Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Lan Chi 2004-2013

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Chữ Nghĩa “Lỉnh Kỉnh”

Bây giờ là tháng Mười. Virginia đang lộng lẫy mùa Thu với lá phong vàng đỏ. California thì vẫn chưa. Hồng vẫn tưng bừng khoe sắc. Lá chưa ngập lối đi. Đêm khuya thanh vắng là những lúc thích trải lòng. Có thời gian tôi “nấu cháo” điện thọai đêm khuya với một người. Rồi cũng đến lúc chán và chia tay. Một cậu em viết rằng “….Chị thì phải phục mới yêu. Vì thế mà khó”.

Phục? Tôi cũng phục vài người đấy chứ. Nhưng từ phục đến yêu cũng còn nhiều yếu tố khác. Một chặng đường có khi dài, nhiều gập ghềnh.

Chợt nhớ một mẩu đối thoại giữa tôi và một ông già của một ngày không xa lắm:

Tôi:

Xin hãy quên những gì phải nhớ

Nhớ làm gì vì sẽ mau quên

Khi không quên là em sẽ nhớ

Nhớ rồi quên rồi lại nhớ suốt đời.

Mấy cái chữ nghĩa lỉnh kỉnh của ông chú làm cô cháu viết mấy vần thơ “king” cóc. (cười)

Hôm nay California vẫn âm u. Nhưng cô cháu lại thích. Có lẽ vì muốn ôm nỗi buồn vào lòng. Ăn phở Hoa soan của lão Tuấn Khanh gần nhà cô cháu, rồi về nhà trọ của cô cháu, cô cháu pha trà hay cà phê cho ông chú uống, ông chú sẽ kể chuyện ngày xưa cho cô cháu nghe. Cô cháu pha trà hay cà phê đều là pha dỏm, hong có nghệ thuật gì ráo. Ông chú biết mà, người như Hoàng Ngọc An làm gì có thì giờ mân mê mấy thứ đó. Hoàng Lan Chi cũng vậy luôn. Có thể "CuDê" có nhưng giờ này “CuDê” không còn nữa, chỉ là âm vang mà vài chàng muốn níu ( nghe cải lương quá nhỉ!)

Đời vốn dĩ buồn tênh

Đi hết một đời vẫn cứ buồn

Chả biết kiếp sau có còn buồn

Mà dù buồn hay vui thì cô cháu vẫn cứ xin làm người ở kiếp sau!

Ông:

Cứ tưởng rằng chuyện nhớ quên ở cái "cõi tạm" này chỉ là chuyện tầm phào. Nhưng hóa ra cũng không đơn giản như ý kiến sau đây : "Tạm cũng lại là không tạm". Thật vậy à? Giống như trong Tâm Kinh "Bát Nhã Ba La Mật Đa", “ Sắc chính là không…". Cho đên những ngày cuối đời, tôi mới "ngô." được điều đó.

"Sống" chỉ là thường trú nơi cõi tạm, nên "chết" mới định cư được nơi đất "thiên thu", Nhưng nhờ trí huệ chiếu dọi cho tháy được "bản lai diện mục" của Tâm thì cả "tạm" lẫn "không tạm" đều là như tạm cả. Vì thế chữ nghĩa mới lỉnh kỉnh.

Ông chú có cảm tưởng rằng cô cháu đã lỉnh kỉnh, đang lỉnh kỉnh và còn muốn vẫn sẽ lỉnh kỉnh. Thì rút lại cũng như Thúy Kiêu, soạn ra cho mình cung đàn bạc mệnh nó vận vào người. Như ông chú….

Trong đêm tháng Mười này, chợt nhớ “lời tiên tri” của ông cụ “cô cháu đã lỉnh kỉnh, đang lỉnh kỉnh và còn muốn vẫn sẽ lỉnh kỉnh. Thì rút lại cũng như Thúy Kiêu, soạn ra cho mình cung đàn bạc mệnh nó vận vào người.” Ừ, thì vận số là như thế. Thúy Vân hồn nhiên trong khi Kiều chỉ đi ngang Đạm Tiên mà đã khóc người không quen.

Tôi mới nói với một người khác “Tôi là người thích đứng đầu sóng ngọn gió. Không sợ gì cả”. Phụ nữ đa số thích yên bình. Tôi thì lại không. Vì thế mà đã cãi tiếp với ông cụ rằng:

Trong cõi tạm, ai là không tạm

Sắc là không, không càng không phải không!

Tạm, không tạm cũng thời là tạm

Tâm, có tạm hay không trong cõi vô thường?

Ơ hay, cô cháu là người tử tế, giản đơn. Yêu/ghét rõ ràng minh bạch, như quốc/cộng.

Cô cháu không lãng mạn như nàng Kiều dấm dớ!

Chỉ có điều cô cháu hay tung tẩy, hay nghịch ngợm.

Bởi vì cô cháu là “femme enfant” ( Cù An Hưng phán thế năm 1975)

Chữ nghĩa “lỉnh kỉnh” thật.

Rừng Gió California

Hoàng Lan Chi 10/2014

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Gia Long- Bạn Hữu Tình Thâm-Đây mới chính là ý nghĩa của Ái Hữu

Gia Long- Bạn Hữu Tình Thâm-Đây mới chính là ý nghĩa của Ái Hữu

Xưa nay tôi là người ngại đi tiệc tùng. Không phải sợ đám đông. Người có tên “Phàn Lê Huê HK” do chiến hữu đặt thì làm sao sợ ai được! Tổng thống Mỹ cũng không sợ! Chỉ sợ ma và sâu thôi. Sau nữa, người làm M.C cho Đại Hội Khoa Học từ 1973, người phỏng vấn truyền hình ở DC từ 2004 thì …ngán gì ai, sợ gì đám đông. Cái chính là không thích vì chả thích ăn, chả thích ngó vài cái chướng tai gai mắt mà thôi. Ví dụ mấy ông già bà cả lên sân khấu õng ẹo song ca những bài của thuở mười tám trong khi các cụ bây giờ mười túm. Ví dụ nữa là mấy mợ bụng mỡ, cổ nhăn mà diện áo hở ngực, hở nách. Thà ngồi nhà, thủ thỉ với bạn cùng gôut qua âm nhạc còn có ích hơn. Hay bàn luận văn chương với ai đó còn vui hơn. Tôi thích nhất đêm khuya êm vắng và nghe ai đó thủ thỉ hay hát cho tôi nghe qua phone!

Trở lại chuyện tiệc tùng. Vì không thích nên nhóm nhỏ Gia Long "kêu réo" nhiều lần mà tôi không đi. Tuần trước sau khi đọc bài Tháng Mười Duyên Dáng, một muội Gia Long gọi và nhân đó năn nỉ “Thôi sẵn sinh nhật tháng Mười của chị, chị đến với tụi em đi”. Tôi đang vui vì nhận mail dễ thương, vừa có thêm cháu (chả biết gọi là gì. Nó là con của cháu đích tôn của mẹ tôi!), vừa qua nơi ở mới dễ chịu hơn, vừa cảm ân tình mấy “con ranh” (nhóm nhỏ Gia Long khệ nệ khuân tủ lạnh, microwave theo yêu cầu của tôi đến cho tôi) nên “Ừ”.

Mấy tiểu muội Gia Long thường “cưng” bà chị. Đi đâu là đón đưa, không cho tôi phải tự lái. Nhớ một lần ở buổi họp kia, một muội có nghĩa vụ đón và một muội khác có nghĩa vụ đưa về. Lần này cũng vậy, Quế Hương ghé đón.

Nhóm nhỏ Gia Long này, nguyên thủy là vài người ở gần nhau nên tụ nhau ăn uống chuyện trò. Sau đó mở rộng cho các chị em ở xa xa. Tuy vậy, nhóm chỉ có tên nhân dịp có tiệc ăn mừng sau nhiệm kỳ của Quế Hương. Dịp đó, chị Hoàng Loan, Thúy Điệp, Quế Hương nảy ra ý tưởng thành lập một nhóm nhỏ vui chơi với nhau. Mỗi tháng gặp một lần và tổ chức sinh nhật cho những người sinh trong tháng đó. Chị Thúy Điệp, sau khi đọc được một cuốn sách trong nước (dịch từ sách Pháp, nhân dịp chị về VN chơi), nói đến tình bạn hay quá, chị Điệp bèn đặt tên theo cuốn sách, Ánh Lửa Tình Bạn . Không lâu sau, một giáo sư cho biết trùng tên với một nhóm trong nước nên nhóm đổi tên là “Bạn Hữu Tình Thâm”. Năm 2013, nhóm đã tổ chức ra mắt ở phòng thuê của Việt Báo. Tháng 11 sắp tới đây, nhóm cũng sẽ tổ chức lần thứ hai ở Việt Báo.

Tổ chức thì luân phiên, nay nhà người này mai nhà người khác. Kỳ này ở nhà Ngọc Long. Thôi thì ăn uống tưng bừng, nói cười rỉ rả. Trong dịp này tôi gặp Phương Anh, người mà hai chị em có trao đổi mail, hình ảnh vài lần. Vài tỷ muội Gia Long vốn “ái mộ” Hoàng Lan Chi sau vụ bầu cử tháng Tư/2014, kỳ này mới gặp mặt tôi.

Trước khi chương trình văn nghệ bỏ túi bắt đầu là màn trao quà cho những người sinh nhật Tháng Mười. Mấy tỷ muội đẩy cho Hoàng Lan Chi nói lời cảm ơn. Chị Thúy Điệp đáp từ.

Những người ngồi là người có sinh nhật Tháng Mười

Ai đó trêu là ổ bánh nhỏ quá. Thật ra đồ ăn quá nhiều, đâu cần đến bánh lớn

Hình chụp chung trong nhà

Hình chụp chung ngoài sân. Sư tỷ áo đỏ ngồi cạnh Hoàng Lan Chi ra trường từ 59 mà coi chị còn trẻ đẹp quá xá!

Sau đó Vân Phương mở màn văn nghệ. Vân Phương ra trường trước tôi một năm nhưng trông rất trẻ. Vân Phương cũng là người đã dàn dựng màn Hội Trùng Dương cho Hội Ái Hữu Nam CA với hình lá cờ VNCH được làm bởi nữ sinh, giáo sư và rể Gia Long mà tôi đã viết bài khen ngợi cách đây vài năm.

Vân Phương

Chấm dứt, Vân Phương nói "Sau đây mời một người có tuổi mà chưa có tên". Ai nấy nhìn nhau không biết VP ám chỉ ai, kể cả tôi. Bất ngờ, VP chỉ tay vào tôi "Xin mời V.I.P Hoàng Lan Chi". Trời đất, mợ này! Thiệt cái tình! Tôi nói tôi không biết hát. Ai đó bảo Hoàng Lan Chi nói vài câu đi. Thế là tôi đành nói. Đại khái ý tôi nói đây là lần đầu tiên đến đây vì cũng muốn biết "Nghị Quyết 36 đã được thi hành ở nhóm này thế nào". (Tôi ám chỉ vụ bầu cử Hội Gia Long Nam CA tháng 4/2014. Vì tranh cử bất chính, nhóm kia đã vu cho liên danh này là thi hành NQ 36. Tôi đã vào cuộc và điều tra. Sau những bài viết của tôi, mọi việc đã sáng tỏ). Mọi người cười ồ, Ngọc Long đùa "Chỉ có 35 thôi chị ơi".

Ngoài các ca sĩ Gia Long như Vân Phương, Bảo Nam, Ngọc Long còn có thân hữu là Kim Yến, vợ chồng chị ruột của Ngọc Long (Hồng Đào-Minh Tuất), dược sĩ Nguyễn Hoan và ca sĩ Huy Hoàng.

Giữa chừng có cô Bạch Thu Hà. Tôi học Nữ Công với cô năm đệ tứ 1963. Cô nói năm đó cô mới ra trường. Lớp chúng tôi được học với vài giáo sư trẻ khác cũng mới ra trường như cô Châu Ngọc Minh (Vạn Vật đệ ngũ), cô Ngọc Lan ( Toán đệ ngũ).

Cô Bạch Thu Hà áo dài tím, cạnh Hoàng Lan Chi. Trông cô rất trẻ so với tuổi.

Nếu không trở ngại do vụ cấm đậu xe sau 11 giờ thì có lẽ tiệc còn kéo dài. Kim Yến, em dâu của Ngọc Long có giọng hát rất mạnh. Bảo Nam cũng vậy. Vân Phương thì nhẹ nhàng hơn. Dược sĩ Nguyễn Hoan hát rất hay.

Về nhà đồng hồ điểm 12g30. Tôi mệt nhoài. Lý do: trước đó mất ngủ, thi mid term… Nhưng rất vui khi nhìn thấy tỷ muội Gia Long quây tụ vui vẻ.

Thế đấy, nhóm nhỏ Gia Long tụ họp với nhau, chia sẻ vui buồn, giúp đỡ lẫn nhau, cùng tổ chức sinh nhật chung, cùng du ngoạn chung, đúng với hai chữ "Ái Hữu".

Tôi mong rằng các tỷ muội khác cũng sinh hoạt với nhau như thế trong tình nghĩa đồng môn ấm áp.

Còn gì nữa đâu ở tuổi lá vàng này?

Còn gì cho nhau khi một thời tuổi trẻ chung một mái trường, một sân chơi, một nền giáo dục?

Còn gì chia sẻ cho nhau ở quãng đời tị nạn nơi vùng đất tạm dung ?

Hẹn gặp nhóm Bạn Hữu Tình Thâm tại Việt Báo ngày 2 tháng 11, 2014. Mời các thân hữu tham dự (miễn phí).

Bức ảnh cuối cùng mà "nhiếp ảnh ra" Hồng Phương chụp cho HLC trước khi ra về.

Rừng Gió California 10/2014

Hoàng Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Đỗ Dung với “Như Một Thoáng Mây Bay”

LGT: Hoàng Lan Chi đọc “Bên Bờ Tử Sinh” đã lâu ở net. Thấy xúc động. Một tình cờ mà quen Đỗ Dung. Đỗ Dung có nghe tên Hoàng Lan Chi và sau đó gửi sách tặng. Tuy Hoàng Lan Chi đọc ngay nhưng viết thì đôi khi cần có hứng. Lý do, Hoàng Lan Chi không bao giờ áo thụng vái nhau và những gì Hoàng Lan Chi viết thì xuất phát từ trái tim chân thành của mình. Hoàng Lan Chi dám nói rằng, tất cả các tác giả mà Hoàng Lan Chi điểm sách đều vui như chưa bao giờ vui thế. Tại sao ư? Thì tại vì họ có thể khoe bạn bè mà không “ngượng”. Vì những ngợi khen đều được dẫn chứng chứ không phải là những ngôn từ kêu rổn rảng mà rỗng tuếch. Xin mời xem Hoàng Lan Chi giới thiệu “Như Một Thoáng Mây Bay” của Đỗ Dung.

Trò Chuyện với Lan Chi – Nguyệt san Bút Tre tháng 10/2014

Đỗ Dung với “Như một thoáng mây bay”

Trong cuộc đời này, đôi khi chúng ta đến với nhau rất “buồn cười”.

Tôi quen nhà văn Đỗ Dung cũng là một dạng đến với nhau thật “buồn cười”. Buồn cười là vì Đỗ Dung bênh vực lẽ phải và chuốc họa. Tôi cũng bênh vực lẽ phải và cũng chuốc họa. Thế là từ cái “họa” mà hai đứa giữa đường bị quàng đã biến thành cái “may” là sau đó hai chúng tôi có nhau. Một người Trưng Vương là Đỗ Dung, một người Gia Long là tôi. Người Gia Long hôm nay giới thiệu một người Trưng Vương với giới thưởng ngoạn bốn phương qua tác phẩm “Như một thoáng mây bay”.

Tập truyện ngắn “Như một thoáng mây bay” (NMTMB) là một tác phẩm “đẹp”. Tôi quan niệm như thế này: một tác phẩm đẹp là phải hội đủ hình thức đẹp, nội dung đẹp và mục đích đẹp. Đứa con tinh thần đầu lòng của Đỗ Dung có đủ ba yếu tố trên và với tôi, là tác phẩm đẹp.

Hình Thức Đẹp

Quyển sách với giấy trắng khá dày và bìa đẹp nhã nhặn. Doãn Quốc Vinh trình bầy bìa. Nền mầu xanh lá mạ. Cảnh chim bay, ánh trăng vàng. Tựa sách mầu trắng. Tên Đỗ Dung mầu đen. Tất cả là một phối hợp nhẹ nhàng thanh thoát. Điều ấy phù hợp với Đỗ Dung, người Trưng Vương gốc Bắc, cô nữ sinh thuở nào và những tâm tình như thoáng mây bay.

Bìa sau như mọi trình bầy sách khác là chân dung tác giả và vài nhận xét. Đỗ Dung nói với tôi rằng đã có người phê bình là mọi cái đều “ được” trừ chân dung tác giả. Tôi bật cười trả lời “Đúng vậy. Nếu là Hoàng Lan Chi chọn cho Đỗ Dung, Lan Chi sẽ chọn một tấm của cô nữ sinh ngày xưa. Đồng thời có ghi chú năm ở dưới thì cũng không phải là một sự không đúng nào đối với độc giả cả”.

Bên trong là nhiều phụ bản tranh của Duy Thanh. Cũng phải thôi vì họa sĩ Duy Thanh là anh chồng của Đỗ Dung. Những bức tranh của một người từ xưa lắm, thuở miền Nam đang dang tay đón hơn một triệu đồng bào Bắc bỏ quê ra đi tìm tự do, có những nét mạnh, gẫy mầu sắc đậm, cho tôi cái cảm tưởng đấy là những nét chấm phá trong toàn cảnh “mây bay” của Đỗ Dung.

Đỗ Dung viết nhiều truyện thực nhưng cô con gái nhà nề nếp ấy quá giữ kẽ. Cô không rơi vào trường hợp của vài tác giả khác. Những tác giả ấy đã biến tác phẩm thơ của mình thành một “album” gia đình. Đỗ Dung thì không hề. Nhưng như vậy, với tôi, lại là chút thiếu sót. Tôi nghĩ rằng, sẽ không có độc giả nào khe khắt khi nhìn thấy hình ảnh thực kèm trong bài viết về bố, về mẹ, về anh, về em…

Với một hình thức nhẹ nhàng, trang nhã và toát ra vẻ tôn trọng độc giả thì nếu tôi có trao tặng hình thức đẹp cho sách của Đỗ Dung, có lẽ cũng không phải là vì người Gia Long ưu ái cô bạn Trưng Vương đâu nhỉ?

Nội Dung đẹp

“Như một thoáng mây bay” có một nội dung đẹp.

Trước hết đẹp vì sự ngăn nắp, thứ tự của truyện. Có nhiều tác giả đã làm tôi bị rối và tôi bỏ dở. Tôi vẫn cho rằng để được phổ biến rộng rãi, đưa tâm tình, tư tưởng của mình đến với mọi người thì phải là một dĩa bánh ngon, một bình hoa đẹp. Mọi cái phải ngăn nắp thứ tự nhất là trong thời đại internet này, mấy ai có nhiều thì giờ để nghiền ngẫm nếu như mọi việc bị rối bòng bong.

Đỗ Dung cảm ơn cha mẹ, gia đình, con cháu và bạn hữu. Từng nội dung cũng được sắp xếp như thế. Viết đến đây tôi nhớ đếnmột nhạc phẩm của PD mà tôi thích vì tôi cho rằng nó nói lên cái tình tự gia đình của người Việt Nam: Me có hay chăng con về rồi mới đến Em có hay chăng anh về và cuối cùng mới là Con có hay chăng cha về.

Những ân tình được Đỗ Dung mở đầu cho cha. Đừng nghĩ là tâm tình viết cho người già thì không hấp dẫn nhé. Không, Đỗ Dung thật tuyệt vời khi mô tả cảnh đến gặp cha, chiếc lá vàng sắp rụng chưa đầy một trang. Rồi ngay sau đó Đỗ Dung đã nắm tay độc giả chạy phăng phăng về miền quá khứ. Chuyến xe dĩ vãng thật hấp dẫn người đọc với giọng văn giản dị, dí dỏm. Những người của Hà Nội năm nào thú vị đã đành mà những người của Sài Gòn năm nào như tôi ( nghĩa là di cư vào Nam khi còn bé lắm và như vậy tôi là người Sài Gòn!) cũng thú vị. Bức tranh thật sống động với một cảnh gia đình công chức tiểu biểu.

Sau nỗi nhớ về cha, “Chiếc Lá Vàng” , tuy chỉ là một thoáng mây bay nhưng cũng đã mô tả được toàn cảnh của gia đình, Đỗ Dung mời người đọc “Theo gió”. Cũng là chuyến xe về miền quá khứ nhưng là một quá khứ xưa hơn. Vì xưa hơn nên có lẽ “Theo Gió” là chương hấp dẫn tôi nhiều. Hà Nội, tháng Tám, 1954. Những biến động của một thời ly loạn, những vất vả của một thời di cư. Tất cả không làm người đọc đau đáu nỗi đau mà chỉ ngoái nhìn dĩ vãng với một thoáng ngậm ngùi. Như mây bay!

Rồi sau đó là những tự tình về gia đình, chồng con, bạn hữu. Dù chỉ thoáng mây bay nhưng độc giả vẫn được ngắm từ thuở mây hồng cho đến thoáng mây hoàng hôn.

Vẻ đẹp nội dung thứ nhì là tâm tình đẹp. Có những quyển sách viết về thời đã qua nhưng làm người đọc đau khổ vì những uất nghẹn, hờn căm không có ý nghĩa. Tôi vẫn nghĩ rằng mọi nỗi buồn của quá khứ khi kể lại thì chỉ nên lướt hay khoác lên đó bằng một giọng văn khôi hài để giảm nỗi đau cho người đọc. Bởi vì đọc là để thông cảm, đọc không phải là để đắm chìm trong đau đớn.

Trở lại với “Như một thoáng mây bay”. Mọi tâm tình trong sách thật đẹp. Đẹp vì tình cha mẹ, vì nghĩa phu thê, vì đạo huynh đệ, vì phận làm con. Hướng thượng là một tiêu chuẩn mà tôi luôn dành cho sách được gọi là đẹp. Một chi tiết trong truyện làm tôi cảm động chảy nước mắt. Đó là chính tay bà mẹ chồng làm giỗ cho người sui gia. Người con dâu không dám bày tỏ gì vì đang gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng bà mẹ chồng đã lên tiếng trước, đã tự tay làm. Quá là đẹp cho tình cảm mẹ chồng, nàng dâu thuở ấy.

Cái tâm tình của cha dành cho con gái được kể thật duyên dáng. Dù chỉ chênh nhau vài tuổi nhưng các em phải ở trại “nữ binh”, chị cả được nguyên một phòng. Cùng là con gái nhưng áo dài cho em chỉ là tetoron, còn chị cả là lụa cơ. Tôi đã mỉm cưởi khi đọc những chuyện kể thực và đáng yêu ấy.

Ngay cả một chuyện không vui mà Đỗ Dung cũng không hề đem giáo mác vào. Ông bố đào hoa và cô gái rượu đã tương tế tựu kế rồi cùng mấy cô em “dẹp giặc cho mẹ”. Không đáng yêu sao được khi con gái dẹp giặc cho mẹ, phải không? Và sau cơn mưa, trời lại sáng với đám con gái yêu cả cha và mẹ.

Một tâm tình đẹp khác được gửi trong “Bố của các con tôi”. Cũng vẫn bằng giọng văn giản dị, pha chút dí dỏm, Đỗ Dung khắc họa về người bạn đời với chi tiết thật, rất sống động. Và cái câu kết thật đáng yêu cho nghĩa vợ chồng:

“Tôi có nhắc nhở ‘mắm mắm lại gắt như mắm’ thì chàng ngỏn ngoẻn giả lả ‘Hình như là lẩu mắm, bún mắm cũng ngon lắm. Hì hì’”.

Một tâm tình khác, không chỉ đẹp mà cảm động làm bao người rơi lệ. Với “Bên Bờ Tử Sinh”, Đỗ Dung thuật lại câu chuyện thật của đời mình, một câu chuyện man mác cổ tích vì phép lạ ẩn tàng. Đỗ Dung được chẩn đoán mắc căn bệnh hiếm, phải thay phổi, thay tim. Bản án từ bác sĩ “còn sống khoảng hai năm” thật dễ sợ biết bao cho người vợ, người mẹ trong một gia đình tràn trề hạnh phúc. Đỗ Dung cũng trải qua giai đoạn xuống dốc, mất tinh thần. Nhưng rồi những suy nghĩ, thiền và tư tưởng chấp nhận đã khiến Dung đứng dậy. Còn số 2 năm của bác sĩ tặng, giờ đây đã là 11 năm. Há đây chẳng phải là một bài học tuyệt vời cho con người về niềm tin và hy vọng sao?

Vẻ đẹp nội dung thứ ba là tư tưởng đẹp. Một câu chuyện có tư tưởng đẹp là gửi vào đấy nhưng chuyện có thể thật hay không thật nhưng không được quá tiểu thuyết nghĩa là không thể có ngoài đời, và mục đích là mong ước, là khuyến khích người đọc cũng sẽ có những cái “đẹp” như thế. “Như một thoáng mây bay” đặc sắc nhất là tình cảm gia đình của ba thế hệ. Từ một thế hệ của thời mà phong kiến còn rơi rớt, của người con vâng lời cha mẹ lấy vợ lấy chồng mà không hề yêu nhau từ trước. Chính cái tư tưởng sống cho nhau, chăm chút nhau của đoản văn dưới đây đã thúc đẩy người đọc cũng sẽ mở lòng mình cư xử với người khác như thế:

“Buổi sáng trước khi cùng chị Sửu và cô Nga gánh hàng ra chợ, bà nội tôi thở dài:

-Tội nghiệp ông Giáo. Hôm nay là ngày giỗ ông đây, tôi ra chợ mua hoa quả, thêm vào thứ để chiều về mợ sử một mâm cơm canh cúng ông.

-Con cám ơn mẹ.

Nói xong mẹ tôi thổn thức. Bà nội tôi ái ngại bước chân đi.”

Không thể tưởng được một bà cụ thuở ấy lại nhớ được ngày giỗ của ông sui gia để nhắc con dâu làm giỗ bố. Tình cảm gia đình của người Việt Nam gia giáo, lễ nghĩa là như thế. Chúng ta có thể noi theo chăng?

Hoặc “Hết rồi cô gái Hà Thanh tóc dài thả gió lê thê. Cô gái thùy mị, nết na, không hề có mộng mơ, lãng mạn của một thời con gái. Mẹ về với cha theo duyên, theo phận, không một lời hẹn biển, thề non. Mẹ về với cha bằng tình, bằng nghĩa để rồi cả một đời keo sơn gắn bó. Cuộc đời mẹ đã hoàn toàn lệ thuộc vào người đàn ông đã cùng nhau làm lễ tơ hồng.” Tất nhiên cái tư tưởng an phận thủ thường không phải là một tư tưởng quá lộng lẫy đẹp nhưng cái tư tưởng chấp nhận và sống vui với sự chấp nhận ban đầu là một tư tưởng đẹp. Chính cái “chấp nhận” đã được đền bù: một mái gia đình hạnh phúc. (Theo Gió-Trang 50)

Hoặc cô dược sĩ đã lòng tự hỏi lòng bao lần khi mối mai cho cô là những chàng Y. Vợ Dược chồng Y còn gì hơn! Rồi anh chàng nhà giáo, đi lính ra trường với cái chức vụ “chuẩn úy quèn” đã uống thuốc liều sau nhiều lần e ngại. Rồi cô dược sĩ hỏi một câu “ Anh có yêu em thật không? Có suốt đời lo lắng bao bọc cho em không?”. Rồi cái kết cuộc bây giờ: “Trên con đường nhỏ dành cho khách bộ hành, một bên là đồi cỏ xanh, một bên là rặng hoa đào, ông già tóc bạc trông còn tráng kiện và lưng còn thẳng, người đàn bà bên cạnh dáng đi chậm chạp. Ông khẽ nắm tay bà, tay trong tay vẫn ấm và hai người thong dong, khoan thai đi bên nhau trong buổi sáng mùa xuân, nắng vàng đẹp, gió nhẹ hây hây hoa reo vui, lá reo vui trong khong gian thật êm đềm. Khuê cảm tạ Trời Phật đã cho Khuê một lựa chọn đúng, cho Khuê một nương tựa bình yên suốt cuộc đời ( Một thời con gái- trang 137)

Hoặc “ Minh tự tay xây một cái am nhỏ sau vườn làm noi thờ Phật. Hàng ngày em cũng thỉnh chuông và thắp nhang nguyệnn cầu. Như có sự mầu nhiệm, sau khi giải phẫu cắt bỏ gần hết mấy cơ quan nội tạng, Minh ra khỏi bịnh viện là đi làm ngay, lại lo toan, tính toán, sắp xếp cho tương lai ba thằng con…..( Như áng mây trôi. Trang 295). Thế há không phải là tư tưởng đẹp đã được gửi gấm qua câu chuyện thật? Rằng con người ta có số nhưng với nghị lực thì đôi khi nghị lực cũng thắng số như là “đức năng thắng số” vậy.

Hay “ Chiều từ từ buông xuống nhẹ nhàng. Hà đã có một cuộc sống hạnh phúc giản dị, êm dềm. Hà đã gặp hạnh phúc đó v đã biết gìn giữ, nâng niu hài lòng với những gì mình đang có. Phải chăng đây là chốn Thiên Đường. Thiên Đường hay Địa Ngục là do ta”. ( Dây tơ hồng. Trang 191). Tư tưởng ấy là cũ, nhưng lồng trong câu chuyện tình, thì vẫn coi là mới, là đẹp.

Vẻ đẹp thứ tư là ngôn ngữ đẹp. Ngôn ngữ trong văn là câu văn, cấu trúc và từ ngữ. Đọc Đỗ Dung với “Như một thoáng mây bay”, không ai có thể nói rằng không hiểu vì “bí hiểm” quá. Đọc Đỗ Dung, chúng ta dễ hình dung đến những người mở đường: Nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Sự giản dị, trong sáng của tiếng Việt được lướt nhẹ nhàng dưới bàn tay Đỗ Dung. Những ngôn ngữ đặc trưng của miền Bắc được diễn tả đúng chỗ, đúng lúc.

Dung viết “Tôi nhớ rất nhiều kỷ niệm với anh, ông anh tính nết lộc tà lộc tộc”. Hẳn là người miền Nam sẽ rất xa lạ với nhóm chữ “lộc tà lộc tộc” . Hoặc “Anh con trai phổi bò ruột ngựa” (Ngàn thu vĩnh biệt- Trang 197). Hiếm người miền Nam nào thích sử dụng “phổi bò, gà tồ” để mô tả chính xác sống động về tính cách của một người lớn mà còn ngây thơ, dại khờ như thế.

Tuy giản dị nhưng văn Đỗ Dung không phải lúc nào cũng “gạo tẻ” mà nhiều khi “gạo nếp” rất ngọt ngào. Lấy ví dụ “Ngàn thu vĩnh biệt” mà Dung lấy làm tựa cho tạp ký về người anh, không phải là óng ả đấy sao?

Hay “ ..qua khung cửa sổ, mặt trời mới ló lên khỏi ngọn đồi phía xa. Những vạt nắng vàng nhẹ như tơ, dịu dàng như thì thầm với hoa, với lá rồi êm ả lướt nhẹ, mỉm cười với những cảnh vật nắn đi qua.” ( Một thời con gái- Trang 137)

Không tìm được bất cứ một thứ ngôn ngữ nào không đẹp hay “cẩu thả” trong văn Đỗ Dung. Có vẻ như văn là người mà người phụ nữ ấy là một tượng trưng cho con gái Hà Thành xưa, cho một nề nếp cổ, cho một gia giáo cũ nên ngữ từ đẹp cứ thế tuôn chảy dễ dàng nhẹ nhàng. Như đó là ngôn ngữ hàng ngày của Dung. Giờ chỉ lập lại, viết ra.

Mục đích đẹp

Đỗ Dung viết sách không phải để bán. Sau một lần “bên bờ tử sinh”, cô nữ sinh Trưng Vương Trưởng ban Báo Chí ngày nào chợt có ý tưởng viết. Viết về chính cuộc đời mình. Những lưu dấu ấy, cũng có thể coi là một chấm nho nhỏ của gia phả để lại cho con cháu. Một ngày nào đó, những thế hệ thứ hai, những người Mỹ gốc Việt của giòng họ Đỗ bước vào tuổi lá vàng, cũng sẽ có những giây phút lắng đọng tâm hồn, thả hồn ngược giòng dĩ vãng thì cuốn tự truyện nhỏ sẽ giúp họ nhìn được một quãng đời của cha ông.

Quãng đời ấy có những mảng đẹp lộng lẫy nhưng cũng có những mảng buồn thê thảm. Quãng đời ấy có những đoạn đấu tranh để sinh tồn, để vươn lên: há không phải là một mục đích đẹp hay sao? Quãng đời ấy cho thấy người Việt với hai lần chạy trốn cộng sản, từ bỏ quê cha đất tổ, tha phương tìm tự do há không phải là một tấm gương đẹp cho thế hệ sau soi ư?

Xin mời xem một tùy bút cảm động vì là chuyện thật của Đỗ Dung: “Bên bờ tử sinh”.

Để biết một cảnh đời, xin mời mua “Như Một Thoáng Mây Bay”:

Do Dzung

544 International Blvd#1

Oakland, CA 94606

Tel: 510 – 386-8068

tacgiadodung@yahoo.com

Nhà sách Tự Lực

14318 Brookhurst St

Garden Grove, CA 92843

Tel: 714 – 531-5290

Bên bờ tử sinh

Đỗ Dung

Buổi sáng thứ bảy, mùa hè, bầu trời xanh trong không một gợn mây, màu nắng vàng chanh, gió nhè nhẹ mơn man làn da, mùi thơm của cỏ cây, hoa lá… vương vương, thoang thoảng. Con đường nhỏ uốn lượn nhẹ nhàng, hai hàng cây xanh bên đường đều tăm tắp, một bên hè trống tiếp ráp với những ngọn đồi nhấp nhô nối nhau trải dài, in lên nền trời, bên kia là dãy nhà nằm ngoan ngoãn sau những mảnh vườn được trồng tỉa vén khéo. Hai vợ chồng tôi lững thững đi trong cảnh trí êm lặng, an bình của thành phố nhỏ như còn đang say ngủ.

Tôi mới mổ “cataract” mắt bên phải, tinh nghịch nhắm bên mắt trái, cảnh vật như sáng hẳn ra, những chiếc lá thật rõ nét, óng ánh, rung rinh dưới nắng, những bông hoa tươi hẳn lên reo vui, cảnh vật trong trẻo như được nhìn qua khung cửa kính mới được lau chùi kỹ lưỡng bằng Windex. Nhắm mắt phải, mở mắt trái, vạn vật như qua một lớp sương vàng đục, mờ ảo, nhạt nhòa.

Hôm ấy, khi nằm trên bàn mổ ở nhà thương của trường Đại học Stanford, vẫn căn phòng sáng trắng, vẫn những thủ tục thông thường như những lần phải thử nghiệm hay mổ xẻ cần chụp thuốc mê, sao lòng tôi thanh thản không một chút âu lo. Từng giọt thuốc an thần từ túi treo trên cao nhỏ vào mạch máu, tôi chơi vơi, bềnh bồng.

– Bà Nguyễn, bắt đầu nhé!

Tiếng bà bác sĩ nhẹ nhàng thoảng bên tai, mắt tôi tê đi, không cảm giác, chợt hai đốm đen hình vuông hiện ra rồi từ từ một vầng mây màu hồng đỏ, màu đỏ tuyệt vời, bay bay. Một mảng xanh “turquoi” bay lượn trên nền trời xanh trong. Cứ thế những quầng mây màu sắc đẹp chưa bao giờ tôi nhìn thấy nhẹ nhàng bay bay, chơi vơi, chơi vơi…tôi đi vào một vùng an lạc tuyệt vời, như có tiếng gió nhẹ nhẹ, như có tiếng thầm thì và tôi thiếp đi trong cảm giác thật êm ái lạ lùng.

– Xong rồi, bà Nguyễn, bà nghỉ ngơi một chút rồi về nhé. Sáng mai trở lại gặp tôi.

Bà bác sĩ dịu dàng vỗ nhẹ cánh tay tôi, chiếc giường lại được đẩy về chỗ đợi khi sáng.

Trong đời, hai lần tôi có niềm sung sướng ấy. Niềm hạnh phúc mênh mông trong tuyệt vời cảm giác, như mê thiếp trong hoan lạc dị thường… Lần đầu tiên sau một buổi tọa thiền, đặt lưng xuống giường, tôi mê đắm trong cảm giác nhẹ nhàng, lâng lâng ấy.

– Bố mẹ dậy sớm thế, đi những đâu rồi? Bố mẹ có lên những con đường đi bộ trên núi chưa?

Cô con gái đang tỉa mấy cây hồng trong khu vườn trước cửa ngước lên hỏi khi thấy chúng tôi về.

– Chưa, bố mẹ mới đi quanh đây thôi. Nhà cửa đẹp, không khí thật êm ả, thanh bình. Mai các cháu có đi leo núi, có đi “hiking” nhớ rủ ông bà đi cùng nhá!

Tuần này chúng tôi ở chơi nhà cô con gái, như một kỳ nghỉ hè.

– Mời ông bà vào uống cà phê, ăn tạm một miếng bánh “croissant” rồi chúng con đưa ông bà qua San Francisco chơi.

Tiếng cậu con rể từ trong nhà vọng ra, mùi cà phê tỏa ra thơm ngát.

Đã lâu không ghé SF, khung cảnh vẫn như xưa, không thay đổi, bầu trời xám, nhiều mây. Mùa hè vẫn phải mặc áo ấm. Vẫn những chiếc xe điện kêu leng keng, chở du khách thăm thành phố. Con đường Lombart vẫn ngoằn nghoèo và những con dốc dựng đứng làm chùn bước những người lái xe không cứng. Khu quanh biển vẫn tấp nập khách nhàn du. Sau khi lái xe một vòng quanh phố, chúng tôi xuống một công viên cho các cháu chạy nhảy, chơi mệt rồi vào phố Tàu ăn mì trong một tiệm khá ngon.

Về tới nhà còn sớm các cháu rủ xuống hồ bơi.

– Mẹ mới “surgery”, xuống hồ bơi mẹ cẩn thận nghe.

Cô con gái luôn miệng nhắc vì cháu nghe kể có người sau khi mổ “cataract” không giữ gìn kỹ nên bị thông manh, nhìn mọi vật không rõ nữa.

Mang cặp kính đen to bản của nhà thương cho, tôi nằm trên chiếc phao nổi trong một góc khuất của hồ bơi mặc cho mấy ông cháu chơi đùa. Hai vợ chồng cô con gái lúi húi sửa soạn cho bữa ăn tối ngoài vườn.

Buổi sáng trời không mây, bây giờ vài cụm mây trắng từ đâu tới, lang thang trên bầu trời xanh trong đưa tôi về thời gian mới cách đây vài năm mà tưởng chừng như xa xôi lắm.

***

Một buổi chiều đang ở sở làm tôi lên cơn ho sặc sụa, ho như xé ruột gan, nước mắt chảy ràn rụa, tôi phải xin phép về sớm. Tôi rất ghét đi bác sĩ vì không thích cảnh ngồi dài người chờ đợi nên thường khi bị ho như thế tôi chỉ uống thuốc ho, nhờ nhà tôi xoa dầu nóng khắp châu thân rồi nằm nghỉ. Sau một giấc ngủ dài là khỏe lại ngay. Lần ấy nhà tôi nhất định đưa tôi đi bác sĩ.

Sau những khám nghiệm thông thường, bà bác sĩ lấy một dụng cụ nhỏ kẹp vào ngón tay tôi. Đọc kết quả bà thốt lên:

– Bà Nguyễn, bà phải nhập viện ngay. Độ oxygen trong máu bà thấp quá, chưa đến tám mươi phần trăm!

Bà nói nhân viên gọi ngay xe cứu thương. Hai vợ chồng nhìn nhau tê điếng. Trầm trọng vậy sao! Xe cứu thương đến, mọi vật như lao xao và tôi như người mộng du, nằm trên chiếc băng ca, chui vào lòng chiếc xe hụ còi chạy nhanh.

Trong phòng cấp cứu tôi vẫn thảng thốt, mới tuần trước đi Houston ăn Tết với gia đình cô em gái, khỏe mạnh không một triệu chứng nào, bây giờ nằm đây những dây cùng nhợ. Vô thường đến vậy sao!

Mỗi ngày y tá đến lấy máu, cứ vài tiếng lại đo nhịp tim, đo huyết áp, đưa tôi chui vào hết máy nọ, máy kia để tìm bịnh. Mấy hôm đó trời chuyển mưa, gần như ngày nào cũng có mưa, có ngày mưa nhẹ, có ngày mưa như vũ bão, gió rít từng cơn. Buổi chiều sau khi tan sở là nhà tôi và cháu út lại đến thăm, ngồi bên giường đến tối mịt mới về. Ban đêm còn lại một mình tôi không tài nào ngủ được, lòng ngổn ngang trăm mối, mệt mỏi thiếp đi thì y tá lại vào để đo nhiệt độ, đo tim, đo máu, lấy máu để thử nghiệm.

Tôi còn nhớ như in buổi tối sau khi làm “Angiogram”, nhà tôi và cháu út đang ngồi cạnh giường. Viên bác sĩ đến đã thản nhiên nói:

– Tôi rất buồn, bà Nguyễn, bà vướng phải một căn bệnh hiếm, “Pulmonary Hypertension”, bịnh không chữa được, chỉ đợi thay phổi, thay tim. Bà còn sống hai năm, hãy thu xếp và hãy vui những ngày còn lại.

Mặt nhà tôi trắng bệch ra và thằng con cắn môi, dụi mắt để ngăn tiếng nấc. Tôi điếng người nhận bản án tử hình! Tôi có cảm giác mặt tôi như đanh lại và người như tê đi.

Buổi sáng hôm sau, ngồi trên chiếc xe lăn rời khỏi bệnh viện. Từ nay tôi là kẻ tàn phế. Mũi lúc nào cũng phải có ống thở oxygen. Tôi thật sự thành người tàn phế!

Sau một tuần mưa gió, hôm ấy trời nắng ấm. Tôi nhớ căn nhà nhỏ của tôi, xa có hơn mười ngày mà tưởng chừng như lâu lắm. Trước nhà, cả dãy Hồng dọc lối đi đầy hoa. Bước ra sân sau thăm khu vườn nhỏ, vạn vật như tươi cười trong nắng, cây Apricot hoa chi chít từ gốc đến ngọn, màu hồng dịu dàng như màu hoa Anh Đào của Nhật. Cây Mận đầy hoa trắng xóa trên cành. Cây Đào ăn trái hoa thưa hơn, màu hồng đậm hơn, duyên dáng ở một góc vườn. Bên hông nhà một dàn Nho vòm tròn hình vòng cung, lá non xanh và những chùm nho xinh xinh đã tượng hình. Bao phủ mặt đất từng khoảng cúc tím, cúc vàng nở rộ, những bông “Lily of the Nile” cũng như cố vươn lên mỉm cười với tôi. Thoang thoảng hương thơm của bụi hoa Nhài trộn lẫn hương hoa Hồng, dàn hoa Hồng với những bông hoa nhỏ xíu bằng đồng hai mươi lăm xu, màu hồng phấn, thơm nhè nhẹ. Hai cây Bông Giấy đỏ thắm quấn quýt hai bên cột “patio”.

Bấy giờ là mùa xuân, chim non ríu rít truyền cành. Cảnh đẹp quá, thiên nhiên đẹp quá. Tôi như say với nắng, màu nắng thật ngọt ngào. Tôi như say với gió, làn gió thật thơm tho. Từng phiến lá rung rinh, từng cánh hoa khoe sắc… Trời ơi… cảnh tươi đẹp thế kia, tôi yêu quá… thế mà chỉ hai năm, hai năm là hai mươi tư tháng, là bẩy trăm ba mươi ngày tôi phải vĩnh viễn rời xa. Tôi chỉ còn thời gian ngắn ngủi như thế trên cõi đời này sao… và tôi đã bật khóc.

Những chuỗi ngày tiếp theo ủ ê, buồn nản. Ban ngày chỉ còn mình tôi trong căn nhà vắng, đi vào, đi ra… dù sao tôi cũng phải sửa soạn, sửa soạn cho một chuyến đi thật xa, về miền miên viễn. Đầu óc mông lung, nghĩ quẩn nghĩ quanh rồi lại vùi đầu vào gối mà khóc, khóc cho vơi, khóc cho thỏa. Ban đêm giấc ngủ chập chờn với những cơn ác mộng, tỉnh dậy mệt nhoài, trăn trở.

Tôi thấy mình như đang đi trên một cánh đồng vắng lặng, hoang vu. Trời xám và hình như lất phất mấy giọt mưa. Đồi núi mênh mông, cỏ mênh mông, những bông cỏ may như bám vào mặt, những ngọn cỏ dại như vướng vào chân. Cảm giác bơ vơ đến tột cùng. Bỗng một đám người từ đâu ùa tới đuổi dồn tôi vào một ngõ sâu hun hút, như một con đường hầm tối đen. Tôi cắm đầu chạy và như hẫng chân, bừng tỉnh, tim đập mạnh, mệt nhoài.

Từ ngày ở nhà thương về tôi hay có những cơn ác mộng như thế. Trong cơn mơ tôi thường gặp những đám người đen đúa, bẩn thỉu, không ra mặt người, không ra mặt quỷ chạy đuổi tôi và tôi chạy trối chết cho đến khi hoặc như vấp phải vật gì hoặc vì quá nhược sức tôi ú ớ vùng tỉnh dậy.

Tôi nghe nói khi con người ở bên bờ tử sinh hay nhập nhòa, chập choạng nhìn được cõi bên kia, một thế giới vô hình mà khi mạnh khỏe, dưới ánh mặt trời ta không nhìn thấy. Tôi nhớ hồi mẹ chồng tôi bịnh, đến gần ngày cụ mất cụ hay mê sảng: “ Sao ở đâu ra mà lắm người vào nhà mình thế này. Đuổi đi, đuổi chúng nó đi”.

Tôi buốt ruột khi nghĩ đến cha mẹ tôi, hai thân già còm cõi sẽ phản ứng ra sao nếu tôi bất hiếu đi trước, bầy chị em mỗi năm vẫn ríu rít gặp nhau và con, cháu tôi… Tôi sắp phải rời xa tất cả. Có đêm tôi mơ tôi mặc chiếc áo dài nhung đỏ nằm bình an trong chiếc quan tài, đèn nến lung linh và tôi bay như chim trong bầu trời bát ngát, thoải mái, nhẹ nhàng.

Tôi yếu và hốc hác hẳn vì lo buồn, vì khó ngủ, vì nghĩ ngợi lung tung. Ngày nghỉ nhà tôi đưa đi bộ quanh khu nhà ở hoặc ra khu công viên có cỏ hoa tươi tốt cho tinh thần sảng khoái nhưng cứ đi được một quãng ngắn là tôi phải dừng lại thở dốc, lên ba bốn bậc cầu thang tim đã đập thình thịch phải ngừng!

Cho đến một đêm lũ người đó lại đuổi theo tôi, tôi lấy hết sức bình sinh cắm đầu chạy. Những bước chân chạy theo đằng sau dồn dập, như gần, thật gần. Không hiểu sao tôi quay ngoắt lại, nhìn thẳng vào đám người đen đúa, bẩn thỉu đó gằn giọng:

– Sao tụi bay theo tao hoài vậy, có đi đi không?

Rồi tôi lao thẳng tới đuổi lại họ. Họ quay người chạy đi và biến mất. Kể từ lần ấy tôi không nằm mơ thấy mình bị rượt đuổi nữa.

Các bạn trong sở chia nhau đến phụ nấu cơm nước và chuyện trò làm tôi vui. Các bạn ở xa biết tin cũng điện thoại hỏi thăm, gửi kinh sách và băng giảng của các Thày. Tôi bắt đầu tập thiền. Cậu em rể đem bài chỉ dẫn cách tập Dịch Cân Kinh bảo tôi cố tập. Hàng tuần tôi phải đi ba bác sĩ, một chuyên về tim, một chuyên về phổi và vẫn phải trở lại bà bác sĩ gia đình. Mỗi tháng phải đến phòng khám bệnh của trường Đại Học UCLA để bác sĩ chuyên môn về bịnh Pulmonary Hypertension điều trị. Tiểu Linh, bạn của cô em tôi, PhD về Đông y, sau khi bắt mạch, khám bịnh có cho một toa thuốc tăng cường thể lực, cân bằng khí huyết và nhìn sắc diện tôi cô nói: “Chị còn vượng lắm, cần nhất là giữ tâm thanh thản và tinh thần vững vàng thì chị sẽ vượt qua.”

Mỗi tối tôi ngồi khoanh chân tập thở. Tôi chưa thể xua đi những tạp niệm, chưa thể lắng tâm tư mình như lóng gạn bình nước táo. Tôi ôn lại cuộc đời tôi từ thuở ấu thơ đến lúc trưởng thành, những vất vả gian nan sau năm 1975 khi chồng phải đi cải tạo, những vinh nhục khi lên voi lúc xuống chó, những ngày lênh đênh trên chiếc thuyền con ra khơi vượt biển, những khó khăn khi một nách hai đứa con thơ phải làm lại từ đầu với hai bàn tay trắng, phất lên rồi thất bại và bây giờ lại mắc căn bịnh hiểm nghèo. Tại sao? Tại sao?? những câu hỏi cứ dằn vặt trong đầu óc. Có những lúc tôi như ngộp thở rồi lại dằn lòng xuống, tập trung để cố gắng hít vào thật sâu và thở ra thật từ từ.

Nhà tôi là người ít nói lại càng ít nói. Muốn an ủi vợ mà chẳng biết nói sao, chỉ nhắc nhở uống thuốc, chịu khó đưa đi bác sĩ và ái ngại khi thấy tôi ủ dột, buồn phiền. Thằng cháu út ra vào im lìm, không dám làm gì gây tiếng động mạnh, len lén nhìn mẹ xót thương. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp nhà tôi ngồi trong xó tối khóc lặng lẽ. Không khí trong nhà thật ảm đạm, thê lương.

Nghĩ đến lời nói của ông bác sĩ và khuôn mặt vô cảm của ông ta tôi thật giận và khi đến phòng mạch của ông tôi đã hỏi thẳng:

– Thưa bác sĩ, ông có phải là Thượng Đế không mà ông biết rõ ngày giờ tôi chết? Sao ông có thể nói như vậy với bệnh nhân? Nếu tinh thần người bịnh không vững thì tôi nghĩ họ có thể chết vì lời nói của ông chứ không phải vì căn bịnh.

Ông bác sĩ có vẻ không phật lòng còn đem quả tim bằng plastic ra để giảng giải. Ông đưa những tài liệu về căn bệnh này và chịu khó ngồi trả lời những câu hỏi vặn vẹo của tôi. Tóm lại bịnh chưa có thuốc chữa, con người sống nhờ máu đưa oxygen đi nuôi cơ thể, áp suất trong phổi cao nên phổi khó hấp thụ Oxygen, phổi không làm việc tốt thì tim phải làm việc nhiều, phải bơm máu nhiều lần hơn cho đủ lượng oxygen cần thiết và như thế thành của quả tim sẽ dầy ra, to ra, đến một ngày tim sẽ chai cứng, sẽ đình công không làm việc nữa…và ông khuyên tôi phải cắm ống thở vào mũi cả ngày lẫn đêm để tăng cường nồng độ oxygen trong máu cho tim bớt khổ, đợi đến ngày gặp cơ hội có tim phổi sẵn sàng để thay. Bệnh viện ở UCLA đã ghi tôi vào danh sách chờ người cho tim phổi.

Trời chớm Thu, gió nhè nhẹ, nắng hanh hanh. Rặng phong hai bên đường đã bắt đầu đổi màu. Sau mấy tháng đã quen, ống thở không làm tôi vướng víu. Giọng nói hiền từ, dịu dàng như người cha già của thầy Thích Thanh Từ qua các băng giảng đã cho tôi hiểu về lẽ vô thường, về lý nhân duyên, về luật nhân quả và nhất là về nghiệp lực của con người qua đời đời kiếp kiếp. Thời kỳ xuống tinh thần đã qua, buổi sáng ra sân sau tập thể thao, ngắm trời đất, cỏ cây, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi. Tôi yêu đời nhưng tôi không sợ chết. Ai cũng phải chết, có ai sống hoài. Tôi thấy tôi thật hạnh phúc đã được báo trước chuỗi ngày còn lại, để có thì giờ ngẫm nghĩ về cuộc đời, về thân phận con người. Tôi không còn dằn vặt mình, không còn than trời trách đất. Tôi hết so sánh với các em, các bạn để buồn tủi về định mệnh nghiệt ngã của mình. Sống một ngày vui một ngày, tôi tự nhủ và tôi sẵn sàng đứng dậy như bao lần trong cuộc đời tôi đã từng gục ngã rồi lại cắn răng đứng dậy để vươn lên. Nếu có vướng nghiệp từ muôn kiếp trước thì tôi vui lòng trả cho hết nghiệp trong kiếp sống này và tôi sửa soạn sẵn sàng để ra đi.

Tôi vào “Recreation Center” tìm lớp học. Tôi học vẽ, học làm đồ gốm và học trang trí nhà cửa. Tôi có thêm nhiều bạn mới, những người già đã về hưu, những người nội trợ sau khi đưa con đi học thì vào trường. Ngồi trong lớp tôi chăm chú nặn những bình hoa, sáng tạo những vật dụng trong nhà. Tôi khắc những con búp bê Nhật Bản thật là xinh. Rồi những ngày đẹp trời tôi đem giá vẽ ra vườn để đắm mình vào thế giới của màu sắc. Tôi bắt đầu viết văn. Nếu không bịnh tôi có được về hưu sớm và sống thoải mái như thế này không?

Một chị bạn gửi cho hột cải thuốc của Nhật, lá cải tựa như lá rau cải làn bảo gieo hột trồng cây lấy lá ăn tốt lắm. Tôi rắc luôn cả gói, chỉ mấy tháng đã có cải non ăn. Có người bạn khác gửi cho đĩa tập Suối Nguồn Tươi Trẻ. Thế là cứ buổi sáng thì Dịch Cân Kinh và buổi tối thì SNTT. Khi ngồi thiền tôi đã bớt nghĩ ngợi lung tung, hít vào thật sâu và khi thở ra tôi thấy rõ luồng hơi ấm chuyển trong người. Bên cạnh thuốc tây tôi đã uống mấy trăm thang thuốc bắc. Uống thuốc tây nhiều khi chữa được phổi lại hỏng gan. Thuốc bắc gia tăng hệ thống miễn nhiễm và giúp điều hòa khí huyết.

Thời gian từ từ trôi, tôi tìm đến bạn thân, đến nơi hội họp. Tôi hết mặc cảm với ống tube oxygen còn đùa giỡn là mình có nữ trang đặc biệt. Trêu chọc ông chồng già của tôi để “cheer him up”. Hết hạn hai năm tôi thấy khỏe khoắn hơn, khi gặp ngài bác sĩ đã phán sau hai năm tôi phải chết, ông ta cười:

– Bà Nguyễn, bà là bệnh nhân tuyệt vời. Bà là bệnh nhân đầu tiên mắc bệnh hiếm này mà không bị tồi tệ hơn. Bà ráng cầm cự thêm vài năm, họ đang nghiên cứu nhiều, hy vọng sẽ tìm ra thuốc tốt để chữa căn bịnh này.

Tám năm đã qua… bây giờ tôi vẫn còn đây!

Đỗ Dung

Posted in Điểm Sách | Tagged | Comments Off

Tháng Mười “Duyên Dáng”

California bây giờ mới chính thức chớm Thu. Lá úa vàng, trời hơi se lạnh. Thế là muộn vì đã giữa tháng Mười.

Ngày xưa, thuở sinh viên, một ngày tháng Mười, một người bạn nói thế này “Tôi đoán chắc Qg sinh tháng Mười”.

Ngày đó, tôi là ngây thơ và còn “tồ” nữa là khác nên mở to mắt “Ủa sao anh biết” “Nhìn đôi mắt Qg là biết!”.

Ngày ấy, tôi không hề biết là anh bạn đã “lén” nhìn vào phiếu thực tập và biết được ngày sinh của tôi. (Chúng tôi thực tập chung lớp Sinh Hóa).

Tôi chỉ biết tôi thích anh nói tiếp theo “Mấy người sinh tháng Mười thường đa sầu đa cảm nhưng rất thông minh”.

Mấy chục năm trôi qua, giờ này tôi muốn nhắn lại với người bạn cũ “Anh đoán Qg đúng đấy chứ. Qg thông minh mà. Nhưng Qg cũng rất mau nước mắt”. Và muốn gửi đến anh “Chuyện ngày xưa dễ thương anh nhỉ”

Tháng Mười với tôi năm kia, 2012, là “xinh xắn” và năm nay, 2014, là “duyên dáng”.

“Xinh xắn” vì là quà nho nhỏ từ một cậu em cùng “nòi”. “Nòi” ở đây là cùng nòi Bắc kỳ chín nút, cùng nếp nhà kiểu xưa, cùng dân thích học. ( tức là thuộc loại “gạo”!) Năm nay “duyên dáng” vì cũng là quà nho nhỏ từ người cũng cùng “nòi”. Với người cùng “nòi”, tôi cảm thấy dễ chịu. Cái dễ chịu của những loại hoa cùng loại trong cùng một vùng đất, của những con chim cùng hót một giọng, của những con cá cùng bơi lội trong một giòng sông. Đó là sự nho nhã, sự dịu dàng, sự tế nhị trong một tâm hồn đa sầu đa cảm. Đa cảm thì mới biết rung cảm trước vẻ đẹp của một đóa hồng sớm mai, của một thánh ca chiều thứ bẩy, của một quyển sách cuối tuần. Đa sầu để biết nghiêng mình rất nhẹ như chiếc bóng nghiêng của một buổi chiều tà xuống những mảnh đời không vui. Giao thiệp với những người cùng “nòi”, tôi không thấy bị “hurt”. Sự giáo dục gia đình tương tự như của tôi thì những suy nghĩ cũng tương tự, phải không.

Bèo hợp để rồi tan

Trăng tròn để rồi khuyết

Người gần để ly biệt

( Quên tên tác giả)

Hai “dễ thương” và “xinh xắn” đã “gần để ly biệt”. Nỗi buồn chỉ chao nhẹ.

“Duyên dáng” bây giờ thì chưa biết bao giờ sẽ “ly biệt”!

Tôi không quan tâm đến những điều đó nhiều. Đã từ lâu, tôi tập cho mình “thương” rất dễ và “quên” cũng rất mau. Là mình áp dụng nguyên tắc sống của Mỹ “Take it easy”, tôi tự nhủ thầm mình như thế.

Đã có những người bạn tôi cũng “thương” lắm chứ. Nhưng khi cần thì cũng chia tay thật nhanh và mọi cái như bong bóng. Tan vỡ như chưa bao giờ hiện diện.

Mà thôi, hãy tận hưởng “duyên dáng tháng Mười” bằng việc nghe một nhạc phẩm dễ thương mà người gửi hỏi tôi có thích không. Thì phải thích chứ vì nhạc hay, người hát cũng hay cơ mà:

https://dl.dropboxusercontent.com/u/89792831/Music/Single/DV-GoiNguoiYeuDau.wma

Rừng Gió California tháng Mười 2014

Hoàng Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Saigon Muôn Năm Cũ -Lê Anh Kiệt với Mặt trận tình báo

Nguyệt san Bút Tre số tháng 9/2014

LGT: Lê Anh Kiệt là GS Hóa vài trường tư thục trước 1975, đồng thời cũng là một nhân viên trong Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo, cũng có thể coi là một “sư huynh” của Hoàng Lan Chi. Ông là một trong những người có thể xếp vào nhóm “Những người tù cuối cùng của nhóm đi tù vc sau 1975”. Với 17 năm tù vc, ông đến Mỹ trong danh sách đặc biệt của Hoa Kỳ. Xin mời nghe ông kể về một hoạt động trong phòng A 17 của ông, liên quan đến việc VNCH giành lại Ban Đại Diện Khoa Học vào năm 1972.

HLC: Xin chào “sư huynh” Lê Anh Kiệt. Chúng ta cùng trường và lại cùng môn Hóa. Tuy vậy, khi anh trở lại trường và hoạt động trong việc chống cộng sản xâm nhập Khoa Học thì HLC đã rời khỏi nơi đó và khi HLC quay trở về thì có lẽ mọi việc đã tương đối ổn định. Câu hỏi đầu tiên là chút tò mò về nhân thân. Anh sinh quán ở đâu, cha mẹ làm gì, đậu tú tài năm nào, lý do nào vào Khoa Học?

LAK: Để trả lại 2 chữ “sư huynh” , cho phép tôi dùng 2 chữ “sư muội” cho có vẻ “Kim Dung” một chút! Tôi là người Sài Gòn trăm phần trăm, như trong quyển hồi ký mà tôi lấy tên là “Một Cuộc Đổi Đời” tức “17 năm trong các trại CT của CSVN” của KALE tôi có kể, ba tôi trước đó là công chức của Sài Gòn, theo Việt Minh và đã chết trong cuộc chiến chống Pháp trước khi hiệp định Geneve ra đời, và mẹ tôi là một người thợ may. Sau khi đậu Tú Tài 2 năm 1964, tôi vào Khoa Học vì tôi vẫn thích làm Kỹ Sư Hoá, nhưng thời đó chưa có trường nào dạy ngành này nên đành học Khoa Học vậy! Tập Hồi Ký này tôi có phổ biến trên web riêng: sites.google.com/site/lakiet

HLC: Sau khi tốt nghiệp Khoa Học, anh có phải vào quân đội không? Nguyên cớ nào đưa anh gia nhập Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo?

LAK: Tất nhiên lúc bấy giờ ngoài những người được hoãn dịch vì lý do gì đó thì thanh niên nào ở miền Nam cũng vào quân đội, nhưng tôi được biệt phái về Phủ sau 9 tuần quân sự. Tôi vào làm cho Tình Báo là do nơi đó tuyển mộ, bên này gọi là recruit (chứ không phải là hire!)

HLC: Xin cho vài nét khái quát về Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo? Thành lập từ bao giờ, quy chế tuyển dụng, lương bổng?

LAK: Thật ra tôi không rành về cơ cấu tổ chức của Phủ ĐUTUTB lắm vì nguyên tắc ngăn cách của nó và cũng vì tôi là một nhân viên hoạt động ngoại vi (field operation). Lương bổng thì tính theo ngạch công chức, tức là tuỳ theo bằng cấp của nhân viên mà chia ra các ngạch A, B, hay C, cộng với công tác phí.

HLC: Anh được huấn luyện trong bao lâu, tại VN hay có tu nghiệp ở Mỹ?

LAK: Lúc bấy giờ, vì lý do cần thiết cho công tác nên chúng tôi chỉ học rất ngắn hạn những nguyên tắc tình báo tại cơ quan rồi tung ngay ra để thực hiện các công tác cần thiết.

HLC: công tác đầu tiên là gì?

LAK: Đầu tiên tôi chỉ có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo lại các tin tức của các tổ chức sinh viên thân Cộng (do Thành Đoàn TN Lao đông HCM, tức Thành Đoàn Thanh Nhiên CSHCM bây giờ) trực tiếp điều khiển. Lúc bấy giờ các phong trào SV do Huỳnh Tấn Mẫm cầm đầu ở mặt nổi, liên kết với các tổ chức được gọi là thành phần thứ 3, do bà Ngô Bá Thành cầm đầu và các tổ chức tôn giáo thân Cộng như Phật Giáo Ấn Quang, nhóm linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín thuộc giòng Chúa Cứu Thế. Công tác này thật ra chỉ là công tác mở đầu vì lúc ấy tôi vẫn chưa có kinh nghiệm về các công tác tổ chức và điều khiển.

HLC: Vì sao có A 17 ra đời?

LAK: Khi SV Lê Khắc Sinh Nhật, chủ tịch SV Luật Khoa bị đặc công CS giết chết ở ngay sân trường Luật, sau một cuộc bầu cử Tổng Hội SV của Viện Đại Học Sài Gòn đã bầu anh Lý Bữu Lâm, một sinh viên có khuynh hướng Quốc Gia lên làm chủ tịch và anh Nhật là phó chủ tịch Nội Vụ. Ở các phân khoa nhất là 3 phân khoa lớn là Khoa Học, Luật và Văn Khoa, bọn SV thân Cộng vẫn hoành hành không theo chỉ đạo của Tổng Hội SVSG. Tổng Hội SVSG chỉ có danh chứ không có thực lực vì lực lượng sinh viên đều nằm tại các phân khoa. Trong tình hình đó cơ quan an ninh tình báo VNCH quyết định thành lập ban A17 để trực tiếp đối đầu với Thành Đoàn Thanh Niên Lao Động HCM, lúc ấy do Trần Bạch Đằng trực tiếp chỉ huy. Các SV thân Cộng có tổ chức “thành đoàn” hổ trợ thì các SV Quốc Gia cũng phải có một tổ chức yểm trợ, đó là ban A17, đó là điều dĩ nhiên.

HLC: Xin vài nét khái quát về tình hình lúc đó?

LAK: Các câu trả lời trên của tôi chắc cũng phần nào nói lên tình hình lúc ấy, tức vào năm 1971-1972. Ngoài chiến trường thì Quân Đội ta đang phải đối đầu với những trận đánh ác liệt của CSBV, ở hậu phương thì các tổ chức thân Cộng cứ phá rối trị an. Có bao giờ người dân bình thường đặt câu hỏi, “tại sao các phong trào được gọi là đòi hoà bình chỉ chống đối phe tự vệ, tức chính phủ VNCH mà lại không chống đối phe tấn công, tức CSBV hay không?” Hỏi tức là đã trả lời, vậy thì các tổ chức hoà bình ấy là của ai hoặc do ai chỉ đạo!

HLC: Anh nhận định thế nào vai trò của sinh viên thân cộng trong giai đoạn này?

LAK: Sinh viên là nguồn nhân lực nòng cốt trong mọi cuộc xuống đường. Thật ra SV thường có lòng yêu nước của tuổi trẻ nhưng lại không đủ khả năng để phân biệt sự khác nhau giữa “chủ nghĩa yêu nước” với “chủ nghĩa Cộng Sản”. Chính vì vậy mà lòng yêu nước đã biến rất nhiều SV trở thành những người thân Cộng và ngay cả việc biến họ thành những người CS.

HLC: Xin cho vài ví dụ cụ thể về tuổi trẻ yêu nước và đã lầm đường vì sự tuyên truyền của CS? Khi tỉnh ngộ, họ đã làm gì? Nếu được, cho danh tính vài người đã ‘tỉnh ngộ” khi VNCH còn tồn tại và chỉ tỉnh ngộ khi CS chiếm Sài Gòn khoảng vài năm?

LAK: Thí dụ cụ thể nhất là anh phó chủ tịch ngoại vụ của BĐDSVKH thời của Phạm Hào Quang, tức là anh Nguyễn Công Hoan. Anh ta là dân biểu thời VNCH (nếu tôi nhớ không lầm là đơn vị ở Huế) và sau 75 cũng là dân biểu của VC, hiện anh đang cư ngụ tại California, Hoa Kỳ.

HLC: Xin kể lại giai đoạn anh giúp phe ta chiếm lại được ĐH Khoa học? Đó là thời điểm nào, nhóm vc nằm vùng nào đang thao túng Ban Đại Diện sinh viên?

LAK: Tại ĐHKH, nhóm SV thân Cộng có tên là Nhóm Bừng Sống, được trực tiếp chỉ đạo bởi thành đoàn TNLĐHCM. Ban Đại Diện SVKH lúc ấy do anh Phạm Hào Quang làm chủ tịch, Đoàn Kỉnh là phó chủ tịch nội vụ, cả hai đều có khuynh hướng quốc gia, nhưng trong đó có anh phó chủ tịch ngoại vụ Nguyễn Công Hoan lại là một SV thân Cộng. Sau khi Phạm Hào Quang rời trường, anh Kỉnh nhập ngũ và anh Hoan đắc cử Dân Biểu của VNCH thì BĐD SVKH trở thành bỏ ngỏ. Anh Nguyễn Văn Thắng, tổng thư ký, thuộc nhóm Bừng Sống nắm lấy BĐD, thật ra người điều khiển chính có tên là Sơn (tôi không nhớ họ) và Lê Công Giàu. Kể từ đó nhóm Bừng Sống thao túng hoạt động của SV tại ĐHKH. Năm 1971, trước tình hình như vậy, cá nhân tôi nhận trách nhiệm tổ chức để chiếm lại ban đại diện SVKH cho các sinh viên Quốc Gia. Trở lại trường sau hơn hai năm vắng bóng, không còn ai quen biết, tôi điều nghiên tình hình và nhận thấy đa số sinh viên đều rất khó chịu về những hành động của nhóm Bừng Sống với những áp lực buộc SV phải theo họ đi biểu tình, bãi khoá v.v., chính nhóm SV Bừng Sống này đã làm cho khối đa số SV thầm lặng không thể yên tâm học hành. Tuy nhiên, không có một tổ chức nào đứng lên giúp cho họ có một tiếng nói. Từ nhận định đó tôi bắt đầu kết thân rồi “chiêu mộ” những sinh viên mà tôi gọi là “nhóm SV thầm lặng”, nhất là những người mới chập chững bước vào ngưỡng cửa đại học, tổ chức họ thành một nhóm. Nhân lúc ấy đang có trại Long Thành tiếp đón các đồng bào tạm cư vì chiến cuộc Bình Long nhưng vẫn chưa có một tổ chức SV nào đứng ra giúp đỡ, tôi giúp họ thành lập một tổ chức lấy tên là “Uỷ Ban SVKH cứu trợ đồng bào chiến nạn”, nhân đó tôi liên lạc với anh Phạm Hào Quang, với tư cách chủ tịch của BĐD cũ, để nhờ anh đứng ra giúp Uỷ Ban này lấy trụ sở của Ban Đại Diện SVKH làm trụ sở sinh hoạt. Tất nhiên nhóm SV Bừng Sống phản đối rất mạnh kể cả dùng vũ lực. Cuộc xung đột giữa 2 nhóm SV diễn ra rất thường xuyên, cuối cùng thì chúng tôi cũng chiếm được trụ sở Ban Đại Diện SVKH để có nơi chính thức sinh hoạt. Bước tiếp theo, chúng tôi nhờ anh Quang tổ chức cuộc bầu cử ban đại diện SVKH đã bị ngưng từ lâu và để cho cuộc bầu cử được vô tư, tôi yêu cầu anh Quang chỉ đứng ra với tư cách trưởng ban tổ chức bầu cử chứ không tham gia ứng cử hoặc đưa người ra ứng cử. Cuộc bầu cử BĐDSVKH trước đó đều là gián tiếp, tức là chỉ có đại diện các chứng chỉ đi bầu cho BĐD. Nay, nếu tiếp tục làm theo thể thức ây thì nhóm SV Quốc Gia không thể thắng được vì nhóm Bừng Sống đang làm chủ tình hình ở các chứng chỉ. Vì lý do đó chúng tôi yêu cầu tổ chức bầu cử trực tiếp, tức là mọi SVKH đều được đi bầu như thế mới thể hiện được tính dân chủ thật sự. Với sự chống đối dữ dội của nhóm Bừng Sống và một vài giáo sư trong trường, nhưng với sự ủng hộ của đa số sinh viên và giáo sư, cuộc bầu cử đã thành công và Ban Đại Diện SVKH 71-72 ra đời với anh Nguyễn văn Lễ thuộc nhóm SV Quốc Gia làm chủ tịch. Nhóm Bừng Sống lui về sinh hoạt lẻ tẻ ở một câu lạc bộ SV gần giảng đường 1 và dần dần cũng bị BĐD tiếp thu. Kể từ đó đến tháng 4 năm 1975, những Ban Đại Diện SVKH tiếp theo đều là những SV Quốc Gia và nhóm Bừng Sống hết môi trường hoạt động tại trường ĐHKHSG.

HLC: Anh đề cập đến một vài giáo sư, xin cho hỏi đó là ai? Trước 75, chúng tôi chỉ nghe phong phanh rằng Ban Địa Chất là một “ổ VC”. Sau 75, lộ ra GS Trần Kim Thạch và em gái ông, Cô Trần Thị Lạng. Về GS Lê Văn Thới, GS có công khai ủng hộ đám thiên tả hay đám phản chiến bên ngoài như Ngô Bá Thành, Ngô Công Đức gì không? Ngoài ô Trần Kim Thạch, còn ô Đinh Văn Hoàng (Sinh Hóa), GS Lê Văn Thới (Hóa) thì thế nào? Bên Động Vật/Thực Vật có những giáo sư, sinh viên nào thiên tả rõ rệt?

LAK: Tất nhiên trong số đó phải kể đến GS Trần Kim Thạch, Trần Thị Lạng. GS Thới thì bất mãn vì đã bị mất chức Viện Trưởng Viện Đại Học SG và bị ảnh hưởng của những nhóm SV ở Pháp lúc ông ấy du học bên Pháp nên thường có những lời nói khó nghe mà thôi chứ chưa thấy có hành động cụ thể nào.

HLC: Thế còn các khuôn mặt sinh viên nổi bật? Tổng nha cảnh sát có tài liệu về Miên Đức Thắng không? Lý do, MĐT học SPCN cùng năm với HLC và phải nói HLC cũng là những sinh viên thuộc “khối thầm lặng bực mình với đám sinh viên tối ngày xuống đường” mà không biết làm sao.

LAK: Tôi không biết những tài liệu ấy, nhưng tôi nghĩ chắc là phải có. Nhưng anh ta là một nhạc sĩ và anh ta cũng chỉ sáng tác nhạc giống như TCS chứ chưa thấy có hành động theo CS rõ rệt. Thêm vào đó ảnh hưởng của anh ta không đáng kể vì anh ta cũng không lôi kéo được bao nhiêu SV. VNCH mặc dù là một quốc gia Dân Chủ ở tình trạng “phôi thai’, nhưng cũng phải tuân thủ luật pháp của một xứ sở dân chủ. Nếu không bị bắt quả tang phạm pháp hoặc có chứng cớ cụ thể thì Cảnh Sát không có quyền giữ hơn thời hạn quy định. Đó chính là lý do ta thấy tại sao Huỳnh Tấn Mẫm cứ bị bắt rồi thả ra không biết bao nhiêu lần cho đến cuối cùng mới bị bắt quả tang và được trao trả cho phía VC (nhưng họ không nhận.)

HLC: Tại sao VC không nhận Mẫm? Sẵn nói tới Mẫm, xin anh cho vài nhận xét? Mẫm, có vẻ hoạt động rất mạnh và khá được việc trong việc phá hoại VNCH. Đặc biệt, khi có mâu thuẫn giữa Thiệu, Kỳ thì Mẫm đã dựa vào Kỳ. Sau 75, Mẫm không được trọng dụng và bây giờ, thời điểm 2014, Mẫm có vài bài viết không hẳn là ăn năn nhưng cũng bàng bạc tư tưởng ấy.

LAK: Tất nhiên tôi không biết rõ tại sao VC lại không nhận HTM, tôi nghĩ chỉ có tụi chóp bu của VC mới biết lý do chính mà thôi. Tất cả những lý do nhiều người đưa ra theo tôi chỉ là suy đoán, nào là họ còn có thể dùng Mẫm như một lá bài lật ngửa, nào là HTM chưa phải là một đảng viên vân vân. Việc HTM dựa vào ông Nguyễn Cao Kỳ bởi vì theo suy nghĩ của tôi lúc đó HTM không có chỗ dựa nào khác để khỏi bị bắt giam, vì lúc đó lá bài HTM đã hết hiệu quả. Còn chuyện của ông Kỳ chứa chấp HTM dù biết rõ anh ta là VC, tôi xin không nói đến để tránh bị tranh cãi vô ích. Chuyện sau 75 là chuyện của CS, tôi thấy chẳng ai được họ trọng dụng lâu dài mà tất cả những SV và các thành phần gọi là thứ ba theo họ đều chỉ được dùng như những con cờ trong một giai đoạn nào đó mà thôi. Theo ý của riêng tôi, HTM không ăn năn hay bàng bạc có ý tưởng ăn năn như HLC nói mà anh ta đang ngấm ngầm bất mãn vì không được trọng dụng sau khi anh ta đã đóng góp một phần rất lớn trên mặt trận chính trị để giúp cho CS chiếm được miền Nam.

HLC: Trở lại với A 17. Nhóm Bừng Sống “chết” tại Khoa Học nhưng còn ở các phân khoa tự do khác như Luật, Văn Khoa? Có phải vì đối diện Tổng Nha CS nên phải cương quyết xóa sổ vc tại Khoa Học?

LAK: Nhóm Bừng sống không “chết” mà lui vào hoạt động trong bóng tối, một số thành viên thì vào mật khu, một số bị lực lượng an ninh bắt quả tang đang trên đường trốn vào mật khu. Sau khi ban A17 thành lập thì chúng tôi nhắm vào tất cả các phân khoa của VĐHSG chứ không phải chỉ có ĐHKH, sau đó chúng tôi dần dần nắm hết các tổ chức SV của VĐHSG cho đến tháng 4 năm 1975, nhưng vì tôi không trực tiếp nên tôi không biết chi tiết cụ thể. Kể từ 72 đến 75, VC không còn lợi dụng lực lượng SV được nữa nên chúng mới thành lập những tổ chức khác để yểm trợ cho những cuộc quấy rối thủ đô SG như “phong trào phụ nữ đòi quyền sống, lực lượng thanh niên cứu đói, ký giả ăn mày”, hoặc lợi dụng các thương phế binh vân vân, nhưng không quy tụ được số đông và không gây được tiếng vang lớn như các phong trào SV trước đó. Chỉ còn một số nhỏ không quan trọng mấy ở VĐH Vạn Hạnh do Phật giáo đỡ đầu nên rất khó vì dễ bị đụng chạm đến tôn giáo. Thêm vào đó công tác tình báo rất tốn kém, mà VNCH không có đủ ngân sách để đài thọ. Tôi xin lấy một thí dụ nhỏ về sự tốn kém ấy, trong thời gian nghỉ Hè, sau những kỳ thi SV không làm gì thường bị lôi kéo vào những hoạt động gây mất trật tự. Muốn tránh điều này cần phải có một trại hè cho SV để đưa họ ra khỏi thủ đô. Việc đài thọ cho một trại hè với hàng chục ngàn SV không phải là một chi phí nhỏ! Chúng ta nên nhớ thêm rằng ngoài phương diện tam quyền phân lập, VNCH còn bị áp lực của Hoa Kỳ và nhất là của truyền thông Hoa Kỳ cũng như của các phong trào phản chiến ở Mỹ và các nước phương Tây.

HLC: Dù sao cũng phải ghi một điểm son cho A 17 trong việc ổn định tình hình giới sinh viên. Thời nào cũng thế, thanh niên luôn là phát súng khởi đầu vì trái tim nhiệt huyết và cái đầu tương đối không quá u mê nhưng lại ngây thơ vì chất chứa những lý tưởng cao vời. Hiện giờ những người ấy đâu rồi? Tôi muốn nói đến những người công tác tại phòng A 17? Tôi có thể hình dung, nếu không thoát kịp, hẳn những con người tương đối ưu tú ấy ( tôi dùng chữ tương đối vì họ phải đối phó trong một mặt trận khác, không phải rạch ròi để xả súng vào đối phương mà phải len lỏi, mưu kế) đã bị cộng sản trả thù tàn nhẫn lắm. Cá nhân anh, với gần 17 năm tù là một chứng minh hùng hồn. Xin kể cho chúng tôi nghe về vài con người lãnh đạo của A 17 và vài người đã hy sinh trong ngục tù CS?

LAK: Ngoài vài anh bạn đã chết trong ngục tù CS, hầu hết chúng tôi đều đã sang đây theo chương trình trao đổi của Mỹ với VC, mà ta thường gọi là HO. Xin phép cho tôi không nhắc tên những người ấy vì chúng tôi đã vướng vào cái nghiệp tình báo, tức là làm việc trong bóng tối và cũng sẽ chết trong bóng tối.

HLC: Cảm ơn anh về sự hoài niệm những người con ưu tú của tổ quốc trong mặt trận tình báo. Trước khi tạm biệt, xin cho vài nhận định của anh đối với cuộc chiến hôm nay? Sau hơn 30 năm, VC tất nhiên không phải là cộng sản thuần túy thế nhưng với những người nặng lòng với quê hương đất nước vẫn không thể ngồi yên. Giải pháp nào cho Việt Nam hiện nay?

LAK: Theo ý tôi, CS bao giờ cũng là CS. Tuỳ lúc và tuỳ thời mà chúng khoác một chiếc áo khác mà thôi! Nào là “Hoà Hợp Hoà Giải,” rồi “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” vân vân, chỉ là những sách lược của họ trong một giai đoạn nào đó. Tôi mong các thế hệ thanh niên nhất là ở quốc nội và cả những người Việt ở quốc ngoại nên nhận định rõ như vậy khi phải đối đầu với chúng. Những người Việt ở quốc ngoại dù sao cũng đã chấp nhận cuộc đời ly hương, tranh đấu để hỗ trợ cho những thanh niên trong nước mới là chính. Tranh giành một chút tiếng tăm hoặc quyền lực càng làm chia rẽ tập thể và giúp cho CS có đất nẩy mầm.

Hoàng Lan Chi thực hiện 9/2014

Posted in Phỏng Vấn | Comments Off

Trò Chuyện với Lan Chi – Với Giám Đốc Barber City Wom en’s Club

Trò Chuyện với Lan Chi – Với Giám Đốc Barber City Women’s Club

Bản dịch: Vũ Dân

Mrs Nadine Davis with 2 receivers: Hoàng Lan Chi-Christie Ngo

HLC: Xin chào Bà Nadine Davis. Tôi được biết Barber City Women’s Club vừa cấp học bổng cho người cư trú ở Westminster. Xin phép phỏng vấn bà về chương trình này. Club này thành lập từ bao giờ và có bao nhiêu hội viên?

Nadine Davis: Barber City Women’s Club đã được lập ra ra vào năm 1927. Kể từ đó, Hội và câu lạc bộ đã trải qua nhiều thay đổi kể cả vào năm 1957 Barber City xát nhập vào Westminster khi thành phố Westminster được thành lập. Chúng tôi cũng là thành viên của California Federation of Women’s Clubs. Có khoảng 32 thành viên. Mục đích của Hội từ năm 1990 và sẽ tiếp tục như sau: Tổ chức cho sự thăng tiến của các sinh hoạt từ thiện, văn hóa, giáo dục, tài trợ vô vụ lợi, phúc lợi trong cộng đồng, và các dịch vụ cho tha nhân. Đây là một hội phi chính trị, phi tôn giáo.

Phương châm của Hội là “Sống cho những người yêu thương chúng ta và làm những điều tốt lành mà chúng ta có thể làm được.” Các tổ chức từ thiện và phi lợi nhuận mà được hưởng lợi từ Hội không chỉ giới hạn tại địa phương, bao gồm: khu tạm trú American Family Housing ở Midway City, S.H.U.E Project (các vị cao niên chỉ dạy cho trẻ em lớp 1 và 2 tại Trung Tâm Cao Niên ở Westminster), Veterans Hospital of Long Beach (vườn cho bệnh nhân), The Pet Food Bank, Interval House and Collette’s Children, Nadine’s Patio (Golden West College Khoa Điều Dưỡng mang đến cho sinh viên ngành điều dưỡng một chỗ để học, ăn, và chuyện trò. Ngoài nước Mỹ thì có Heifer international and Malawi, ở Phi Châu, nơi học cụ đã được gửi cho một người thầy giáo của học sinh nghèo.

Hội gây quỹ cho hai học bổng, mỗi học bổng trị giá $1000, dành cho phụ nữ sống tại Westminster để hỗ trợ họ trong việc học vấn.

Hội gây quỹ bằng cách: Bunco, Điểm Tâm Pancake, bán nhiều món ăn khác nhau tại Westminster Summer Concerts in the Park, bán BBQ, bán bánh, bán đồ cũ ngoài vườn trong mùa Hè, Hội Chợ Thủ Công Nghệ mùa Thu, Cơm Tối Mùa Thu, và cung cấp bánh vào tháng 12 cho dịp Westminster Tree Lighting.

Ngoài ra, Hội còn bảo trợ các chương trình miễn phí cho cộng đồng như: trao đổi sách, những buổi gặp gỡ đan móc, thêu thùa hàng tháng. Một số hội viên đã làm những việc sau để giúp đỡ Hội: Làm “cookies “, bánh mì, mứt; tổ chức và làm việc trong các buổi sinh hoạt, trở thành hướng dẫn viên tự nguyện tại Hội Lịch Sử Westminster, đi họp hàng tháng, giúp nấu nướng cho các buổi họp hàng tháng, cho người nghèo của Light House Project quần áo, giầy dép.

HLC: các hoạt động xã hội của club?

Nadine Davis: Chúng tôi có Bunco 7 giờ tối ngày 25 tháng 8, BBQ ở câu lạc bộ ngày 23 tháng 8 từ 11 tới 2 giờ trưa, hội chợ thủ công nghệ từ 10 giờ tới 2 giờ trua ngày 20 tháng 9. Chúng tôi sẽ bán “cookies” và “hot dogs” ở Wesminster Concerts từ 6 tới 7 giờ tối ngày 31 tháng 7, ngày 7 và 23 tháng 8.

HLC: Ý tưởng trao học bổng có từ bao giờ? Đây là sáng kiến của ai?

Nadine Davis: Chúng tôi đã cấp $3,000 học bổng hai năm qua cho phụ nữ ở Westminster. Ứng viên được mở rộng từ học sinh lớp 12 trung học đến phụ nữ trung niên muốn tiếp tục những chương trình học cao hơn .

HLC: Có bao nhiêu học bổng trong một năm và trị giá thế nào?

Nadine Davis: Năm nay chúng tôi đã tặng $3,000 học bổng; 2 học bổng $1,000 và 2 học bổng $500.

HLC: Tiêu chuẩn để cấp học bổng?

Nadine Davis: Đơn với đầy đủ chi tiết, căn cước cá nhân, bản thảo hồ sơ học vấn nếu cần. Văn bản trình bày lý do xin học bổng. Văn bản nên gồm có quá trình học vấn, kinh nghiệm, và dự tính tương lai, kinh nghiệm phục vụ cộng đồng, sinh hoạt ngoài việc học, có tham gia các hội đoàn nào, giải thưởng, bằng ban khen đã nhận được.3 thành viên của Hội Phụ Nữ Barber City đọc và chấm đơn. Đơn được điểm cao nhất sẽ được nhận học bổng.

HLC: Club có định mở rộng việc câp học bổng sang các thành phố lân cận như Garden Grove, Fountain Valley?

Nadine Davis: Không. Các thành phố đó cũng có các hội phụ nữ riêng và họ cũng có những chương trình cho học bổng.

HLC: xin cảm ơn bà Nadine Davis về buổi trò chuyện này. Xin chúc sức khỏe và club ngày một phát triển có nhiều hữu ích trong các chương trình phục vụ cộng đồng.

********************************************************

English:

Talking with Lan Chi

With Nadine Davis, President of Barber City Women’s Club

HLC: (Good morning) Nadine Davis. I have just learned that Barber Woman Club has just awarded a scholarship at Westminster, CA. I am honored to have an interview with you today about this program. First of all, can you tell me when this club was established, and how many members are there in the club?

Nadine Davis: The Barber City Women’s Club was created in 1927. Since then the club and clubhouse have gone through many changes including when Barber City was absorbed in 1957 when the city of Westminster became incorporated. We are registered with the California Federation of Women’s Cubs. There are about 32 members. The purpose of the club in 1990 was and continues to be: To organize for the advancement of charitable, cultural, educational, philanthropic, and welfare activities in the community, and the service to others. The club is non-political, non-sectarian. The club motto is “We Live for Those Who Love Us and the Good We Can Do.”

Charities and non-profits which have benefited have included but are not limited locally to: American Family Housing shelter in Midway City, S.H.U.E Project (seniors mentor 1st and 2nd graders at the senior center in Westminster), Veterans Hospital of Long Beach (patient garden), The Pet Food Bank, Interval House and Collette’s Children, Nadine’s Patio (Golden West College nursing program which gives nursing students a space to study, eat, and socialize) and internationally to: Heifer international and Malawi, Africa, where school supplies were sent to a teacher of disadvantaged students.The group raises funds for two $1,000 educational scholarships for women who live in Westminster to assist them in continuing their educational goals.The ways the club raises funds include: Bunco, Pancake Breakfast, offer various food options to be sold at the Westminster Summer Concerts in the Park, summer BBQ/Bake/Yard sales, fall Community Craft Faire, Fall Dinner, and supply baked goods at the December Westminster Tree Lighting. Free programs the club has sponsored for the community includes: Free book exchanges, free knitting/crochet monthly gatherings.What have some our members done to support the group? Bake cookies, breads, jams; organize events, work at the events, become docents at the Westminster Historical Society, go to monthly meetings, help cook for the monthly meetings, provide donations of clothes and shoes to be given to the needy for the Light House Project.

HLC: How about social/communities activities of the Club?

Nadine Davis: We have Bunco on August 15 at 7PM. We have a BBQ to be held at the clubhouse on August 23, 2014 from 11-2. We have a craft Fair on September 20 from 10-2. We sell cookies and Hot Dogs at the Westminster Concerts on Thursdays July 31, Aug 7 and 14th from 6-7

HLC: When was the idea of giving scholarship for student of Westminster established? Who was the founder? and when was it actually started?

Nadine Davis: We have given $3000 worth of scholarships the last 2 years to Westminster Women. We enlarged the pool from high school seniors to women who are pursuing further education.

HLC: How many scholarships are given in a year? What is the value of each scholarship?

Nadine Davis: We gave $3000 worth of scholarships this year 2 $1000 scholarships and 2 $500 scholarships

HLC: What are the standard of selecting scholarship recipient? And who are in the selection committee

Nadine Davis: A Completed Application, Photo Identification, a copy of educational transcripts if applicable, Personal statement stating why applicant is seeking scholarship. Statement should include background and future goals and community service experience, Extracurricular activities, memberships in clubs and organizations, recognitions, awards, or honors received. 3 members of the Barber City Women’s Club read and score the applications. The highest scored applications receive the scholarships.

HLC: Does the club have any plan to expand this scholarship to other areas in the future such as Garden Grove, Fountain Valley?

Nadine Davis: No each of those cities have women’s clubs who also Give out scholarships.

HLC: Thank you so much for your time today. I wish the club will be successful and can contribute more to society.

Posted in Phỏng Vấn | Comments Off

Về Ban Vật Lý Địa Cầu

Bài này viết tiếp “Sài Gòn ngày ấy”. Trong Sài Gòn ngày ấy, tôi viết về quãng thời gian di cư vào Nam, học tiểu trung đại học. Coi tại đây: Sài Gòn ngày ấy

Về Ban Vật Lý Địa Cầu

ĐH Khoa Học 1972 Đại Học Khoa Học 2004

Biết thân phận là người Bắc, sẽ khó xin vào Ban Hoá, tôi mon men đến một ban mà tôi đậu khá cao và Thầy thì rất dễ thương. Đó là GS Nguyễn Hải với Ban Vật Lý Địa Cầu. Chứng chỉ VLDC là chứng chỉ nhiệm ý Lý của tôi và như đã nói vì thương thầy, quý thầy mà tôi chăm chỉ học. Tôi được nhận nhưng phải nhường cho mấy ông con trai vào ngạch trước vì lý do quân dịch của họ. Một điều kiện khác: tôi phải học Cao Học Vật Lý Địa Cầu và phải theo luôn. Tôi rầu lắm vì tôi học ban A (Vạn Vật) ( vì tôi thích Y Khoa thì phải học ban A) nên kiến thức toán không bằng ban B. Họ học nhiều giờ hơn mà. Tôi chấp nhận vì như tôi đã nói, tôi đang mơ có một Hoàng Tử bác sĩ đến rước đi! Mê Y, xui xẻo không được học Y thì mơ lấy chồng Y vậy. Trong khi chờ đợi Hoàng Tử đến, tôi ngậm ngùi …làm và học Cao Học VLĐC!

Trước đó khi tôi chưa chính thức vào Ban thì phải, Thầy tổ chức Đại Hội VLĐC gì đó và kêu tôi làm MC. Có lẽ Thầy gọi tôi vì tôi “dạn” chứ không phải là “người đẹp duy nhất” của Ban. Sau đại hội, tôi đến hai nơi, Thông Tấn Xã và báo Sống. Tôi chả quen ai ở Thông Tấn Xã cả nhưng tôi luôn chủ trương “ không quen thì mình làm thành quen”! Lâu quá tôi không nhớ chính xác nhưng có lẽ mình có vài “lợi điểm” như con gái là một, lại ăn nói nhỏ nhẹ dễ thương, lại “cô ký điệu” nên tôi đã gặp được một ông “bừ bự” nào đó (chả nhớ nữa). Ông ta tào lao xích đế rồi “ Sẽ có ở bản tin sớm nhất”.

Rời Thông Tấn Xã tôi đến Toà Soạn Sống của Chu Tử. Cũng lâu ngày quá quên mất cái anh chàng (mà tôi quen qua người bạn), tên gì. Anh ta phụ trách mục Trẻ hay Thanh Niên Học Trò gì đó của Sống. Tuy vậy ở đây có một kỷ niệm: khi tôi lên gác, cái cầu thang nhỏ, gác cũng nhỏ hẹp, anh chàng mời tôi ngồi ở salon cũng nho nhỏ. Trong khi tôi nói chuyện, mấy tay ký giả (tôi đoán vậy) ở xa xa …đứng ngó. Có gì đâu, hôm đó “Nàng” chơi áo dài đen viền kim tuyến ở cổ tay áo và cổ áo, quần trắng. Trông cứ như ca sĩ. Anh chàng tôi quen, nói rằng không đăng ngay bài tôi viết về Đại Hội được vì báo sao sao đó nhưng hẹn sẽ vào số sau. Mấy tay ký giả cứ cười rúc rích trong khi anh chàng nói chuyện với tôi.

Thế là xong nhiệm vụ giao tế. Bản tin Thông Tấn Xã gần nhất đăng, Sống đăng vào hôm sau và Thầy hài lòng. Sau này nếu tôi nhớ không lầm, một ký giả báo Sống (Dường như Phạm Nguyễn?) đến tìm tôi ở Khoa Học. Anh chàng tán “Tôi chưa thấy người nào mặc áo đen đẹp thế” Còn tôi thì vênh mặt “ Thì hôm đó anh thấy rồi đó!” .

Vì tôi ngoại giao dễ dàng như vậy nên Thầy Hải “khoái” có cô học trò để lo mấy vụ đó. Mặt khác, Thầy cưng tôi vì tôi cũng học giỏi môn Thầy cơ mà. Mấy trự đàn ông trong Ban thấy Thầy cưng thì họ …kỵ tôi. “Ông Tạ Công Quyền” không thèm xếp giờ dạy cho tôi! Đợi tôi “mét” Thầy lần thứ hai, mới chịu xếp. Chạy qua bên Ban Vật Lý của Thầy Nguyễn Chung Tú (kiêm Khoa Trưởng Khoa Học) dạy thêm, cũng bị mấy trự đàn ông bên đó ăn hiếp. Có gì đâu, mấy ông bắc kỳ kiểu đó hay chơi “phủ đầu” ma mới. Xét cho cùng, mấy tay khoa học chả dễ thương gì cả. So với LQT của Tổng Nha Kế Hoạch, thua xa! Khi vào Tổng Nha Kế Hoạch, LQT lại làm quen và đưa tôi đi giới thiệu với mọi người, rồi khi trời mưa lâm râm là lấy dù rủ tôi đi mưa. Lúc nào anh cũng nhỏ nhẹ dịu dàng. 40 năm sau gặp gỡ ở group Tổng Nha Kế Hoạch, anh vẫn như thế với tôi. Dễ thương.

Chỉ có vài người không “kỵ” tôi là thầy Trần Tấn Mỹ. Dưới thầy Hải là thầy Mỹ và thầy Mỹ là người Nam. Bên cạnh đó là một cậu người Nam, và một cô thư ký nhỏ. Một ông bắc kỳ ban đầu cũng hay vênh mặt với tôi nhưng sau 75, lại thành bạn thân.

Thời gian ở VLĐC không có gì đặc sắc. Quy chế một tuần 12 giờ, số giờ còn lại, chúng tôi đi dạy tư và học cao học hay làm luận án tiến sĩ đệ tam cấp. Do đó cũng không gặp nhau thường vì chia nhau ra trực ban. Coi như suốt thời gian từ 72-75, tôi không chơi với ai ở Khoa Học, chỉ vào trường khi phải dạy hay trực. Thời gian còn lại, dạy tư và học Cao Học theo lệnh thầy.

Hồi đó ở Thủ Đức có làng Đại Học gồm khu nhà ở cho các giáo sư đại học gì đó tôi không nhớ rõ. Mặt khác, quốc tế, cụ thể là các nước tư bản, mỗi nước tài trợ cho một phân khoa đại học để có cơ sở ở Thủ Đức. Khoa Học cũng có một cơ ngơi ở đây và tôi không nhớ quốc gia nào đỡ đầu. Dường như chủ đích của chính phủ là đưa sinh viên ra học ở ngoại thành, một hình thức “dãn dân”. Nhưng vì đi khá xa, cũng mất nửa giờ từ xa lộ Sài Gòn nên cuối cùng trường nào trường nấy vẫn “cố thủ” ở Sài Gòn!

Thuở đó, Thầy Nguyễn Hải dạy Cao Học Vật Lý Địa Cầu ở Thủ Đức một tuần một lần. Thầy lái xe đến đón cô học trò là tôi và có khi giao tôi cho một ông, lâu quá cũng quên mất tên. Anh này sau đó du học Pháp. Thời gian du học, chúng tôi có thư qua lại cho đến ngày mất nước. Được ít lâu thì Thầy đổi ý, không dậy ở Thủ Đức nữa. Thế là tôi khoẻ!

Nếu Cô Nhung là vị giáo sư tôi yêu vì cô đẹp, dậy hay và tận tâm thì Thầy Hải là người tôi yêu vì cũng dậy tận tâm, thương sinh viên và lúc nào cũng dịu dàng nhỏ nhẹ như con gái. Không chỉ tôi , tất cả sinh viên đều yêu quý Thầy. Tôi còn nhớ mỗi khi Thầy đi dạy ở các đại học tỉnh như Huế hay Cần Thơ Đà Lạt chi chi đó, lúc về Thầy đều có quà cho tôi. Hồi đó, tôi quý cái nón lá bài thơ, quà Huế của Thầy lắm. Tôi hay ghé nhà Thầy chơi với Cô và các em. Vì lý do đó, Cô và các em cũng quý lại tôi.

Sau 1975, Thầy trò trôi nổi như nhau. Có một cô trong ban VLĐC chúng tôi, tên là La Thị Cang, dân nằm vùng, từng chịu ơn Thầy vì Thầy đã bảo lãnh cho cô ta khi bị Tổng Nha Cảnh Sát bắt. Thế nhưng sau 75, cô ta đã có vài hành vi không chấp nhận được đối với Thầy. Thầy tôi, cũng như tất cả các GS Đại Học, bị kẹt lại, là thân cá chậu chim lồng. Năm 1978, Thầy vượt biên. Chuyến đầu ba con trai thoát. Chuyến sau, Thầy, đứa con trai đầu và con gái duy nhất mất tích. Cô tôi đang ở California, các em tôi giờ cũng đã yên ổn. Tôi, thỉnh thoảng vẫn nhớ về Thầy, người giáo sư tôi kính yêu vì tài vì đức. Tôi vẫn nghĩ giá như Thầy đi thoát được 1978, hẳn cuộc đời tôi cũng khác. Thầy sẽ tìm cách giúp tôi cũng thoát luôn bằng cách …tìm chồng cho tôi chẳng hạn hay giới thiệu “tuyau” cho tôi. Bởi vì nói gì thì nói, mấy trự đàn ông muốn ghen tị đố kỵ cứ việc (!), chứ tôi biết tôi là cô học trò cưng nhất của Thầy ở ban VLĐC!!!( Trong ban có bốn cô Mỹ Dung, Phương Nga, La Thị Cang, Quỳnh Giao)

Sau 1975, dường như Khoa Lý không nhiều người thoát. Đa số bị kẹt. Tôi còn nhớ, ngay sáng mùng 1 tháng 5, Đặng Văn Liệt đến nhà tôi và bảo “Thầy nói chị vô trường”. Lúc đó tôi còn ngây thơ lắm, tôi ào ra tay bắt mừng rỡ, không hề biết Liệt là dân Bến Tre và cũng chẳng ưa gì chế độ VNCH. Khi vào trường thì thầy trò nhìn nhau e dè vì đa số hiểu rõ thủ đoạn của Việt Cộng. Thời 1945, Việt Cộng còn làm cho con tố cha, trò tố thầy kia mà.

( Xem tiếp những tháng ngày sau khi vc vào thành)

Hoàng Lan Chi 9/2014

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Trò Chuyện với Lan Chi -Với Ca Nhạc Sĩ Phượng Vũ

LGT: kỳ này xin mời tiếp xúc với ca nhạc sĩ Phượng Vũ (California). Ông tên thật là Trần Gia Bửu, con một gia đình trung lưu, sinh tại quê ngoại làng Phượng Vũ, tỉnh Hà Đông. Từ nhỏ ông tự học nhạc hàm thụ tại trường École Universelle. ông trúng tuyển ca sĩ do Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức tại rạp Hưng Đạo. Hãng đĩa Dư Âm lập tức mời ông cộng tác với cả vai trò ca sĩ. ông mở lớp nhạc ở Sai Gon, Gò Công, Cần Thơ. Sau năm 1975 thì lớp nhạc bị rút giấy phép, ông tham gia hát trong đoàn Tiếng Ca Sông Hậu, Nghệ Thuật Hoàng Biếu, Trường Sơn, Ngọc Giao… Đến năm 1988, ông vượt biên sang Mỹ, được nhạc sĩ Nam Lộc và ca nhạc sĩ Khúc lan (cũng là em gái kế) bảo trợ về Little Saigon. Tại đây, Phượng Vũ vừa hát vừa sáng tác cho các trung tâm băng nhạc Phượng Hoàng, Giao Linh, Hải Lý, Mai Vy… Hiện nay ông là chủ một phòng thu và ban nhạc cùng tên.

Tác phẩm

CD

· Hương Bưởi Nhà Em (Giao Linh, Phượng Vũ)

· Thương Thầm Tà Áo Tím (Hương Lan, Phượng Vũ)

· Mẹ Là Ánh Tráng (Hương Lan, Bảo Trân, Phượng Vũ)

· Mùa Xuân Nguyễn Thị (Giao Linh, Hương Lan, Phượng Vũ)

* Ngày Buồn ( với Giao Linh )

* Kỷ Niệm Nào Buồn ( với Thiên Trang,Giao Linh,Sơn Tuyền )

* Về Mái Nhà Xưa

* Tango Kỷ Niệm ( với Lưu Hồng,Giao Linh,Hải Lý )

* Chuyện Ba Mùa Mưa (với Phuơng Hồng Quế,Sơn Ca,

* Em Di Chùa Hương

* Kỷ Niệm Buồn

* Mùa Đông Va Lữ Khách ( Thánh ca )

* Chuyện Tình Mầu Hoa Tím ( với Thanh Tuyền )

* Kinh Dâng Mẹ ( với Giáng Thu,Duy Quang,Son Tuyền,Kim Anh.Lê Uyên Phuong )

*Ta Thương Người ( với Khánh Ly,Lệ Thu,Mai Hương,Thái Hiền,Kim Tước,)

* Một Chút Hương( với Bảo Yến,Elvis Phương,Vũ Khanh,Tuấn Ngọc,Thiên Trang,Thanh Tuyền,Thanh Hà,Tuấn Vu ,Khanh Ly,Thái Hiền,Trinh Vinh Trinh )

* Ngày Con Về( với Duy Khánh,Giao Linh,Việt Dũng)

* Thiếu Phụ Ngây Thơ( với Hải Lý)

* Liên khúc Noel ( Luu Hồng,Giao Linh,Lê Thu )

* Mùa Xuân Của Mẹ ( với Trang Thanh lan,Quang Bình,Phuơng Hồng Quế..v..v… )

và rất nhiều CD,Karaoke khác…chưa nhớ ra…

Ca khúc: Đến nay ông sáng tác được hơn 80 ca khúc, nhiều ca khúc đã nổi tiếng từ trước 1975.

· Áo nhà binh

· Cánh thư mùa hạ (1970)

· Chiếc khăn màu tím (1970)

· Chuyện tình màu hoa tím

· Hương bưởi nhà em

· Cánh thư mùa hạ (1970)

· Cánh thư gửi mẹ

· Cánh thư mùa xuân

· Chiếc khăn màu tím (1970)

· Chuyện tình màu hoa tím

· Lời tự tình cho em

· Mái tóc quê hương

· Mẹ là bài ca dao

· Một mình trong xuân

· Mùa xuân cao nguyên (1975)

· Mùa xuân Nguyễn Thị

· Người em gai miền Nam

· Phượng buồn (Phượng Vũ & Thanh Sơn)

· Rừng ái ân (Phượng Vũ ) (1970)

· Tà áo xuân

· Thảo ca

· Thư xuân cho mẹ

· Thương về mẹ Huế

· Thương lắm Cà Mau

· Thương thầm tà áo tím

· Tìm một mùa xuân

· Tết này anh không về

· Tết trên rừng

· Trên ngọn tình sầu (Phượng Vũ & tho Hoàng Phương)

· Trường cũ xuân xưa

· Trường xưa lối về

· Vườn dâu lá mới

HLC: Xin chào Phượng Vũ. Nghe cái tên Phượng Vũ, tôi liên tưởng đến hai loài chim quý. Có phải khi chọn nghệ danh ấy, anh đã mơ ước giọng hát mình như oanh vũ?

PV: Đây là 1 sự tình cờ, ngẫu nhiên có sắp xếp của định mệnh và kết hợp với sự lựa chọn của mình. Thực ra, nghệ danh Phượng Vũ vừa là tên làng quê ngoại vừa là cung mệnh tử vi sao Vũ Khúc và sao Phượng Các của tôi ở cung Mệnh.

HLC: Xin anh cho một tóm tắt về đời ca hát của mình? Bắt đầu từ bao giờ và có bị gián đoạn gì không? Khi chọn, có những thuận lợi hay bất lợi gì từ gia đình?

PV: Rất nhiều gián đoạn có đến ba lần vì tình hình đất nước ảnh hưởng đến hoàn cảnh cá nhân, và có lẽ cũng vì số mệnh và cũng vì cá tính không muốn làm…Hàn Tín để thành công. Bắt đầu đi hát tại Đài Phát Thanh Cần Thơ. Là Trưởng Ban Văn Nghệ Trường Nông Lâm Súc Cần Thơ năm lớp 12. Bài “Chuyện tình Lan và Điệp” lúc đó thường được hát nhiều nhất với Trang Hồng Cúc, một cô bạn học. Vì thế hay bị bạn bè chọc ghẹo gán ghép. Hiện giờ Trang Hồng Cúc ở Thị nghè, Sài Gòn. Ngoài nhạc phẩm trên, những bản nhạc thường hát là Nhớ Thành Đô, Hoa Biển, Tạ Từ Trong Đêm. Hồi tiểu học Vũng Tầu mới lớp năm đã hát bài Ba Chàng Đi Hỏi Vợ của Trần Văn Trạch. Tiếp tục hát ở trung học. Khi đi làm mới bị gián đoạn.

HLC: Xin kể về giai đoạn tại Cần Thơ với những lớp nhạc anh mở?

PV: Lớp nhạc PV ở số 54/5 Lý Thường Kiệt (hẻm nhà đèn) Gò Công, quê hương của hai vì sao sáng của tân nhạc là Ns Lê Dinh và ca sĩ Phương Dung. Lúc nạp đơn xin mở lớp nhạc, các ca sĩ và nhạc sĩ ở Gò Công đều nói “Chưa có ai mở lớp nhạc ở Gò Công từ hồi nào đến giờ” và khi chứng nhận lớp nhạc, phó tỉnh trưởng là ông Lê Văn Hợp phê trong đơn là: Không biết thủ tục cấp giấy phép ra sao vì từ xưa đến giờ chưa có ai mở lớp nhạc ở Gò Công. Sau đó đổi về Cần Thơ và mở lớp nhạc ở đó cho đến 1984, dạy nhạc ở các trường Trí Đức, La Salle…và hát cho đài truyền hình, phát thanh. Năm 1985 về SG đi hát và có 5 lớp nhạc ở SG trước khi ra khỏi nước năm 1988.

HLC: Cũng thật vui khi nghe anh kể Gò Công chưa từng có lớp nhạc nên Phó Tỉnh Trưởng không biết xét làm sao. Anh đã đào tạo ra được những giọng ca nào mà sau này cũng có tên tuổi trong nghiệp cầm ca?

PV: Giọng ca thì không nhớ được bao nhiêu em, nhưng về sáng tác thì là nhạc sĩ Hoàng Phương (nhạc Gò Công) và bài đầu tiên HP sáng tác năm 1973 là Hoa Sứ Nhà Nàng chứ không phải là năm 1968 như một số tài liệu đã nói về NS Hoàng Phương. Vì mình hướng dẫn sáng tác cho NS Hoàng Phuơng năm 1970-1972, và nhạc sĩ Mai Thương ( tiệm phở Xuân Thắng mà em này mê sáng tác đến nỗi mệt mỏi và ngủ quên làm cháy tiệm phở một lần) cũng ở Gò Công.

HLC: Số ca sĩ sáng tác nhạc nghĩa là kiêm cả nhạc sĩ không nhiều. Anh học nhạc ở ai và có ý nghĩ sáng tác từ bao giờ. Xin kể về nhạc phẩm đầu tay, nhạc phẩm cứ tạm cho là ưng ý nhất?

PV: Nhạc phẩm đầu tay Việt Nam mình viết năm 13 tuổi là bài Một Gia Từ và sau đó 3 năm mới dám…mang đến Bộ Thông Tin để kiểm duyệt và được giấy phép xuất bản ký tên bởi ông Vũ Khánh. Những lúc đó còn nhớ và không biết nhờ ai giúp đó xuất bản hay bán bản quyền phổ biến nên ngâm tôm đến giờ. Cũng không biết là bài nhạc nào ưng ý nhất vì con của mình sinh ra thì mỗi đứa một vẻ. Còn về học nhạc thì học hàm thụ tại Ecole Universalle.

HLC: Tổng số CD phát hành là bao nhiêu?

PV: Cũng không nhiều vì lười và chán ngán cho tình trạng băng đĩa hiện nay ở thị trường. Thí dụ như CD Chuyen Tình Màu Hoa Tím ( sáng tác mới và cũng là chủ đề của CD ) hát với Thanh Tuyền thực hiện xong từ 1999, đến bây giờ vẫn chưa phát hành.

HLC: Được biết anh có một chương trình giới thiệu toàn nhạc của Nguyễn Văn Đông. Xin cho biết đó là thời gian nào, ai tổ chức, thành phần tham gia và kết quả?

PV: Mình tự hoà âm, phối khí, thu âm và hát, tự tổ chức năm 1998 vì lòng mến mộ nhạc Nguyễn Văn Đông với những tác phẩm của ông mà mình đã hát từ những năm học lớp 6, xem đó như là một điều mình thích làm mà không nghĩ đến chuyện thương mại. CD Về Mái Nhà Xưa gồm 10 bài hát của NVD này ra mắt năm 1998 ở vụ trường Majestic, trên poster còn có hàng chữ: “Đêm vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và những tình khúc lính- Nam California”.

Mình còn nhớ một nữ khán giả ở Arizona đã ký một check ủng hộ $2,000 USD cho buổi diễn trên tên là Ngân, xin gửi lời cảm ơn đến chị Ngân, dù là muộn màng. Và NS Huỳnh Anh, một thời gian sau khi mình ký tặng anh ấy CD trên, đã gọi phone muốn có thêm và đã cho một xe van chở bạn hữu từ San Jose đến tận nhà PV ở quận Cam để mua một lúc 20 CD trên. Sau khi ra mắt CD khoảng hai tuần, Xuân Phát về thăm VN và PV có gửi CD, poster cho nhạc sĩ NVĐ nhưng sau đó XP từ chối không đưa dùm. Sẵn đây PV xin cảm ơn các MC, ca sĩ đã vì tình thân hữu mà đến đó chung vui, chia sẻ và không nhận thù lao. Người giúp nhiều nhất là Việt Thảo. (Hello Việt Thảo, Phạm Long, PV còn nợ hai anh buổi tối đó vì quá lu bu nên quên lửng luôn).

HLC: khi chọn một chương trình toàn nhạc Nguyễn Văn Đông thì hẳn là anh phải rất ưa thích. Cho hỏi anh nghĩ gì về nhạc Nguyễn Văn Đông nói chung, nhạc lính nói riêng?

PV: Viết về lính thì nhiều NS đã làm, người lính của Trần Thiện Thanh thì đa tình, lãng mạn, thơ mộng, lính của Trúc Phương thì ray rứt, thực tế, đôi khi thực tế đến hơi phũ phàng (thiếu bóng đàn bà, đòi không dám tới đành viết cho tôi, nhạc tình sao lắm lời..). Lính của Duy Khánh thể hiện tình yêu và thân phận, quê hương, nhưng người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông rất thật, rất người, rất nhân bản, về thân phận và tâm sự, nỗi niềm dù rằng có một bài hát là bài Nhớ Người Viễn Xứ của ông có âm hưởng và hơi hướng của NS Lâm Tuyền, một chút trong bài Khúc Nhạc Ly Hương.

Bài hát đầu tiên viết chung với Lâm Tuyền nên có thể bị ảnh hưởng một chút nhưng lời của LT thì chung chung không được xuất sắc và có cái riêng như của NVĐ. Với tôi, đã hát nhạc NVD từ thuở trung học. PV thích nét nhạc của ABBANguyễn Văn Đông. Mỗi khi nghe, PV có cảm tưởng như không phải nhạc của một người bình thường mà như của một thiên sứ. Trong Kinh Phật, PV nhớ kinh nói rằng những nghệ sĩ là những người từ trời đến để mang niềm vui cho nhân thế qua những tác phẩm như lời ca, tiếng hát của họ. Những người cho Vũ cái cảm giác như thiên sứ là những người coi nhạc như một nghiệp chứ không phải nghề. Chính cái nghiệp đó đã làm nét nhạc của họ có một vẻ gì đó như một thiên sứ mang niềm vui cho nhân thế. Còn với những nghệ sĩ coi đó là nghề thì xin miễn bàn.

HLC: Vậy Phạm Duy là gì? Nghề hay nghiệp?

PV: Phạm Duy là vừa nghề và nghiệp. PV cho rằng ông là người kết hợp cái nghiệp của mình thành nghề. Thực ra, ít ai thông cảm cho nghệ sĩ. Họ không lam nghề khac để sống. Nhiều người coi nhạc là nghề kiếm tiền nên sáng tác hoi hot theo thi hieu cuq quan chung, còn mot so it người thì coi là nghiệp vì họ có nghề kiếm tiền khác để sống.

Về buổi ra mắt CD nhạc NVĐ, thì chuẩn bị cũng tương tự CD khác nhưng có một điều đặc biệt: PV làm CD đó không vì mục đích thương mại mà chỉ vì PV đắm đuối, ấp ủ và yêu thương.

HLC (ngắt lời): Có ai ấp ủ mà không yêu đâu?

PV: Có chứ. Như TTKH đã ấp ủ nhưng không yêu thương. “Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi”.

Trở lại với Nguyễn Văn Đông, Phượng Vũ đã ấp ủ yêu thương những giòng nhạc đó từ thuở ban đầu của trung học tức thuở chỉ khoảng mươi, mười hai tuổi. Như đã nói ở trên, nhạc NVĐ cho PV cảm tưởng như nhạc trên thượng giới, nghĩa là khi hát PV thấy như mình thoát tục cho dù đó không phải là lời nhạc anh huong nhac của tôn giáo như ABBA. Melody mênh mông, bát ngát. Đêm trinh diễn đó của Phượng Vũ thì MC là Việt Thảo, Phạm Long, Quốc Thái. PV cũng chọn đồ lính để thể hiện.

Có một kỷ niệm vui là vầy, kể cho Hoàng Lan Chi nghe chơi: PV tự hòa âm và PV đã chọn điệp khúc của bài Quốc Ca truoc 1975 làm intro cho Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp. Hôm đó khi mới nghe một chút, thấy âm điệu quốc ca vang lên thì mọi người đứng dậy hết! Khi hết intro, thì PV bắt đầu vô “..Còn đây giây phút này..” mọi người ngồi xuống yên lặng nghe. Điều này cho thấy hơn 400 khán giả của mình lúc nào cũng nhớ và tôn trọng quốc ca VNCH.

CD Về Mái Nhà Xưa gồm 10 bài, PV hát một mình và không hát chung với ai cả. Còn các CD khác, thì có hát chung với Giao Linh, Hương Lan. Như đã nói, chỉ CD này, như đã nói, PV chỉ muốn ấp ủ cho riêng mình.

HLC: với sự thương mến như vậy, PV còn ấp ủ nữa không?

PV: Còn chứ. Vẫn ấp ủ. PV đang có ý định sẽ thực hiện một đêm giới thiệu những tác phẩm Nguyễn Văn Đông một lần nữa. Thông thường CD chỉ ra mắt một lần nhưng chỉ riêng với Nguyễn Văn Đông là PV còn muốn thực hiện thêm lần nữa.

HLC: Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông còn có bút hiệu Phượng Linh cho một số nhạc phẩm. Anh nhận định gì về những nhạc phẩm đó?

PV: PV cho rằng những bài nào ký NVĐ là nghiệp, còn ký Phượng Linh là Nghề. Rất nhiều NS ký nhiều tên vì không muốn bút hiệu này làm ảnh hưởng loại nhạc khác coi như việt vị. nhiều lý do khác, cũng giống như TOYOTA lấy tên cho hiệu khác là LEXUS.

HLC: Xin cho vài nét khái quát về phòng thu âm hiện nay của anh?

PV: Vẫn làm việc bình thường tuy không bận rộn như trước đây vì các nghệ sỹ chuyên nghiệp không thu lại vốn liếng đã bỏ ra để đầu tư. Trung bình cho mỗi audio CD là $10,000 USD, mà tất cả đều bị post lên nét.

HLC: Xin cảm ơn anh. Hy vọng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sẽ thu xếp được để có thể hiện diện được trong đêm nhạc Nguyễn Văn Đông do anh tổ chức. Cũng xin chúc phòng thu âm của anh vẫn sống dù chỉ lai rai trong thời @ này.

Hoàng Lan Chi thực hiện 8/2014

Posted in Tạp Ghi | Comments Off