hãy cắt cho em

Hãy cắt cho vợ

Hãy cắt cho chồng

Hãy cắt cho con (…)

Cho cả những thằng sa đích văn nghệ rẻ tiền

Cho cả những thằng xẻo thịt non sông

Cho cả những thằng băm vằm tổ quốc

Hãy cắt tóc

Hãy cắt tóc và nhìn

Mặt quê hương đổi mới.

Nguyên Sa. Tạp chí Đất Nước. Tháng 9-10- 1968

Lối làm thơ bây giờ có khác.

Không phải thơ phá thể, không phải lục bát «Nguyên Sa», cũng chẳng phải thơ tự do. Không một giọt tình. Sự lặp đi lặp lại mà không nhàm chán mà như một thúc bách, đòi hỏi. Ngôn từ như lệnh truyền. Sự chuyển tải nội dung thơ có phần sống sượng, đốp chát. Nhưng nó đáp ứng được những khát vọng thời đại của giới thanh niên trước thời cuộc.

Cái hay quyến rũ của thơ có thể để dành một bên để nói lên được cái khát vọng chua chát, cái mất mát hao hụt tuổi trẻ, mà cái sống và cái chết gần kề mà sống đôi khi chưa kịp ra lời…

Hiểu được tâm tư ấy, liệu chăng mới chia xẻ được bài thơ : Giã từ đàn anh của tác giả

  • Xin mở đầu bài viết với bài: “Giã từ khóa đàn anh ». Bài này sau đó được đăng lại ở Hải ngoại kèm theo chú thích về nguồn gốc bài thơ. (Cũng đăng lại trên tờ Đất NướC số 7, chỉ đăng bài thơ mà thôi. Đất Nước có tất cả các bài thơ của Nguyên Sa trong thời chiến. NVL).

Cũng theo tác giả, trong thời gian thụ huấn ở quân trường Thủ Đức, Khóa động viên 24, vị chỉ huy trưởng biết ông là nhà thơ, giáo sư Triết nổi tiếng nên đã nhờ sĩ quan Tâm lý chiến tiếp xúc với ông, yêu cầu ông viết một bài để đăng trong báo của Quân trường.

Tôi thấy cần thiết phải viết tóm tắt lại giai thoại văn chương lý thú này, vì nó quá đẹp đối với lời yêu cầu của vị sĩ quan với sự trân trọng thi sĩ.

« Sĩ quan chỉ huy chiến tranh tâm lý của trường võ bị Thủ Đức cho giấy mời tôi lên. Người sĩ quan có cấp bậc hàng tá xua tay ngay khi khi tôi vừa khởi đầu chào kính, chưa kịp đọc tên họ và số quân tám số, xua tay nói thôi thôi, anh đứng dậy rời bàn làm việc tiến ra phía tôi, xiết chặt tay nói anh em cả mà, anh mời tôi ngồi xuống ghế xa lông, hỏi han về sự thích ứng của tôi với quân trường, hỏi thăm việc quản trị trường Văn học thời gian tôi đi xa này (…) Anh đưa tặng tôi tạp chí nội san của trường Võ Bị Thủ Đức. Sau chót anh nói lên điều anh muốn.

  • Chúng tôi muốn xin anh Nguyên Sa một bài thơ.
  • Cho tờ tập san của trường?
  • Vâng cho tập san của trường…

Anh thận trọng nhấn mạnh đây là chúng tôi xin thi sĩ, không phải một mệnh lệnh, xin anh thông cảm cho…

Tôi nhận lời. Tôi vẫn được đối xử như một thi sĩ, một thầy giáo dạy Triết trong trường học rất võ mà rất văn này, nơi tôi đã trở thành một người học trò đầy hào hứng tìm lại được bản chất học trò tưởng đánh mất đến ngàn năm. Không có miếng đỉnh chung gì cả. Nhưng quý hơn ngàn lần miếng đỉnh chung, những lời nói chân thành đầy tình tự anh em bằng hữu, văn nghệ, giang hồ…

Tôi nhận lời. Trần Sơn Hà và Nguyễn Đức Năng thu xếp cho tôi lên nằm bệnh xá một ngày. Bác sĩ Bao (Tên đầy đủ là Trần Văn Lâm Bao. NVL), trưởng khu bệnh xá của quân trường thân ái nói anh cứ lên đây. Chưa đầy một ngày tôi đã có bài thơ cho tờ tập san của trường. (…). Tôi không trở lại bệnh xá của người bác sĩ quân y rất văn nghệ này lần nào.

Tôi có bài thơ cho tờ tập san của trường rồi “Giã Từ Khóa Đàn Anh” là bài đầu tiên tôi làm trong cuộc đời đổi khác, thời gian trước khi gắn alpha, thời gian từ một tháng rưỡi đến hai tháng sau khi nhập ngũ.

Giã từ Khóa Đàn Anh

Các ngươi là đàn anh của ta

Các ngươi đúng là đàn anh của ta,

Đàn anh tác xạ

Đàn anh vũ khí mìn

Đàn anh cơ bản thao diễn.

Hãy quỳ xuống

Và hãy đứng dậy

Hãy quỳ xuống trong đêm quân trường

Hãy đứng dậy trong ngày từ giã

Hãy đứng dậy khi nghe ta gọi

Các ngươi là đàn anh của ta.

Các ngươi là đàn anh của ta

Đàn anh địa hình

Đàn anh chiến thuật

Đàn anh gác ngày

Đàn anh kích đêm

Đàn anh cười

Đàn anh khóc

Đàn anh nhớ vợ nhớ con

Đàn anh khóc trên đồng ruộng quê hương

Đàn anh buông tay mẹ già tóc trắng

Đàn anh

Các ngươi

Hãy đứng lên

Hãy nhìn về trước mặt

Hãy đằng sau quay Hãy bước đi

Và hãy nghe ta Trong bước đi

Gọi thầm Hỡi đồng hành

Đồng hành

Trong cõi chết.

Bài thơ được in ra, tập san của trường phổ biến đến các đại đội khóa sinh. Hà nói tôi không hiểu tại sao các ông ấy lại đăng bài thơ này của cụ. Kim nói không bị củ là may rồi. Không tôi không bị « củ ». Cũng không bị khiển trách gì.(…)

Tôi muốn mô tả, tôi muốn chia xẻ.. (… ) Tôi muốn giãi bày những cảm nghĩ, xúc động trong cõi sâu, những khía cạnh nhân bản và nhiều khi bi thảm mà những ngăn cách khóa đàn anh, khóa đàn em không xóa bỏ đi được.

Nhưng bài thơ có thể mang lại ngộ nhận..(…)

Gọi các bạn khóa đồng ngũ khóa đàn anh là « Ngươi » xưng « Ta » có thể là những ngộ nhận khác.

Vị sĩ quan phụ trách tâm lý chiến ở Thủ Đức đã đăng Giã Từ coi như chọn lựa bất trắc. Tôi nghĩ tôi có nợ anh. Tôi nghĩ nếu như tôi gặp lại, tôi phải nói với anh lời cám ơn.

Sơ lược về lai lịch của Nguyên Sa thời du học bên Pháp

Xin mở một dấu ngoặc cuộc vào đời Nguyên Sa- như chuẩn bị cho một hành trình thi ca lừng lẫy và một trí thức tranh đấu dấn thân của ông cho những nghịch cảnh sau này. Một sự chuẩn bị báo trước một thiên tài, một người đấu tranh cho lẽ phải, cho quê hương đã bị cày rách nát vì bom đạn.

Đây cũng là một giai đoạn ít người lưu tâm tới.

Chúng tôi xin ghi lại bài nói chuyện của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch về nhà thơ Nguyên sa do nhà thơ, nhà báo Nguyễn Mạnh Trinh ghi lại (1949-1921) như một lời tri ân kỷ niệm NMT.

  • Nguyễn Mạnh Trinh. Thưa thầy, chắc thầy có nhiều kỷ niệm với nhà thơ Nguyên Sa từ lúc du học ở bên Pháp ?

Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, lúc đó đang học ở Sorbonne cùng với gs. Bùi Xuân Bào. Ông nói : Nguyên Sa với tôi có sự cách biệt về tuổi tác, hơn nhau đến tám chín tuổi nên ở bên Pháp cũng không có tiếp xúc gì nhiều. Tôi biết lúc đó có một nhóm anh em trẻ đang học những năm cuối cùng của bậc trung học ở thành phố Provins, gần thủ đô Ba Lê. Theo tôi biết, họ là một nhóm gồm Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Viết Thành, Đỗ Long Vân. Tôi cũng nghe là nhóm trẻ ấy rất ham mê văn nghệ, trong hoạt động của họ có nỗ lực tìm tòi những điều mới lạ cho nghệ thuật nên tôi có cảm tình với các anh em trẻ đó.

(Tên Nguyên Sa có nghĩa chỉ là như hạt cát. Hoàng Anh Tuấn, nhà thơ, học về điện ảnh, sau làm Quản đốc đài phát thanh Đà Lạt. Trịnh Viết Thành, con trai lớn của chủ nhà in Nam Sơn, có thời là em rể của Nguyên Sa, nhưng chết sớm, sau đến Trịnh Viết Đức, em Trịnh Viết Thành đảm nhiệm việc in ấn thay anh in Hành Trình, Đất Nước. Đỗ Long Vân xuất sắc với bài viết : Vô Kỵ giữa chúng ta và vài bài nhận xét về thơ Thanh Tâm Tuyền như « Khuôn Mặt hay là tâm sự tiểu tư sản trong Thanh Tâm Tuyền– Rất tiếc, tác giả Đỗ Long Vân- nhân tài cũng mất sớm » NVL).( ….)

  • Nguyễn Mạnh Trinh. Thầy có nghĩ rằng những người làm văn chương từ Pháp về đã mang theo những khí hậu mới mẻ cho văn học lúc ấy ? Những tác giả như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Trịnh Viết Thành, Cung Trầm Tưởng, Đỗ Long Vân đã mang về nước nhà những ảnh hình thời thượng, lãng mạn như ga Lyon đèn vàng, như dòng sông Seine thao thiết, như khuôn viên sang cả và đặc biệt những đại học ở Paris .. Và đối với giới trẻ lúc ấy, chịu ảnh hưởng rất nặng những mơ mộng ước mơ bắt đầu từ những điều kể trên ?
  • Nguyễn Khắc Hoạch. Tôi nghĩ dù sao những hình ảnh ấy chỉ là ước lệ mà thôi, còn cái thực chất mà mình tiếp thu được ở nước ngoài một cách sâu sắc là thái độ tinh thần, là kiến thức mới mẻ áp dụng vào đời sống Việt Nam. Như tôi đã nói, do sự khác biệt giữa hai nền văn hóa, những điều mình đã học hỏi có tác động tinh thần ngược lại để mình hiểu chính mình một cách thấu đáo triệt để hơn. (…)
  • NMT. Theo thầy, ảnh hưởng thơ Nguyên Sa ra sao, đặc biệt trong giới thanh niên trí thức ?
  • NKH. Chưa nói đến phần thi ca của Nguyên Sa, giới sinh viên lúc ấy rất tán thưởng các giáo sư giảng dạy về triết học trong đó tôi có thể kể đến các anh Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn, Lê Tôn Nghiêm, Nguyên Sa… là những người đã mang triết học Tây phương vào giới làm văn hóa Việt Nam. Họ thổi một luồng gió mới vào nếp suy nghĩ của sinh viên. Mỗi người mỗi vẻ, những đóng góp đã làm thành yếu tố để gây dựng một nền học thuật vững vàng và nhiều chất bác học. Đặc biệt, chúng ta phải coi họ là những người đã « nhập cảng » tư tưởng triết học Tây Phương vào văn học Việt Nam. Đó là một đóng góp rất lớn. Riêng Nguyên Sa, với ngôn ngữ sáng sủa, lãng mạn, ý tưởng tân kỳ, tình yêu trẻ trung, làm thơ anh có sức hấp dẫn đặc biệt.
  • NMT. Như vậy triết học có ảnh hưởng gì đến thơ Nguyên Sa ?
  • NKH. Đây là một nét độc đáo của anh. Nguyên Sa là một giáo sư triết học, quen lý luận, nhưng có thể nói anh không hề bị triết học gò bó. Anh không hề bị coi như một « con tin » của triết học. Thi ca của anh thoải mái, phóng khoáng và ta cũng hiểu triết học đây, nếu có, chính là phong thái sống và nếp cảm nghĩ của tác giả và chỉ thế thôi.

Nguyên Sa có lẽ không bao giờ nói đến triết học trong thơ của anh, nhưng triết học lại luôn luôn hiện diện với các hình thái «đời sống con người» và rất tự nhiên như hơi thở của chúng ta vậy.

Đó là điểm đáng khen của Nguyên Sa, theo tôi. (Xin tạm ngừng bài phỏng vấn ở đây).

Phạm Việt Tuyền. Đọc ‘Những năm sáu mươi’ của Nguyên Sa trong sự phân tích về khuôn phép, vẫn làm thơ như thể một người ngoài cuộc.

Có thể chia cuộc đời làm văn học tóm lược trong hai giai đoạn : Giai đọan làm thơ tình và giai đọan làm dấn thân, đấu tranh. Giai đoạn thơ tình thời trẻ đã đem lại cho ông rất nhiều hương vị ngọt bùi và lòng say mê cảm mến của nhiều giới trẻ.

Giai đoạn với tập thơ Những năm sáu mươi, mang màu sắc chính trị không nhận được sự đón tiếp nồng hậu của giới trẻ nữa. Đã hết rồi. Vì thế, xin giới thiệu nhà báo Phạm Việt Tuyền có những nhận xét về tập thơ này.

Theo ông Phạm Việt Tuyền, trong một phiên họp nhằm tục bản tập san Nghiên cứu Văn học, anh em chọn chủ đề : Văn Nghệ Đen cho số tái ngộ này. Và tập thơ Những năm 60 của Nguyên Sa được coi như một tập thơ đen theo mọi nghĩa. Đen theo nghĩa nhà Trình Bày đưa tập thơ lên Bộ Thông Tin, yêu cầu kiểm duyệt từ tháng 5-1970. Nhưng cho mãi đến tháng giêng năm 1971 cũng chưa được kiểm duyệt.

Cuối cùng theo lời đề nghị của tác giả nên đã in ra 200 bản để đề tặng anh em cùng nhau đọc chơi.

Tập thơ này gồm 29 bài thơ đại loại như : Săn Bắn, Nhìn em, nhìn thành phố nhìn quê hương, Tắm, Đám tang Nguyễn Duy Diễn, Cắt tóc ăn tết, Dặn vợ sắp cưới, Bao giờ, Xin lỗi về những lầm lỗi dĩ vãng, Vết sẹo, Nhìn thấy mình trong quân trường nhắn bạn, Cầu siêu cho Nguyễn Quang Đại chết ở Khe Sanh, Thằng Sỹ chết, Chào nhau, Tám phố Sài gòn, Hỏi bạn, Building, Định mệnh chân dài, Lời năn nỉ, Hỏi thăm Saigon, Giã từ khóa đàn anh, Chim, Vẽ, Nguyền rủa ngày, Ném Đá, Hỏa Châu và Huyền thoại, Chỗ nằm của ta, Lời dặn bản thân, Tóc và Điểm danh.

Theo Phạm Việt Tuyền, đó là 29 sợi suy tư, 29 miếng cảm xúc, 29 trường hợp viết của Nguyên Sa.

Bài Sân bắn mở màn với bài Điểm Danh kết thúc, nhà thơ Nguyên Sa đã vẽ ra một hình ảnh của một tên lính ngơ ngác và lạc lõng của những người lính bất đắc dĩ phải cầm súng.

« Bia lên ta thấy thân người

Thấy ta thấy địch thấy đời lãng du

Thấy tay dư, thấy chân thừa

Thấy tai nghễnh ngãng mắt mù óc không »

Bài Điểm Danh có vẻ lạc lõng

« Đứng dậy nghe gọi điểm danh

Chiêm bao mở mắt thân hình mộng du.. »

Theo tác giả Phạm Việt Tuyền, bài Điểm Danh nghe gượng ép, cảm xúc nghèo nàn, lời lẽ nhạt nhẽo.

Chưa kể, có những bài thơ làm theo Thể lục bát với nhiều phen lạc vận.

Bài Cắt tóc ăn tết với kỹ thuật trùng điệp, lập đi lập lại có thể đến nhàm chán.

Nói chung, phải nhìn nhận những nhận xét của Phạm Việt Tuyền có cái lý của nó. Cái đúng trong một hoàn cảnh bình thường mà có thể không đúng trong thời chiến tranh, có bom đạn, có chết chóc chia lìa.

(Trích dẫn Phạm Việt Tuyền Sài gòn đêm 25- 2- 1971, trên Tạp chí Văn Học, số 1 tháng 3/1971)

Thật không dễ dàng gì với thơ đấu tranh. Phải chăng đó là những lỗ lưới thủng trong thơ Nguyên Sa ? và cũng phải chăng may ra chỉ có thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đạt mức trần của loại thơ đấu tranh. Kiệm lời và gọn ý, biểu tượng, tạo ra được một ấn tượng sâu sắc khó ai đạt được ?

Và để bù lại những thiếu sót này, Nguyên Sa trong ban Biên Tập tờ Đất Nước đảm nhiệm một mục Thế… đó trong suốt dọc dài nhiều số báo bên cạnh những cây bút chủ lực như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Nguyễn Ngọc Lan với những bài về đường lối, chính sách, về lập trường chính trị.

Hay nói như Pascal trong sự đối đầu, người Quốc Gia và người cộng sản ở vào một thời điểm nào đó đã cùng xuống thuyền mà vận mệnh dân tộc đã đẩy họ xuống. Vấn đề là ngày hôm nay, chúng ta phải làm gì ? Và đã làm gi ?

Họ là đủ mọi lớp người như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Thảo Trường, Diễm Châu, Thế Nguyên, Hương Khê, Trương Cẩm Xuyên, Đỗ Phùng Khoan, Trần Văn Toàn, Đỗ Hồng Ngự, Nguyễn Khắc Ngữ, Thế Uyên, Nguyễn Đông Ngạc, Nguyễn Trọng Văn. Họ là Nguyễn Ngọc Lan, Trương Đình Hòe, Trương Bá Cần. Họ là Đỗ Long Vân. Họ là Nguyên Sa

Họ là linh mục, họ là lính, họ là nhà văn, họ là giáo sư, họ là nhà thơ. Họ là tất cả đều đã xuống thuyền và họ phải tự hỏi xem, họ phải làm gì ? Như Nguyên Sa phải làm gì ? Không lẽ cứ làm thơ ?

Nguyên Sa đã không có mặt trên tờ Hành Trình trong 10 số. Ông chỉ thực sự có mặt trên tờ Đất Nước. Chắc là có sự mời mọc của Nguyễn Văn Trung.

Tờ Đất Nước là một vùng « xôi đậu », lẫn lộn Quốc gia, cộng sản. Cộng sản thật cũng có, cảm tình cũng có. Thế Nguyên, Trương Bá Cần, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Tôn Thất Lập lộ diện rõ hơn.

Giữa Hành Trình và Đất Nước, cộng sản như thể đang ở ngoài nhà, nay đã vào đến trong nhà, vào đến tận buồng ngủ của tờ báo. Điều đó nó cũng chứng tỏ miền Nam đã mất nửa phần và trên đà suy sụp toàn diện.

Gần như số Đất Nước nào cũng có bài thơ của Nguyên Sa ở trang đầu như một trang trọng. Sau đó có mục Thế… Đó, đánh đông, dẹp Bắc. Bằng nhũng trích dẫn báo chí ngoại quốc. Tỉ dụ, ông trích dẫn lời ký giả Charles Favrel, đặc phái viên của báo Le Monde đã viết : «Rất nhiều phi công Mỹ chỉ thấy trong công tác chiến tranh của họ như một hoạt động thể thao và họ nói. Hôm nay chúng tôi « mần ăn » khá, và thực sự chỉ yêu cầu họ mần ăn khá như thế mà thôi. » (Trich dẫn Charles Favrel, báo Le Monde, ngày 30-1-1951)

Biểu họ « khéo léo » thì còn được, nhưng biểu họ « thương xót » thì thương xót ai, thương xót cái gì ? Một người phi công Mỹ, nếu sống trong một căn cứ tại Việt Nam, lâu lâu còn trông thấy một người Việt Nam, dầu cho đó chỉ là một anh bồi, một tên ma cạo, một con đĩ. Nhưng sống trên Hàng Không mẫu hạm hoặc một căn cứ ngoại quốc thì nước Việt Nam, người Việt Nam đối với họ là cái gì ?

Nguyên Sa cũng trích dẫn báo Chính Luận có đăng bản dịch của báo Time trong đó có lời tuyên bố của Eddie Rickenberker «anh hùng không quân dân tộc Hoa Kỳ ». Vị anh hùng không quân này đã nói « Hoa Kỳ phải ném bom xuống những hải cảng, đập nước và dân chúng Bắc Việt. Chúng ta không chiến đấu với những con người ở đó, chúng ta đang đánh nhau với những con vật có hai chân. Dân chúng ở đó chỉ là những kẻ nô lệ. (Chính Luận ngày 8-11- 1967).

Câu chuyện Nguyên Sa còn kể rất nhiều những giai thoại như thế trong mỗi số báo như tố cáo cái dơ bẩn, tồi tệ của chiến tranh với cái mặt trái của nó. (Trích Đất Nước số 12- 1967, Nguyên Sa, mục Thế.. đó trang 147).

Sau tờ Đất Nước đến tờ Trình Bày, vai trò của Nguyên Sa không còn mấy quan trọng nữa, bởi vì đây là tờ báo cộng sản thứ thiệt do cộng sản giật giây. Thế Nguyên (1942- 1989.- tên Trần Gia Thoại, sau 1975, cộng sản không dùng, bị bỏ rơi, chết lãng xẹt vì bị bệnh sài uốn ván. Ông là con một nhà giàu, lấy một người vợ lai Tầu. Chị vợ đã móc nối với em rể đưa vào MTGPMN, thập niên 1960. Tiền tài trợ một nhà in có thể do Việt cộng cung cấp để Thế Nguyên có thể ấn hành sách báo..

Nay chỗ của ông không còn nữa.

Nguyên Sa, nhà thơ, nhà báo ở Hải ngoại

Tôi xin mạn phép không viết về Nguyên Sa trong thời kỳ ở Hải ngoại, vì như ngôi sao văn học nơi ông đã tắt. Viết ở đâu. Viết lúc nào, tại sao viết đã trở thành dòng sông nghẽn mạch của chính sự nghiệp của ông. Vấn đề cơm áo gạo tiền ở xứ người, hoàn cảnh sống thay đổi hầu như không có chỗ đất đứng, nhiều nhà văn cũng đã cạn nguồn sáng tác.

Đây là dấu kết thúc chẳng những Nguyên Sa, nhà thơ và còn là nhà báo văn học đúng nghĩa. Xin giã từ Nguyên Sa trong niềm nuối tiếc một thời đã qua của miền Nam một thời.

Nguyên Sa và tình bạn

Cái dấu ấn để lại nơi tôi và nhiều người- nhất là Nguyễn Văn Trung -bạn ông- là cái tính bình dị, xuề xòa, « lè phè » theo ngôn ngữ của học trò ông, dễ quý mến ở nơi ông. Nội cách ăn mặc, áo bốn túi, bỏ ra ngoài, cái mũ phở, đi đôi dép nó như thể hiện nơi ông một nghệ sĩ hơn là một ông giáo nghiêm nghị.

Ông xuề xòa, nhếch nhác với bạn bè, nhưng lại nghiêm khắc với chính mình. Vợ con là trên hết. Giờ cơm là bỏ bạn bè thói la cà như Mai Thảo. Mai Thảo thường thích la cà ở phòng trà Văn Cảnh.

Mặc dầu giữa Mai Thảo và Nguyên Sa khác biệt nhau nhiều chẳng những dưới góc cạnh văn học như quan điểm của Sáng Tạo là loại trừ Tiền chiến. Nhưng trong quan hệ bạn bè, Trần Bích Lan, Nguyên Sa vẫn là những bạn bè. Nguyên Sa vẫn dùng chiếc xe hơi con cóc của mình chở Mai Thảo chỗ này chỗ kia. Tôi thật ngạc nhiên khi biết Nguyên Sa từng đón Mai Thảo đến chỗ trọ của của nữ sĩ Cẩm Nhung, chờ Cẩm Nhung thay quần áo đến quán nhảy. Và một lần, khi Cẩm Nhung bị bà Trung tá Thức, vợ một sĩ quan ghen tuông một cách vô lý, tạt át xít, rồi phải ngồi ăn xin ở lề đường.

Nguyên Sa lại một lần nữa chở Mai Thảo đến đó. Mai Thảo lặng lẽ bỏ một gói tiền vào nón của Cẩm Nhung. Cẩm Nhung qua đôi mắt mù lòa vẫn cảm nhận được người đó là ai.

Thật cảm động giữa nỗi thống khổ của một mối tình bất hạnh và lặng câm, nhưng vẫn đậm đà tình người và tình bạn sâu xa giữa hai nhà văn. Thật không dễ cho bất cứ ai làm được điều đó. Không dễ tí nào.

Trong chỗ riêng tư, Nguyên Sa đối với đàn em đồng nghiệp như bạn bè, chia xẻ và chỉ bảo. Cũng không dễ tí nào trên thực tế.

Và sau đây, xin nhường lời cho Nguyễn Văn Trung trong Nhận Định X : Nguyên Sa một người bạn.

« Nguyên Sa vừa nằm xuống, từ giã vĩnh viễn bạn bè trong nước, ngoài nước. Chúng tôi là bạn khi về nước cùng dạy Triết ở trung Học, Đại học. Tôi viết bài cho những tạp chí do Nguyên Sa phụ trách như Hiện Đại, Gió Mới. Nguyên Sa viết cho những tạp chí Đất Nước, Trình Bày.

Hoặc cả hai cùng cộng tác với Mai Thảo đặc biệt những số đầu của Tạp chí Sáng Tạo. Mai Thảo cũng vừa nằm xuống vài tháng trước Nguyên Sa. (…)

Nghĩ đến Nguyên Sa, kỷ niệm sâu đậm nhất, tiêu biểu phong cách của Nguyên Sa hơn cả là thái độ của Nguyên Sa đối với bạn hữu, tôi không dùng từ ngữ bạn bè cố ý nhấn mạnh vào tính cách không bè phái trong quan hệ giữa Nguyên Sa và các bạn văn, nhà giáo của anh… (..) Trong sinh hoạt viết sách báo, cố gắng tránh đề cao, xưng tụng lẫn nhau. Ngay cả dè dặt thận trọng giới thiệu tác phẩm của nhau. (…) Nguyên Sa không gây sự với ai. Nhưng nếu ai gây sự với anh, với những người anh coi là bạn và nếu anh thấy những người đó bày tỏ thái độ phê phán, đả kích với những ý đồ đen tối, bất chính, bằng một lối chụp mũ, vu khống, mạ lỵ hạ cấp, anh phản ứng.

(…) Tôi nói chuyện với đề tài : Luân Lý vă văn học. Tờ Văn Đàn lên tiếng tố cáo tôi chủ trương một văn học phi luân. Nguyên Sa lên tiếng trong «Hiện Đại» số 6 tháng 9/1960 ở trang bìa. Nguyên Sa làm như Francois Mauriac, một nhà văn nổi tiếng lúc đó thường bày tỏ quan điểm của mình ở trang cuối tuần báo Express ở Pháp. Nguyên Sa viết trong «Khuôn mặt thời gian» trang 6. : «Vào một buổi tối tháng 7 trời mưa. Nguyễn Văn Trung đã nói chuyện tại một câu lạc bộ. Tôi không tường thuật buổi nói chuyện ấy trên mặt bìa này. Cũng không phê bình. Tôi chỉ muốn nói đến ý nghĩ : Cuộc nói chuyện đã ném vào tôi một xúc động lớn. Nguyễn Văn Trung thuộc vào số người ít ỏi của thế giới này dám nói lên ý nghĩ chân thành của lương tâm, nói lên điều cần nói, điều phải nói. Nói lên dù biết chắc chắn sẽ gặp áp lực trở ngại, dù sẽ bị xuyên tạc, phỉ báng, lăng mạ, đâm vào lưng bởi một loại bò sát quen trốn tránh sự thật…

Gần 10 năm sau, xảy ra vụ khủng hoảng trường đại học Văn khoa Saigon trở thành một biến cố thời sự được phản ánh rộng rãi cả tháng trên các tạp chí, báo hàng ngày thời đó.. Tôi là bị cáo chính trong vụ này bắt nguồn từ ý định cải tổ một trường Đại Học bị nhiều mâu thuẫn chi phối : tiến bộ/bảo thủ, thân cộng/chống cộng, công giáo/ Phật giáo. Nam/Bắc và Khoa bảng/học giả.

Nguyên Sa được giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch mời dạy và ở trong ban Triết học do tôi làm trưởng ban. Khi tôi thay giáo sư Hoạch, dĩ nhiên tôi vẫn tín nhiệm Nguyên Sa..(…) Đơn giản chỉ thế thôi. (…) Nguyên Sa cũng bị tố cáo là không đủ bằng cấp để dạy đại học. Và Nguyên Sa đã lên tiếng… Anh gửi một thư từ chức cho Khoa Trưởng ĐHVK Sài gòn đăng trong báo Hòa Bình 2/12/1969 trong mục do Kiều Phong phụ trách…

( Bản thân, tôi còn giữ được bản đánh máy của Kiều Phong trên báo Hòa Bình đề ngày 2-12-1969 với nhan đề : Buồn vui với bạn đọc. Cuối trang có ghi chú Lời tòa soạn : 9/10 Gs Văn Khoa không có bằng tiến sĩ. Thí dụ Ông Bửu Cầm, nhà văn Vũ Khắc Khoan, thi sĩ Đông Hồ.

Đó là những dòng chữ để lại về tình bạn của Nguyên Sa. Xin ghi nhận lại như thế. Trích trong Tuyển tập Nguyên Sa ( 1956-1975. Rời bỏ nền Văn chương trú ẩn không tiện đăng hết)

Hành trình tới đạo Thiên Chúa giáo của Nguyên Sa từ một chứng từ trong bài viết : Kính mừng Maria

Bản thân người viết bài này có thể không mấy khó khăn khi viết về văn học, báo chí, triết lý của Nguyên Sa. Nhưng viết về tín ngưỡng tôn giáo- dù là thân thuộc- cũng thấy quả là không dễ.

Vì nó thuộc niềm tin của một người.

Và trong nhiều năm trời, kẻ viết bài này cũng không hề lưu tâm tới vấn đề này. Và tự thâm tâm thấy không là điều thiết yếu trong việc tìm hiểu. Nhưng nghĩ cho cùng, nghĩ tới cuộc đời tác giả thì phải chăng nó lại là điều căn thiết nhất ?

Trong bài viết của Nguyên Sa nhan đề : Kính mừng Maria, ông viết nửa như dỡn đùa, nghịch ngợm thời nhỏ đi học, thập niên 1940, ở Hà Nội. Nó cho ta có cảm tưởng như từ vô thức trở thành ý thức. Từ bên ngoài mà từ lúc nào đó thẩm nhập vào bên trong. Và từ những kinh nghiệm bản thân qua những chuỗi khó khăn của cuộc đời, nó trở thành niềm xác tín không hay. Tôi không giải lý và cũng không biết được điều gì của chính tác giả đi từ điểm A đến điểm B.

Chỉ xin ghi lại một mảnh trong kiếp phù sinh của tác giả. Và nhất là cả bà Nga, phu nhân của tác giả nay cũng trở thành tín đồ nhiệt thành.

Phải chăng đó là những kinh nghiệm siêu hình bắt chợt được trong cuộc hành trình dương thế ?

Câu hỏi như thế đã ngầm ý câu trả lời.

Hồi đó, ông học lớp nhì A, trường Việt với các Sư Huynh « Đờ Ni » ( Denis), ông này có một miếng vải trắng đeo trước ngực, bị gọi đùa là cái yếm. Sư huynh dùng thước kẻ để phạt. Ông bắt úp tay xuống đàng hoàng rồi mới khõ. Không thuộc bài, ba quả. Không thuộc giáo lý, năm quả. Đánh nhau, 10 quả. Ông còn kể lại : Bố ông xin cho ông vào trường Puginier vì « vì mày cứ đánh nhau suốt ngày, phải cho vào trường « phe » để các ông « phe » các ông ấy trị. »

Trước đó, ông học trường Việt, ông kể : Khi đồng minh bỏ bom, sư huynh dẫn các học sinh dắt nhau ra hầm trú ẩn. Bên đối diện là phe trường Tây. Thứ sáu nào, buổi trưa, « phe » cũng giữ Nguyên Sa lại, cũng kể « chuyện Thánh ». Mà nếu có mặt Duyên Anh sẽ kêu lên là « hay tuyệt cú mèo ». Như chuyện ông Môi-Xe dẫn đoàn lưu vong về đất hứa, ông làm ra mưa, ngăn đôi dòng sông chảy xiết. Chuyện bà thánh Ma đơ len bị ném đá. Chuyện Ba vua.. « Phe » nhắm mắt kinh khủng khi nói về Lu ci phe. Nhưng ông cười rạng rỡ khi kể các chiến thắng của các thiên thần..

Ông tâm sự về : Câu chuyện về Kinh Kính Mừng do “ phe” kể ghi những vết sâu đậm nét trong tâm hồn tôi. Đó là chuyện một anh chàng bê tha, hư hỏng, cờ bạc trai gái tội lỗi đầy đầu, mà toàn tội trọng, nhưng anh chàng tội lỗi này tối nào đi ngủ cũng đọc ba kinh Kính Mừng. Bạn của chàng này cũng hư hỏng không kém. Kinh Kính mừng không đọc bao giờ. Còn anh thứ nhất, sau những cuộc truy hoan trở về nhà, dù mệt mỏi đến đâu, anh cũng mắt nhắm, mắt mở đọc xong ba kinh Kính Mừng rồi mới đi ngủ. Cả hai bị nạn và ngắc ngoải. Anh tội lỗi không đọc kinh chết ngay ít phút sau đó, không kịp cha đến làm lễ giải tội cuối cùng. Anh đọc kinh Kính Mừng được ơn lành cửa Đức mẹ đồng trinh nên khi Cha đến giải tội anh còn sống. Anh lên thiên đường đương nhiên. Còn anh kia hỏa ngục đời đời. Sư huynh Denis ngồi với tôi trưa thứ sáu, khi các bạn đã về hết, ông cầm lấy tay tôi, ông đọc trước, tôi lập lại : « Kính mừng Maria đầy ơn… phước » ông đọc Đức Chúa Lời ở cùng bà… « Tôi đọc lại : « Đức Chúa Lời ở cùng Bà… »

Sau này, sư huynh Denis “xuất” năm 1945, rồi đi vào Nam trong đoàn quân Nam tiến để tổ chức “chống” Pháp. Khi về hưu, “phe” (frère) lúc đó đã già lắm, tóc rụng gần hết, gần như liệt, về sống ở Hạnh Thông Tây và qua đời tại đây. Trước đó, một anh bạn học cũ lớp Nhì A, trường Puginier Hà Nội vào năm 1960 thường quyên góp tiền bạn bè cũ để giúp đỡ “phe”. Tôi cũng đóng góp vui vẻ.

Ông nhớ lại, chính “phe” Denis dạy Trần Bích Lan (Nguyên Sa) kinh Kính mừng. Và khi biết tin “phe “ qua đời, Nguyên Sa đã tìm một góc tối đọc ba Kinh Kính mừng cầu xin Ơn trên cho “phe”.

Ông nhớ lại, khi chuyến bay C141 bắt đầu lăn khỏi phi đạo Tân Sơn Nhứt cách đây hơn 8 năm. (Tôi còn nhớ gặp Nguyên Sa một hai Tuần trước biến cố 1975. Sau đó lần sau đến trường Văn Học, trường vắng hoe. Người gác trường cho biết, ông Lan và gia đình đã rời VN rồi. NVL)

Tiếng động cơ vang động, những rứt bỏ đứt ruột, tôi cất tiếng “Kính Mừng Maria”. Khi chiếc phi cơ di tản đã ở trên trời cao, vợ tôi cầm tay tôi hỏi: “ Hồi nãy , anh đọc cái gì thế?”. Tôi trả lời: “ Anh đọc kinh” “ Kinh gì thế?” Kinh Kính Mừng.. Vợ tôi trợn tròn mắt kinh ngạc hỏi : Kinh đó anh học từ bao giờ. Tôi không trả lời những câu hỏi lặng câm. Tôi chậm rãi đọc: “Kính mừng Maria đầy ơn phước.. “ Đức Chúa Lời ở cùng Bà..” “ Đức Chúa Lời ở cùng Bà.” Vợ tôi nhắc lại, với ngạc nhiên, mỗi lúc lắng xuống ’ Kính mừng Maria đầy ơn phước..”

“ Đức Chúa Lời ở cùng Bà…” “ Đức Chúa Lời ở Cùng Bà..”

Khi tôi ngó xuống, đảo Guam đã hiện ra phía dưới. (Gia đình Nguyên Sa ghé qua đảo Guam, sau đó chọn lựa đến Pháp. Ông ở lại Pháp 3 năm, sau đó quyết định dọn về ở California cho đến cuối đời. NVL)

Câu chuyện Nguyên Sa chỉ là những cảm nghiệm riêng mà người Thiên Chúa giáo có thể dễ dàng chia xẻ. Sau đây, xin ghi lại ít dòng về cảm nghiệm tôn giáo của Nguyên Sa, trích trong cuốn sách của tác giả Nguyễn Đức Tuyên: Hành Trình Đức tin. Những trường hợp vô đạo Chúa. 2014.

Trong một bài thơ có tên Mật Khẩu mà nội dung có vẻ như Nhân cách hóa Thượng đế thường đến với ông bất chợt.

Ngày nào Thượng Đế cũng tới

Giờ khắc bất định

Nhưng ngày nào ông cũng tới ít nhất một lần

Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra

Thản nhiên bước vào trong

Tôi không biết ông đi vào tim

Hay ông đi vào phổi…

Nhận xét: Cảm thức về Thượng đế như thế một con người quyền uy chợt đến, chợt đi… Đó là cảm nghiệm của riêng từng người. Mỗi người chia xẻ một cảm nghiệm con đường dẫn đưa tới Chúa. Tuy nhiên, từ lúc làm bài thơ này đến lúc ông quyết định chịu phép Thánh tẩy, thời gian kéo dài trong bao lâu?

Chỉ biết rằng, theo lời kể lại của linh mục Phạm Ngọc Hùng, cha xứ tại thánh đường Polycarp, Orange, California. Cha nhớ lại, vào buổi tối khuya, một thanh niên đến gõ cửa xin linh mục đi làm phép Thánh Tẩy cho một bệnh nhân muốn tin nhận đạo Chúa. Sau đó, vị linh mục được biết đó là con trai của Nguyên Sa, một bác sĩ.

Khi đến nơi, nhìn thấy họ hàng, bạn bè quây quần chung quanh. Linh mục đã nói với Nguyên Sa:

“Thưa bác, bác còn đang yếu, xin bác cứ ngồi trên ghế để con cử hành nghi thức Thánh Tẩy cho bác.”

Nhà thơ trả lời: Để tỏ sự kính trọng đối với một bí tích, xin cha cứ để con quỳ xuống, không sao.

Trong lễ nghi an táng nhà thơ Nguyên Sa, có linh mục Thomas Đỗ Thanh Hà và linh mục Vincent Phạm Ngọc Hùng cùng các quý cha, quý nam nữ tu sĩ , các Ban chấp hành cộng đoàn, các đoàn thể, các ca đoàn, các quý quan khách, quý vị văn nghệ sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Phải nói, cuộc đời thi sĩ Nguyên Sa là một đời sống trọn vẹn. Trọn vẹn với gia đình, với vợ con, với bạn bè trong suốt cuộc đời làm đẹp cho đời và tranh đấu dấn thân cho xã hội, cho đất nước.

Bài này như một tưởng nhớ của một thế hệ đàn em đối với ông, một thế hệ đàn anh mà sau này trở thành mẫu mực cho cả một đời và cho cả một thời.

Nguyên Sa của một đời và của một thời.

Nguyễn Văn Lục

Posted in Thân Hữu | Comments Off on Nguyễn Văn Lục- Nguyên Sa của một đời và của một thời- Nov 13, 2 021

Vào Chùa Ghẹo Tượng- Dec 29, 2021

VÀO CHÙA GHẸO TƯỢNG

Hôm trước "Bà Tổng" HLC post vài hình của thuở "Vào Chùa Khoe Nhan Sắc" vì đọc mấy câu nhắn nhe của Thuyvi. "Con ranh" này dám nói "vào chùa khoe nhan sắc thì chỉ có Thị mầu thôi".

Hứ, "Bà Tổng" HLC đây làm sao mà là Thị Mầu được. Bằng cớ là bà chị của Thuyvi nghe và ngắm hai ông thầy rất đẹp giai là ông Minh Niệm và ô Pháp Hòa mà lòng "Bà Tổng" HLC đâu có ‘xao xuyến’ gì đâu hè ( cười).

Hai ông thầy này đẹp giai hết xẩy con cào cào các bác ạ. Đàn ông gì mà mũi cao, thanh tú, mắt to hai mí và miệng như trái tim, viền môi rât rõ, da mặt thì mịn màng. Thiệt tình phụ nữ còn thua xa. Thấy mà ghen tị với nhan sắc của hai ông thầy chùa này ghê đi. Trở lại, "Bà Tổng" HLC hồi 41 t chỉ vào sân chùa mượn cảnh để chụp hình thôi chứ không vào trong chùa kiếm sư để dụ dỗ nên HLC không thể là Thị Mầu được.

Còn nếu ghẹo thì câu trả lời là có nhưng không ghẹo sư mà là ..ghẹo La Hán. Ngon chưa? Ghẹo tới mấy ông La hán á.

Chuyện là thế này, năm 2010, "Bà Tổng" HLC qua Montreal Canada vì gia đình ruột ở bển. Nhỏ em cho đi chùa Đại Tùng Lâm. Bản tính "bà chằng" có lẽ ưa nghịch ngợm nên năm đó già rồi mà nổi hứng đứng trước tượng múa theo tay chân mấy ổng nhưng làm ngược lại.

Cũng hên là mấy vị này hôm đó chắc về VN chơi nên "Bà Tổng" HLC không bị ông nào quở cả. HLC về nhà bình an vô sự rồi "Bà Tổng" HLC về lại Mỹ cũng vô sự bình an.

Chưa hết, về Mỹ và move qua CA thì lại đi chùa ghẹo tượng ở Chùa Đài Loan!

Đây 2015 đi chùa Đài Loan ở CA và lại ghẹo tượng. Ổng làm tư thế gì là "Bà Tổng" HLC bắt chước theo!

Sau khi ghẹo tượng xong thì lạy Phật rất ngoan

Vừa ngoan xong, ra về thì lại nghịch múa hai quạt

May là qua Brisbane đi lễ chùa rất ngoan, không ghẹo tượng nữa.

Xuân Lan ơi, người chị mà em ái mộ là thế đấy. Viết văn thơ thì rất lãng mạn, viết thời sự "bụp" người ta thì bén như dao mổ cau, vào chùa thì ghẹo tượng nhưng rất ngoan vì là Phật tử Diệu Hiền kia mà.

Anh ơi, em biết là anh rất mộ đạo. Ngày tết nào anh cũng đi đủ 10 kiểng chùa. Năm nào cũng khấn cho em. Tiếc là không có tết nào anh đưa em đi lễ chùa được nhỉ. Nghìn trùng xa cách.

Hoàng Lan Chi

12/2021

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Vào Chùa Ghẹo Tượng- Dec 29, 2021

Reply all một mail, Sáng sân khấu, Nhớ Nguyễn Đức Quang, T háng may mắn- Dec 5, 2021

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

Reply all một mail-Sáng Sân Khấu- Tháng may mắn-Nhớ Nguyễn Đức Quang

REPLY ALL

Từ hai năm nay tại các diễn đàn khi trả lời một e mail nào đó, tôi hay viết REPLY ALL ở subject và cả trong thân email. Tôi muốn ám chỉ đó là tôi " không cố ý gửi cho người A,B,C" ( có thể tôi không thích A,B,C) mà chỉ là do Reply ALL để cho vấn đề được rõ. Cả khi gửi mail cho một nhóm người nào đó, tôi cũng cho biết list mail đó là của ai.

Cũng như tôi là người dùng hai chữ thổ tả để nói về Dân Chủ từ trước 2016. Người Bắc 54 dùng chữ đó khi khinh bỉ cái hành động bẩn, dơ của một ai đó. Tôi còn nhớ Huỳnh Quốc Bình khi phỏng vấn BĐQ Đoàn Trọng Hiếu, ô Bình có nêu thắc mắc ( bà Hoàng Lan Chi hay dùng Dân Chủ thổ tả vậy thổ tả có nghĩa gì) và ô Hiếu có giải đáp "thổ tả có nghĩa là gì". Một vài người dùng theo và bây giờ thì những người ủng hộ CH-Trump đa số đều gọi Dân Chủ thổ tả. Nghe nói fans của Dân Chủ thổ tả nghe nói họ vậy, họ tức lắm thì phải.

NHỚ DU CA NGUYỄN ĐỨC QUANG

Khoảng 2004-Virginia

Hôm qua tôi lang thang Facebook. Gặp một bài viết về "Bình Đông" và tên tác giả "Nguyễn Minh Nữu" làm tôi thấy "quen" lắm mà không nhớ ra. Tôi thử theo link đến "main profile" coi là ai. Hóa ra ở Virginia. Tôi phải xem thêm một chút về các bài đăng ở Facebook của Nữu để có thể "nhận dạng tiếp" người này là ai ở VA. Vì thế tôi đọc được một bài của Nữu viết về nhạc phẩm "Hát trên đồi Arlington" của Nguyễn Đức Quang. Tôi để comment. Thật ra sau đó gú gồ thì tôi được biết Nữu về VN khá sớm. Vì thế hôm nay khi reply Nữu, tôi có ghi ý đại khái là tuy sắp chết nhưng tôi vẫn có sự rạch ròi về lằn ranh quốc cộng và tôi …tôn trọng SỰ KHÔNG RẠCH RÒI của người khác.

LanChi Hoang

Tuổi già làm tôi quên nhiều. Ở trang Văn Chương Miên Nam mới có một bài của Nguyễn Minh Nữ. Tôi thấy tên Nguyễn Minh Nữu quen lắm mà không nhớ là ai. Theo main profile thì ra ở VA. Có lẽ tôi "thấy tên quen" là do thời gian tôi ở VA chăng?

Nhưng tôi ghi comment là vì khi vào nhà ông NMN thì tôi gặp bài này. Bài nhắc tới Nguyễn Đức Quang 2004.

Khi Quang đến VA, tôi là người phỏng vấn Quang đầu tiên. Trước 75, tôi ưa thích một số bài của Quang trong đó có bài : Không phải là lúc"

Với tôi, Quang bình dị và rất sôi nổi. Ấn tượng tôi nhớ mãi là khi tôi hỏi về già thì Quang có hay chuyển hướng sang nhạc Phật hay Chúa gì đó không thì Quang cười lớn. Đại khái ý Quang nói, không bao giờ Quang có những giòng nhạc như thế. Nhạc của Quang lúc nào sẽ tràn trề yêu đời như thời trước 75. Đại khái tôi nhớ thế. Vì thế, khi Quang mất, Quang mất vậy là "hơi trẻ" so với thời bây giờ, tôi có chút bỡ ngỡ. Vì tôi ngỡ Quang sẽ thọ đến ngoài 90!

Minhnuu Nguyen THưa chị. TRí nhớ của chị còn rất minh mẫn, Đúng là ngày xưa khi chị ở VA, chúng ta có gặp nhau. Lúc đó có thể là do chưa có duyên, nên chỉ chào hỏi mà không chuyện trò nhiều. Tôi nhớ, có lần, tại Khu thương mại Eden. tôi (chủ nhiệm báo Văn Nghệ) và Trần Nghi Hoàng (chủ nhiệm báo Lẽ Phải) đã gặp chị, Chị được ai đó giới thiệu để tìm gặp Trần Nghi Hoàng. Chúng ta có đứng nói chuyện gì đó , tiếc là , không có dịp chuyện trò thêm, nhưng cái câu chị tự giới thiệu là cựu Nữ Sinh Trung Vương và đang viết phóng sự…thì tôi nhớ. Kính chúc Chị an lạc.

LanChi Hoang : chi tiết anh kể thì tôi xin đính chính:

1) Tôi không có ý định làm quen Trần Nghi Hoàng. 2004, khi đến Boston tham dự buổi ra mắt sách của 5 người tại nhà Phan Xuân Sinh ( rất đông văn nghệ sĩ tham dự. Năm đó Trần Trung Đạo gọi tôi và nhờ Đinh Quang Trung ( Phó Giám Đốc Đài VNHN) đưa tôi đi dự vì biết tôi viết bài từ khi tôi còn ở VN). Tại đó có biết hai vợ chồng Hoàng vì họ ngồi cạnh tôi ở bàn tiệc. Thư Viên VN của Tâm Vô Lệ khi ấy rất thích Hoàng vì Hoàng chống cộng rất hay!!!! Ai dè khi VC tung nghị quyết 36 thì Hoàng xách đ.. về VN rất sớm!

2) Tôi là cựu nữ sinh Gia Long. Không phải Trưng Vương.

Chúng ta giờ già. Chờ ra đi. Tuy thế, lòng tôi khó thay đổi. Nhất là về lập trường, về "lằn ranh quốc cộng" và bây giờ là "lằn ranh CH-DC". Dù sao cảm ơn và cũng xin chúc anh sức khỏe, vẫn đi theo con đường anh đã chọn

SÁNG SÂN KHẤU

Như từng viết tôi là người THÍCH ĐỦ THỨ. Tôi nghe tân và cả cổ nhạc, cải lương, hồ quảng…Vì vậy tôi cũng "khá rành" các nghệ sĩ cải lương đó nghe. Tôi thấy giới này dùng chữ "sáng sân khấu" để ám chỉ một nghệ sĩ có gương mặt "ăn đèn" nghĩa là rất đẹp trên sân khấu. Thời chúng tôi còn bé thì "manger photo" hay được sử dụng vì là Pháp Thuộc vừa chấm dứt để chuyển qua đệ nhất Cộng Hòa. Dịch sang VN thì chúng ta hay dùng "ăn ảnh".

Trở lại, người "sáng sân khấu" nhất theo tôi có lẽ là cô đào Lệ Thủy. Thanh Nga đẹp sẵn, Mộng Tuyền cũng vậy nên họ sáng sân khấu là chuyện đương nhiên. Nhưng hãy nhớ lại hai cô đào xuất hiện cùng thời là Mỹ Châu và Lệ Thủy. Cả hai trạc tuổi và cả hai đều là đào chánh cho sân khấu Kim Chung ( không nhớ nổi Kim Chung mấy). Dưới mắt tôi thời ấy, Mỹ Châu có "nét đẹp" hơn Lệ Thủy nhưng càng ngày Mỹ Châu càng lu mờ và Lệ Thủy thì ngược lại. Sau 75 một vài năm, sự chênh lệch thấy rõ hơn. Mỹ Châu coi xấu đi nhiều vì nét bị đổi và khuôn mặt luôn " u ám". Trong khi đó Lệ Thủy sửa sắc đẹp rất hạp, rất khéo và luôn tươi tắn. Nhìn Lệ Thủy là thấy "sáng trưng", thấy "rạng rỡ".

Tìm hiểu thêm sẽ thấy đời sống gia đình hai người khác nhau xa. Mỹ Châu không có may mắn về đời sống hôn nhân như Lệ Thủy. Lệ Thủy có lẽ rất hạnh phúc nên mọi cái hạnh phúc ấy đều tỏa sáng trên khuôn mặt Lệ Thủy.

Dường như ông xã Lệ Thủy là kỹ sư. Một ông chồng khoa bảng trí thức không phải trong giới nghệ sĩ. Có lẽ đó là may mắn cho Lệ Thủy. Chớ nếu Lệ Thủy mà lấy Thành Được hay Minh Vương gì đó thì ..tiêu tùng đời hoa (cười).

Thế thì đúng như tôi vẫn viết: người con gái trở thành thiên nga hay quạ cú, trở thành bà tiên hay bà chằng: tất cả là lỗi ở Thượng Đế khi ngài đặt bên cạnh họ một loại đàn ông không phù hợp!

THÁNG MAY MẮN

Tháng vừa qua khá may mắn.

May mắn vì vài người "khá" ở Facebook đã làm quen tôi và sau khi test (vắn tắt cho tôi biết, bạn có ủng hộ Tổng Thống 45 Trump không? Nếu có tôi sẽ accept! Đó là câu tôi hỏi những người bạn Facebook mới khi họ muốn xin kết bạn) thì may ghê. Toàn là "cùng chiến tuyến chống Dân Chủ thổ tả"! Thời bây giờ, không phải là quốc gia-cộng sản mà còn là CH-DC!

Già rồi. không thích cải tạo ai hết. Dân Chủ thổ tả thích thổ tả thì cứ thích. Chúng tôi không thích. Chúng tôi viết bài chung chung nêu những cái thổ tả của Dân Chủ thổ tả. Ai khôn thì biết đọc hai chiều. Ai ngu chỉ đọc một chiều: mặc kệ.

CÂU COMMENT HAY NHẤT VỀ CHRIS CUOMO

Tôi làm banner này. Jackie cho comment. Tôi bảo đó là câu comment hay nhất về Chrish Cuomo

KIỀU CHINH-NGHỆ SĨ VỀ VN MÀ DÁM TỰ XƯNG LÀ LƯU VONG RA MẮT SÁCH Ở QUÁN PHỞ TẠI TORONTO

Xưa, tôi không thích Kiều Chinh vì không hạp cái nhanh sắc ấy. Với tôi đó là xấu vì gò má cao, mặt lạnh lùng. Tôi cho rằng Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga, Minh Hiếu, Kim Vui… đều đẹp hơn.

Nay, tôi chỉ trích vì Kiều Chinh về Hà Nội rồi tuyên bố theo kiểu ( xóa hận thù). Mấy năm trước, Kiều Chinh còn "móc nối" Ngô Thanh Vân-Vợ Tạ Đức Trí để cuối cùng sự nghiệp của Trí tan tành.

Đó, VC nằm vùng, VC móc nối là hao hao hành vi của bà Kiều Chinh

Bà KC về VN tự do, chả bị cái gì mà dám ra sách với tựa đề " Nghệ sĩ lưu vong". Lạ nhỉ? Bạn thân của Kiều Chinh là vợ chồng Nhã Ca- Trần Dạ Từ, là KTG Nguyễn Xuân Nghĩa. Vậy tại sao họ không cố vấn cho Kiều Chinh? Lưu vong là khi BỊ CẤM KHÔNG ĐƯỢC VỀ CỐ QUỐC. Bà đâu có bị cấm? Báo trong nước còn viết về bà, khen bà kia mà.

À mà hai vợ chồng Nhã Ca bây giờ mà. Đâu phải ngày xưa. Đâu phải cái thời bà Nhã Ca chít "Giải khăn sô cho Huế".

Thế đấy.

Hoàng Lan Chi

12/2021

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Reply all một mail, Sáng sân khấu, Nhớ Nguyễn Đức Quang, T háng may mắn- Dec 5, 2021

Vào Chùa Khoe “Nhan Sắc” 1990- Dec 25, 2021

https://www.facebook.com/lanchi7/posts/10228411927424650

VÀO CHÙA KHOE “NHAN SẮC”

Một anh bạn phán "Chắc kiêp trước bà phá không cho thầy chùa tu nên kiếp này bị đọa". OK, cũng có lý.

Kiếp này vẫn vào chùa nhưng không phá thầy chùa mà …khoe "nhan sắc".

Năm ấy, 1990, "Bà Tổng" HLC vào chùa trong rừng nhỏ ở Thủ Đức, đem theo một lô áo quần, bông tai và cứ thế chui vào phòng tắm của nhà chùa thay xiêm y!

Sở dĩ có hứng viết bài này vì Nhỏ Thuyvi viết trong một stt của Vi có bài thơ " Có một người không thích màu "rêu biếc", cũng chẳng chịu rêu đen thì rêu… vàng cho bõ ghét. Tặng rêu… tím Quỳnh Giao" nên HLC đi tìm áo rêu.

Khi tìm ra được áo rêu thì nhớ một thuở "vào chùa khoe nhan sắc"! Thay đổi xiêm y, kiểu tóc, bông tai, cả kiểu trang điểm, vẽ mắt kiểu khác nhau nữa! Phong cảnh ngoài chùa đẹp vì chùa nằm trong một khu rừng thưa.

Đấy, ngày xưa "Bà Tổng" HLC cũng "điệu" ghê lắm cơ. Nhờ ơn vc và việt gian với Dân Chủ thổ tả, "Bà Tổng" HLC điệu có thêm tên "bà chằng"!

Đây, tìm được những áo màu rêu, vàng, trắng, cánh sen.

Còn nhiều nữa nhưng thất lạc rồi. Trời, ngày ấy đã hai con, đã 41 tuổi mà sao điệu dữ há các bác. Thế mới nói " Vào Chùa Khoe Nhan Sắc". Kiếp sau chắc bị đọa tiếp quá!

Thấp thoáng phía sau tà áo ấy

Dáng Phật trang nghiêm rất hiền hòa

Em vẫn là em ngày xưa đấy

Gia Long một thuở áo kiêu sa

Xưa, đi học bằng xe hiệu đoàn, có những ngày phải ở lại chờ các chị lớn học thêm nên hay qua chùa Xá Lợi quỳ trước Phật Đài. Vì thế mới chọn chùa vắng trong rừng thưa để thay đổi xiêm y chụp hình làm kỷ niệm!

CÁC COMMENT TRONG FACEBOOK

Jackie Huong Thời con gái, chị HLC xinh đẹp và điệu quá!

LanChi Hoang : con gái ai cũng đẹp thì phải?!! Già rồi, ngó chán quá em ơi!

Dan M Tran Jackie Huong thời nay vẫn điệu lắm đó chị Jackie ơi!

Nhung Tran Cô đẹp quá chừng!

LanChi Hoang : 1990, VN mới mở cửa ít lâu và "bà chằng" điệu vậy đó Nhung. 40-45 ký thì phải. Bây giờ 55-56 ký. Giời ơi!

Nhung Tran : Cô giáo đi dạy như vầy học trò mê lắm!

LanChi Hoang : 1990 "mất dạy" rồi. Nhưng 1971, ra trường đi dạy thì đúng là học trò mê lắm lắm. Cả nam và nữ. Tiếc cái là hồi đó sao ngu dữ. Không biết chụp hình lưu lại ta ơi. Cô giáo vào lớp mà cứ rực rỡ như ca sĩ, đám con gái học trò lớp 8 và lớp 10 cứ ngẩn tò te! Con trai lớp 10 thì có tên mê cô như điếu đổ! Cô giáo điệu nhưng dạy hay lắm. Rất tận tâm.

Nhung Tran : Với cá tính của cô thì chắc chắn là giáo viên tận tâm rồi, lại còn đẹp nữa, học trò lác mắt hết trơn!

LanChi Hoang Nhỏ Nhung tâm lý cũng khá ghê há. Đoán đúng. (Với cá tính của cô…). Đúng vậy, cá tính là " làm cái gì cũng phải "ngon" phải bằng hay hơn người khác mới được !!! Luôn hết mình với nghề nghiệp. Không bao giờ để lương tâm cắn rứt. Do đó cô giáo dậy hay có tiếng. LM Giám Học phải "thỉnh" cô giáo trẻ măng, 22t, đến trị một lớp 10 "ngỗ nghịch".

ThuyVi Le "Vào chùa khoe nhan sắc" thì chỉ có.. Thị Mầu. Giờ mới đọc hết, lại còn có màn vô chùa thay đổi xiêm y các kiểu thì…Thôi để thầy Pháp Hòa nói đi. Quá quắt kiểu này thì chỉ có Nguyễn Đức Sơn dám thôi."Pháp tính không, pháp tướng không.Sao ni cô lén nhìn tôi đứng tồng ngồng. Giữa vườn trăng vắng "(thơ NĐS)

LanChi Hoang ThuyVi Le : Quỷ nà

Victoria Tran ThuyVi Le, Khoái câu bạn nói.Thôi để thầy Pháp.Hòa nói đi.Haha

LanChi Hoang Victoria Tran : thì em đi hỏi thầy Pháp Hòa đi.

Khắc Trung Cháu cứ tưởng diễn viên điện ảnh nào hồi xưa chụp ảnh lịch không hà.

LanChi Hoang khéo nịnh hén

Victoria Tran Vào chùa làm vậy có tội không kkk?

LanChi Hoang Tội gi mà tội. Chùa ở trong. Ta ở ngoài. Ta lấy cái phong cảnh của chùa làm nền cho ta khoe nhan sắc. Đừng nghe con Thuyvi nói. Nó là con yêu tinh!

Dan M Tran vào chùa kheo nhan sắc thì không tội vi đó là cách xét nghiệm thiếu sư nào không bị dụ dỗ mới được phong là sư!

LanChi Hoang : sao em nỡ giao phó một trách nhiệm kinh như thế cho chị Hai. Ta là Phật Tử Diệu Hiền đó à nha

Phạm Thắng Vũ Khi đó nhân sắc chị đẹp đó chứ dù ảnh chụp xa.

LanChi Hoang : giời ơi, 1987 nè, dung nhan nhìn gần:

Phạm Thắng Vũ Đẹp đấy chứ. PTV khen thật tình. Đã đẹp lại còn viết lách được nữa. Quá hay chứ thông thường các mợ trông đèm đẹp thì đầu óc rỗng tuyếch hà.

Chúc chị luôn trẻ, vui.

Tuoc Dang May mà chị không để lại cái áo đó, nếu không thì…

Chiếc áo ngày xưa chị thay đó

Vẫn thấy bay bay trước cổng chùa

Merry Christmas tới chị và giá đình.

LanChi Hoang Tuoc Dang : thay nhiều áo quá mà em, tìm ra được 4 tấm 4 áo mà thôi.Ờ mà em cũng hay. "Ta vẫn thấy áo nàng bay trong sân chùa ngày ấy! Hạt bụi nào vương mãi tận bây giờ". Thật ra khi chị chui ra chui vô cái phòng nhỏ ngoài sân ( có lẽ chùa xây cho bá tánh dùng) chị có gặp một chú tiểu. Chú ấy còn trẻ lắm. Cỡ cháu mình. Làm gì ở đó chị quên rồi nhưng chú có thấy chị thay áo khác. Chị có chào. Chú cũng chắp tay Nam mô. Chú có thấy người bạn chị làm phó nhòm cho chị mà. Cảnh chùa ở đây đẹp, yên tĩnh vì trong một khu rừng thưa.

Mùa Giáng Sinh an bình đến em và gia đình.

Tuan Nguyen Bà Chằng khoe sắc trên chùa/Mà sao cỏ úa, kiến ùa vào bu?!/Cần thêm bác sĩ thầy tu!

LanChi Hoang Muốn "bụp" quá. Tại sao cỏ lại úa? nói xỏ hả? "bà chằng" có bị "tiểu đường " đâu mà kiến bu! Bác Sĩ thầy tu là sao ta. Ngẫm nghĩ. Một Bác Sĩ đi tu. Hay là một thầy tu cởi áo làm Bác Sĩ?

TC Chau trời … hồi nẵm chị cũng nhí nhảnh thấy “sợ” … chữ nghĩa thời trước 75 …

LanChi Hoang : "thấy sợ". À há, chữ nghĩa trước 75.Thầy Tú, Giáo sư Khoa Trưởng Khoa Học nói với Kim Phượng ( đang còn dạy ở Khoa Học) " Cô Quỳnh Giao hả? Cô ấy giống lai và tính tình thì nhõng nhẽo lắm". Em thì nói chị Hai "nhí nhảnh" Ờ, một thời xưa rất là nhí nhảnh và nhõng nhẽo với ngôn ngữ con gái Bắc Kỳ ( gì cơ, sao cơ..). Nên cũng khối người say đắm với ngôn ngữ ấy của con gái Bắc.Còn bây giờ thì ối giời ơi. Ngôn ngữ "bà chằng"!

Hoanglan Nguyen Phải công nhận Muội đẹp thiệt mà lại điệu nên đẹp quá sức

LanChi Hoang Hồi ra trường điệu lắm sư tỷ ơi. Nên đi dạy ở trường tư nào là nổi tiếng ở trường tư đó vì cô giáo mà rực rỡ như ca sĩ! Gs Nguyễn Chung Tú, Khoa Trưởng Khoa Học Sài Gòn "biệt phái" ông Hiển qua ban Vật Ký Địa Cầu "mượn" cô Quỳnh Giao về làm MC cho Đại Hội Vật Lý của Thầy nữa cơ mà. Điệu, giọng Bắc nhẹ nhàng, tính tình dạn dĩ ( dạn dĩ chứ không đanh đá quá bạo như vài chị khác). Em chỉ dạn theo đúng kiểu con nhà giáo! Bây giờ, già thì chằng nhưng sư tỷ thấy đó, nếp Gia Long và nếp nhà vẫn toát ra trong cung cách của chúng ta mà, đúng không? Mình không nói tục, không viết dơ, không chia sẻ hình ảnh-truyện khiêu dâm dơ bẩn…như một vài bạn trẻ 30t từ VN qua Mỹ sau này…

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Vào Chùa Khoe “Nhan Sắc” 1990- Dec 25, 2021

Chọn lối sống cho phù hợp thời đại @- Dec 6, 2021

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

CHỌN LỐI SỐNG CHO PHÙ HỢP THỜI ĐẠI @

Lâu lâu đọc bài "ta thán" của Phe Ta ( "Phe Ta" là những cụ trong cái giỏ Thế hệ 1 ở hải ngoại tức là cao niên từ 7 bó trở lên) thiệt là thấy lòng "não nuột" ghê. Vì thế tôi phải suy nghĩ và viết bài này. Gọi là chia sẻ ít kinh nghiệm của "Bà Tổng" HLC. Tất nhiên có người sẽ áp dụng theo và có người không áp dụng được.

Trước hết phải lược sơ vài "nỗi niềm" của ông/bà thời nay nhe:

TRÍCH: Nhớ hồi mới qua, tuổi đã cứng cạy, tui thôi, không còn mơ công danh sự nghiệp gì nữa, cày như trâu, ráng mua cái nhà thiệt bự cho con cái ở chung. Lúc tụi nó có vợ có chồng thì mình nhường phòng lại, de ra ‘garage’ mà ở. Vậy mà tụi nó đâu chịu, bồng túm nhau đi hết ráo! Chuyện rằng: ‘Nội thấy năm nào mua quà Giáng Sinh cho một đám cháu mà phải là quà đúng ý, tụi nó mới hài lòng! Thiệt là khó! Nên năm nay Nội quyết định rằng sẽ gởi cho mỗi đứa một tấm ngân phiếu. Thiệp Giáng Sinh, Nội viết: “Chúc tụi con một mùa Giáng Sinh vui vẻ. Tái bút: Hãy tự mua quà cho mình nhé!”

Sau đó, ngạc nhiên thay, không nghe đứa nào gọi điện chúc mừng lại hay trả lời trả vốn gì ráo trọi?! Một hôm, sau Tết Tây, lục trong chồng sách vở, Nội hiểu tại sao rồi. Vì Nội chỉ gởi thiệp Giáng Sinh mà quên gởi đi những tấm ngân phiếu của mình cho chúng nó! Già rồi hay quên trước quên sau là vậy đó!

Còn bạc còn tiền còn đệ tử! Hết cơm hết gạo hết ông tôi! Đời là thế! Hổng có ngân phiếu thì không Nội Ngoại gì cho nó mệt!

Ngưng trích

Thú thiệt đọc xong tôi mũi lòng chảy nước mắt tong tong. Giời ơi cái kiếp ông/bà thời @ sao mà khổ thế. Ra gara ở mà chúng nó vẫn bay đi, không cần biết cái tổ ngày xưa đã nuôi dưỡng chúng ra sao. Giời ơi chúng dạy con cái chúng kiểu gì mà "mua quà Noel không đúng ý là không hài lòng"

Nghe sao mà "não nuột" dữ vậy trời?

Đã từ lâu tôi từng biết thảm cảnh của nhiều ông/bà nhưng tôi có khuyên thì họ không nghe nên thôi để họ tiếp tục gậm nhấm nỗi buồn của họ.

Tôi khuyên họ là phải cố gắng làm quen với e-mail, với net, với youtube, với Facebook. Đừng có suy nghĩ lạc lậu là lên net chỉ để xem phim bậy, để tán gẫu vô bổ. Họ không biết nên cứ tưởng net là thế, mail là vậy. Cơ khổ. Người biết một mà không biết hai là vậy đó.

Thật ra sau này Ipad đã giúp ích rất nhiều cụ. Các con chỉ dẫn và các cụ đã biết mở Ipad để coi phim. Nhiều cụ nghe ô Pháp Hòa giảng hầu như 24/24. Nghe suốt ngày cho đỡ quạnh quẽ trong căn nhà vắng. Ipad cũng giúp nhiều mợ nail (vốn hơi dốt computer nên không biết e-mail, không biết gõ ở computer) hội nhập vào Facebook vì gõ được tiếng Việt có dấu. Vì tham gia được vào xã hội chung quanh qua Facebook, twitter, youtube , live stream nên họ không thấy "ngu ngốc" (vì đã biết được nhiều tin tức chung quanh) , thấy vui vẻ vì cũng cho được ý kiến ý cò với một vấn đề nào đó, cũng sung sướng vì qua net biết "donate" tiền cho một vụ nào đó.

Nhưng bên cạnh đấy vẫn còn nhiều cụ không chịu học nhất là các cụ bà ngấp nghé 80 hay ngoài 80. Mấy cụ này còn không biết text nữa cơ! Thiệt tình, giao thiệp với mấy cụ "cực kỳ lạc hậu" này, tôi rất mệt. Mệt vì cái kiểu cứ gọi điện thọai qua lại và cứ "vuột nhau". Mất thì giờ kinh khủng. Nếu cụ ấy biết text thi khỏe re rồi. Không gặp thì text là xong ngay vấn đề.

Chính cái "lạc hậu" đã khiến nhiều cụ rơi vào "những nỗi niềm cay đắng" như đoạn văn tôi trích ở trên. Ơ hay nếu có bạn (cũ và mới) ở net thì chia sẻ đủ thứ và cần gì lũ con hay cháu hỏi han? Chúng nói chuyện: fine; chúng không gọi: fine luôn! Mình tặng quà, nó cảm ơn: fine. Quà không đúng ý cháu, nó quên cám ơn: fine luôn. Khi đầu óc, tâm hồn, tình cảm không dành trọn vẹn cho con hay cháu thì sẽ không đau lòng trước thái độ, cư xử của chúng. Chúng cũng không muốn mình dành trọn đâu vì như thế chúng mệt lắm. Cứ hỏi thầy Pháp Hòa đi sẽ biết!

Tôi là người làm quen net rất sớm ngay từ 2000. Thuở đó đã tung tẩy lên net viết bài ( vì thích viết lăng quăng từ xưa và "lụm" vô số fans ( già trẻ trai gái có đủ). Tôi chịu khó học kỹ thuật computer từ đệ tử nên tôi có mail cũng sớm, biết làm chương trình audio phỏng vấn, âm nhạc rất sớm. Sau này tôi cũng tham gia Facebook cũng sớm luôn. Đa số người Việt già hay sồn sồn mới chỉ tham gia từ 2012 gì đó chứ tôi có Facebook từ 2009. Tôi cũng tham gia các diễn đàn yahoo hay google từ 2004.

Túm một phát là tôi tham gia các social media sớm nên tôi không bị rơi vào tình cảnh sau:

-Vò võ chờ con cháu đến thăm vào cuối tuần hay cuối tháng.

-Mất thì giờ nấu nướng và chờ vợ chồng tụi nó đến lấy đồ ăn. Có khi nó không đến lại lủi thủi ôm đồ vào cất tủ lạnh, lòng đau đớn!

-Không thì giờ để "lắng nghe con tim rỉ máu" khi cháu quên cám ơn quà của mình

Trái lại, tôi "bảnh" ở chỗ này:

-Tôi tự học hi-tech khá nhiều và có đệ tử để hỏi nên con cái còn khuya mới "bắt nạt" được tôi khoản máy móc.

-Tôi tự lập từ bé nên cái gì cũng chú ý học và biết làm tất tần tật khá nhiều thứ. Do đó còn khuya con cái mới bắt nạt được. Thậm chí bọn trẻ cỡ 40t bây giờ đến nhà giúp tôi và chúng sẽ làm sai nếu không có "bà chằng" ở bên chỉ bảo! Tôi học mọi thứ thông dụng trong cuộc sống từ người khác, từ sách vở, từ google…! Người chịu khó học hỏi thì biết nhiều thứ và sẽ thấy cuộc sống dễ dàng thoải mái vì mình không phải "dựa" vào con cháu. Muốn đi VN? OK có ngay net để xem, mua vé, book khách sạn! Muốn gia hạn bằng lái xe hay hỏi về medicare? OK có ngay google hay bạn bè Facebook!

-Tôi dạy đạo đức luân lý giáo khoa thư cho cháu nội khi tôi đưa chúng đi học dưới hình thức "Đố Vui Để Học".

Vd gần nhất nha: tôi ra câu đố như sau

Câu đố 1: Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ vì:

-Cha mẹ là người đẻ ra ta

-Cha mẹ là người nuối nấng ta nên người

-Cả hai câu trên đều đúng

Câu này dễ nên hai "thằng ranh" của tôi chọn đúng. (câu 3)

Câu đố 2: tôi tiếp tục ra câu này:

Cháu chắt phải hiếu thảo với ông/bà vì

-Ông/bà là người đẻ ra cha hay mẹ của ta

-Ông/bà là người nuối nấng cha mẹ ta nên người

-Cả hai câu trên đều đúng

Hai tên nhóc vẫn chọn câu (3). Tôi nói " Sai rồi. Nhiều khi ông/bà ở xa, vd ở VN đi thì đâu có nuôi nhưng ta vẫn phải có hiếu với ông/bà chớ"

Cháu nội tôi hay cãi (chắc giống bà nội quá!), nó gân cổ " Không được. Tại nhà Vinh thì vậy mà"

Tôi du di " OK. Bà nội tạm cho là đúng đi. Vẫn được 5 điểm". Nhưng hôm sau tôi bẻ ( phải bẻ chớ vì bà nội huấn luyện cho lũ cháu phải "tư duy" sâu sắc mờ. Cái này là "chữ nghĩa VC" đó nghe!) " câu đố của bà nội là "Cháu chắt phải " nghĩa là bà nội nói chung chung chớ bà nội đâu có ra câu đố "Vinh Khang phải" đâu mà VK cãi với bà nội là VK đúng vì trường hợp VK là bà nội ngoại có nuôi dạy VK! À, tất nhiên hai thằng nhóc phải "thua" chớ. "Tía" nó còn thua nói gì nó phải không!

Trở lại vấn đề nhe. Không nên ngồi đó than van vì bọn trẻ chúng "ngu" lắm. Chúng không biết đâu. Do đó thay vì buồn bã vì nó không cám ơn quà thì tôi chọn lối "nói thẳng vào mặt nó"!

VD nha, tôi thở dài và hai thằng nhóc vẫn líu lo. Tôi cố tình thở dài sườn sượt to hơn và hai thằng nhóc vẫn líu lo tiêng Anh với nhau. Tôi bèn la lên (!) " Ủa tại sao bà nội thở dài mà hai đứa vẫn nói chuyện vậy? Phải im và hỏi bà nội ơi, bà nội buồn chuyện gì mà thở dài vậy chớ!" Tất nhiên hai thằng nhóc im re và tôi luân lý giáo khoa thư " Lần sau nếu thấy bà nội thở dài thì hai đứa phải hỏi thăm bà nội nghe không" Hai thằng răm rắp "dạ".

Đấy. Tụi nhóc "ngu" đạo đức học lắm. Phải dạy nó chớ. Tôi đâu chọn con đường "âm thầm lặng lẽ, gậm nhấm nỗi buồn". Tôi chọn con đường "la làng". "La lên" và cháu mình hiểu. Lần tới, nó sẽ biết xử sự đúng. Mèn ơi, uốn cây khi nó còn non. Chứ khi nó 11,12t mới dạy thì còn khuya nha. Lúc bây giờ nó ở tuổi chướng thì nó cãi, nó vùng vằng, nó nói hỗn chớ không "dạ" như khi nó con bé đâu.

Thôi kết luận nè: các cụ lo tham gia các social media để đọc bài hay, chia sẻ kinh nghiệm, nếu không gõ được thì kêu ( bồ của cháu đến chỉ vì nó đang cần o bế cháu mình mà), xem youtube, coi phim và mặc kệ con cháu đi. Chúng có đời sống riêng của chúng. Mình không cần làm phiền nó. Còn tất nhiên bọn chúng cũng đâu phải là thứ cà chớn đâu. Khi cha mẹ đau ốm thì nó phải tới, phải chăm sóc chớ. Nó mà không làm thì mình tốc váy lên net ….chửi nó!!! Coi nó sợ không! 😊

Hoàng Lan Chi

12/2021

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Chọn lối sống cho phù hợp thời đại @- Dec 6, 2021

Link các bài của Gs Phạm Thị Nhung

§ Phạm Thị Nhung-Trầu Cau Trong Đời Sống Văn Hóa Dân Tộc

§ Phạm Thị Nhung-Chinh-Phụ Ngâm Vấn Đề Chiến Tranh Và Ý Thác Ngụ Của Tác Giả

§ Phạm Thị Nhung-Dẫn Vào Thế Giới Ca Dao

§ Phạm Thị Nhung-Những Hình Thức Nghệ Thuật Trong Ca Dao

§ Phạm Thị Nhung-Phụ Nữ Việt Nam Và Vấn Đề Giáo Dục

§ Phạm Thị Nhung-Thiên Tình Sử Của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Link các bài của Gs Phạm Thị Nhung