Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off on Thư Ngỏ

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off on Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Âm Nhạc- “Tóc thề đi đâu mà vội” Phạm Anh Dũng phổ thơ HLC- Xin chia sẻ vài ý kiến từ thính giả- Feb 6 , 2021

Âm Nhạc

"Tóc thề đi đâu mà vội", Phạm Anh Dũng phổ thơ Hoàng Lan Chi

Các ý kiến ở net. Xin chia sẻ

Lời Giới Thiệu: nhạc sĩ Phạm Anh Dũng gửi lại bản nhạc phổ từ thơ HLC từ 2003 gì đó. Một vài người cho ý kiến. Những ý kiến dễ thương. Dũng có fw cho tôi. Tôi trả lời họ. Xin chia sẻ những điều này với bạn hữu.

************************

🌺 Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh viết: Bài thơ dễ thương, nhạc khúc valse cũng nhẹ nhàng và đẹp như con gái tóc thề. Cám ơn chị 2 và NS PAD đã biến một buổi trưa đầy những băng tuyết chưa kịp cào của DNA thành một ngày nắng vàng ươm của thời xa xưa…

-Hoàng Lan Chi trả lời: Hello Ánh à, bài thơ này chị Hai viết có lẽ 2002 gì đó. Khi gửi vào diễn đàn yahoo Văn Thơ thì phải, PAD đã phổ nhạc và không có ai hát cả. Sau đó vài nhạc sĩ tài tử khác cũng có phổ, có nhờ ca sĩ VN hát. Bản thân Xuân Thanh, ca sĩ có giọng hát hay, mạnh của PAD ở Seattle, cũng "đòi" hát trong một CD của Xuân Thanh. Link tại đây, cứ click là nghe:

http://hoanglanchi.com/hoanglanchi/music/TocThe-PAD.mp3

Ánh sẽ thấy giọng Xuân Thanh tràn trề "nội lực". Giọng Phil Nguyễn có nét Nam riêng. Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười một!

🌺 Huỳnh Văn Của viết: Cua Huynh <munau37> wrote:

Thơ man mác Ý, Tình. Nhạc trẻ trung gợi cảm. Cả Thơ lẫn Nhạc đều mang dấu ấn của thanh xuân. Bởi dấu ấn của Quốc Dũng khi hòa âm, phối khí trải đều qua thể điệu Boston "Rock" đầy gợi cảm. Ngay lúc vào nhạc, thính giả đã " thấy" được tiếng nhón gót khi rón rén của bước chân thiếu nữ. Sự lí lắc, hồn nhiên đó còn được dàn trải trên phách lỡ ( của trống ) hay staccato ( tiếng búng dây ) của vĩ cầm. Ngoài ra còn có âm thanh "trẩy hội, tràn trề không khí hội hè" của accordéon/ phong cầm vươn theo chất giọng nghe như có chút tiếc nuối nhẹ nhàng của Nguyễn Phi. Thôi thì…

Tóc thềvội cắt,Tình dẫu có long đong (*)

Vẫn nguyên tuyền kỷ niệm của hoa niên trong lòng.

-Hoàng Lan Chi trả lời : wow, xin cảm ơn Mũ Nâu vì hai câu thơ đẹp và những nhân xét khá ‘kỹ" khi nghe nhạc.

🌺 Nguyễn Đình Cường viết: <dinhcuongnguyen> wrote:

Xin cám ơn các anh Thành, Dũng, chị Quỳnh Giao (Hoàng Lan Chi) cho nghe một bản nhạc thật hay với hoà âm của Quốc Dũng và trình bày của Hùng Hà.

Trong trí nhớ thời niên thiếu của tôi , chị Hồng Thủy ( nhà văn Mộng Huyền) và chị Tuyết Hồ là hai người đàn bà thật đẹp, là bạn thân của người chị chúng tôi. Chị Tuyết Hồ là vợ của anh Võ Thế Hào, khoa trưởng của Đại học Khoa Hoc SaiGon -VNCH, và chị Hồng Thủy lấy anh Viên ( Captain- Hải Quân VNCH ). Ngay từ hồi trẻ, chị Hồng Thủy, trong dáng dấp, đã là một biểu tượng trong sáng, và là một cái đẹp cho những nhà thơ văn lãng mạn. Chị Tuyết Hồ, cái đẹp thầm lặng, kín đáo tạo cho người ta có một sự bình yên vững vàng. Các chị sau nầy, một người ở Mỹ, một người ở Pháp. Rất lâu đã không gặp các chị.

Chị Quỳnh Giao (Hoàng Lan Chi) , lúc thiếu nữ, trong những năm đầu của đại học, là bạn của một người chị chúng tôi. Nhìn chị Quỳnh Giao lúc nào cũng xông xáo, nhanh nhẹn và ngày ấy chị đã bắt đầu viết văn. Sang Canada du học và mấy mươi năm sau, ở Montréal, tôi mới biết chị Quỳnh Giao ( Hoàng Lan Chi) là em của chị Quỳnh Mai ( Sao Khuê), một người bạn học Dược của một người chị của chúng tôi.

Nói giông dài như vậy, nghĩa là, đời người có những khúc phim thật ngắn quay chậm chậm, không liên lạc nào, nhưng thật sự là một quá khứ, một kỷ niem của ngày xanh.

Bản nhạc của Phạm Anh Dũng và bài thơ của Hoàng Lan Chỉ cho ta liên tưởng tới hai bài thơ, một cuả Trần Quang Lòng và một của Hồng Thủy.

NDC.

– Hoàng Lan Chi trả lời : lại wow. Lý do: Anh Cường nói có người chị là bạn của tôi. Vậy người chị đó tên gì anh Cường ơi? Thứ, anh Cường có lẽ là một người đàn ông rất "đào hoa". Hãy xem kìa, những gì anh ấy viết về Hồng Thủy, Tuyết Hồ, Hoàng Lan Chi! Rất nhẹ nhàng như một chiếc lá rơi nghiêng và nhẹ trong một chiều thu nắng đang cũng dần nghiêng bên triền núi. Chị Hồng Thủy, thuở con gái, rất xinh xắn. Cậu tôi, nhà thơ Hải Bằng Hoàng Dân Bình ( không nhớ năm nào nhưng có lẽ lúc đó tôi còn nhỏ) đã rủ tôi đi cùng đến nhà "một cô Trưng Vương". Cô TV ấy là Hồng Thủy. Nhưng anh Cường có thể nhớ nhầm điều này: Ô Võ Thế Hào chưa bao giờ là Khoa Trưởng ĐH Khoa Học cả. Khi tôi vào Khoa học, Thầy Nguyễn Chung Tú thay thế GS Lê Văn Thới.

HOÀNG LAN CHI VIẾT CHUNG:

PAD viết sau này Hoàng Lan Chi không viết thơ nữa mà chỉ lo chuyện chính trị thì cũng đúng. Lý do ư: không biết. Trời sinh mà. Trời sinh bài thơ đầu tiên trong đời là thơ cho đất nước, không phải thơ tình. Trời sinh HLC yêu thơ của Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà…Nghĩa là đa số thơ yêu nước.

Tuy vậy, bên cạnh cái "ý thích chính trị" thì Hoàng Lan Chi cũng còn thích văn, thơ, hoa lá, gia chánh…Đã một thời HLC phụ trách chương trình âm nhạc ( Tác giả-Tác phẩm-Thính giả), ( Câu chuyện Âm Nhạc) ( coi dùm cho người bạn, chương trình Sáng Tác Mới, một thời gian).

Chính những bài viết về âm nhạc mà "cổ thụ Phạm Duy" làm quen HLC qua net, mà cố Đại Tá Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã rất yêu quý HLC ( Khi Thúy Nga thực hiện chương trình Chiều Mưa Biên Giới để tưởng nhớ Nguyễn Văn Đông thì Tô Ngọc Thủy đã cám ơn HLC vì nếu không có những tài liệu quý báu từ HLC-NVĐ thì chương trình không thể hay được), mà cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cũng rất yêu quý "cô bé" ( anh Nghiêm hay viết mail và khen ngợi mỗi khi thích một bài văn nào đó. Anh ưa gọi HLC là cô bé. Anh bảo gửi bài thơ ngắn, anh phổ nhạc cho mà HLC lười nên chả có bài nào và anh Nghiêm đã ra đi). Một số nhạc sĩ tài tử cũng rất thích khi HLC viết cảm tưởng về nhạc của họ vì ( Thật, không sáo rỗng. Viết từ trái tim. Viết với cảm xúc Thật. Viết bằng ngôn ngữ đẹp)

Hoàng Lan Chi còn chương trình Trò Chuyện với Lan Chi, trong đó HLC phỏng vấn nhiều người khác nhau trong mọi lãnh vực. Câu hỏi được soạn kỹ nên hay, có chiều sâu.

Tương lai, HLC sẽ mở lại "Nghìn sau nối nghìn xưa" để giới thiệu những tác phẩm (nhạc, thơ) của một thời Saigon Muôn Năm Cũ với những sáng tác mới sau 75.

HLC sẽ cố gắng xếp ý thích bàn về thời sự vào một góc trong tim và dành hai góc khác cho Phỏng Vấn, cho Thơ Nhạc.

Xin cảm ơn Quý Anh Chị

Hoàng Lan Chi

***********************************

From: "Pha.m Anh Du~ng" <phamanhdung1>
Date: February 4, 2021 at 3:07:46 PM EST
To: "DIEN DAN DD-CLB-TNS (CMH)" <DienDanCauLacBoTinhNgheSi>, Dien Dan Huong Xuan <huongxuan2016>, Dien Dan Nep Song Moi <nepsongmoi>, "Dien Dan Tinh Bang Huu (CMH)" <diendantinhbanghuu>, Diễn Đàn Đời Sống Vui <doisongvui>, Hoi Van Hoc Nghe Thuat <hoivanhocnghethuat-natv>, Nhom Nhan Anh Tan Van <nhom-nhan-anh-tan-van>, tinhcaphamanhdung

Subject: {Tình Ca Phạm Anh Dũng} Fwd: Tóc Thề Đi Đâu Mà Vội (Hoàng Lan Chi-Phạm Anh Dũng) Phi Nguyễn



Tóc Thề Đi Đâu Mà Vội (thơ Hoàng Lan Chi, nhạc Phạm Anh Dũng) Phi Nguyễn hát, Quốc Dũng hòa âm, Hùng Hà video:

https://www.youtube.com/watch?v=GnjIpA_ZWS4

Hoàng Lan Chi

Phạm Anh Dũng

http://phamanhdung.wordpress.com/

https://phamanhdung1.blogspot.com/

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Âm Nhạc- “Tóc thề đi đâu mà vội” Phạm Anh Dũng phổ thơ HLC- Xin chia sẻ vài ý kiến từ thính giả- Feb 6 , 2021

HLC-Trần Vinh, Tưởng nhớ Bửu Uy, cán bộ của Phủ Đặc ủy trung ương tình báo VNCH, ban A17, tù VC 17 năm , ra đi vào 2020 ở Oregon – Jan , 2021 310, 2021

Trần Vinh

Tưởng nhớ Bửu Uy, cán bộ của Phủ Đặc ủy trung ương tình báo VNCH,

ban A17, tù VC 17 năm , ra đi vào 2020 ở Oregon

Hoàng Lan Chi viết: gốc sinh viên nên có lẽ tôi thường dành tình cảm cho những tùy bút của cựu sinh viên. Là người yêu quốc gia từ bé, nên thích thơ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà. Bài thơ viết đầu tiên trong đời không phải thơ tình mà là thơ cho đất nước. Ngưỡng mộ mọi anh hùng dân tộc từ thời lập quốc tới nay. Ảnh hưởng trinh thám nên rất say mê những người gián điệp của đất nước. Đó là lý do, vào 2014, tôi rất thú vị khi phỏng vấn được hai cựu sinh viên. Một trong hai người học Khoa Học và xem như "sư huynh" của tôi "Lê Anh Kiệt. Từ Lê Anh Kiệt, tôi biết đến Trần Vinh ( bút hiệu Bạch Diện Thư Sinh). Họ kể, tương đối hạn chế, về Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, còn gọi là A17. ( cơ quan an ninh tình báo VNCH quyết định thành lập ban A17 để trực tiếp đối đầu với Thành Đoàn Thanh Niên Lao Động HCM, lúc ấy do Trần Bạch Đằng trực tiếp chỉ huy). Họ là những người tham dự là những người “làm việc trong bóng tối và cũng sẽ chết trong bóng tối”.

Hôm nay, Trần Vinh gửi đến tôi, bài viết về sự ra đi của Bửu Uy.

Bửu Uy là người trẻ nhất trong 20 người "được" VC thả "muộn nhất. Gồm: 20 tù nhân cuối cùng được Cộng sản thả ra vào năm 1992. Trong số 20 đó, có các vị tướng như Đỗ Kế Giai, Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Trần Bá Di…Bửu Uy và Lê Anh Kiệt ở tù 17 năm

Tại sao lại có 2 cựu sinh viên ở tù lâu như thế? Trần Vinh đoán: Vì Bửu Uy là sinh viên Quốc gia đầu tiên nắm được chức chủ tịch Ban Đại diện Sinh viên Văn khoa sau nhiều niên khóa nằm trong tay các sinh viên Việt Cộng; đồng thời, Bửu Uy còn đắc cử chức chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn cùng niên khóa 1972-1973. Tội ấy không thể tha. Về trường hợp Lê Anh Kiệt, chính Kiệt đã thuật lại trong một cuộc phỏng vấn về cuộc chiến đấu gay go của anh với nhóm sinh viên Bừng Sống ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn và đã chiến thắng, giành lại quyền kiểm soát Ban Đại diện Sinh viên Khoa học cho các sinh viên khuynh hướng Quốc gia. Đó cũng là tội rất lớn của Lê Anh Kiệt đối với Thành Đoàn Cộng Sản.

Những người cùng thế hệ với tôi đang là Bác Sĩ hãy đọc đi. Đọc để thấy quý vị làm được gì cho quê hương khi đang ngồi ghế giảng đường Y Khoa? Và hiện giờ làm được gì cho Hiệp Chủng Quốc HK khi một số vị đang ủng hộ đường lối/chính sách của Dân Chủ?

Những người trẻ bây giờ, đang ở hải ngoại hay VN cũng nên đọc để biết về một thời VNCH đã chống cự CS ra sao. Những sinh viên thời ấy, có phải ai cũng lê la quán cà phê, nghe Khánh Ly rên rỉ nhạc phản chiến của TCS hay không? Hay đa số lên đường như bài hát của Nguyễn Văn Đông ( Hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề, giành lấy quê hương). Hay họ đã tham gia "Mặt Trận Đại Học" và trực chiến với tên đầu sỏ nguy hiểm Trần Bạch Đằng? một cuộc chiến KHÔNG SÚNG ĐẠN nhưng TOÀN ĐẦU ÓC?

Xin Bửu Uy an nghỉ. Cảm ơn người sinh viên quốc gia thuở ấy.

Cá nhân tôi nghĩ rằng, là người thì phải có lập trường chính trị, tư tưởng chính trị và hành động chính trị. Ai nói rằng tôi thích phi chính trị là nói sai.

Với tư cách là một người Việt, tôi có lập trường quốc gia, tư tưởng CH-quốc gia , và hành động quốc gia (nghĩa là chống cs, không hòa giải)

Với tư cách là một người Mỹ, tôi có lập trường Cộng Hòa, tư tưởng CH-bảo thủ, và hành động CH-bảo thủ tức là không ủng hộ những quan điểm của đảng Dân Chủ hay của giới trẻ "liberal"

Mời xem bài của Trần Vinh, một sinh viên trong A 17 khi xưa ( A 17 tức là Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo- VNCH), tưởng nhớ Bửu Uy, một "khuôn mặt sinh viên lớn", "một tư cách quốc gia lớn".

Hoàng Lan Chi

1/2021

*********************************

Hoàng Lan Chi viết về Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình báo năm 2014:

§ Mặt Trận Đại Học-Bạch Diện Thư Sinh (Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo)

Saigon Muôn Năm Cũ -Lê Anh Kiệt với Mặt trận tình báo

********************************************************

Trần Vinh

Nén hương cho BỬU UY, cán bộ VNCH trẻ tuổi nhất đóng cửa tù Cộng sản năm 1992, vừa qua đời tại Portland, Oregon

Bửu Uy đang chuẩn bị hành trang

Tối thứ Ba 27-10-2020, người con duy nhất của Bửu Uy là cháu Vĩnh Thục gọi TV để báo tin: các bác sĩ không còn cách nào chữa trị cho ba Bửu Uy của cháu nữa. Ngay sau đó, TV chuyển tin này tới các bạn đồng đội xưa.

Một tuần sau, thứ Ba 03-11-2020, Chủ tịch BĐD Văn khoa Nguyễn Hữu Tâm liên lạc được với chị Kiều là bà xã của Bửu Uy và cho biết thêm chi tiết như sau: “… hôm nay tôi có gọi đt và nói chuyện được với cả con và và bà xã của BỬU UY. Cả hai đều cho biết BỬU UY càng ngày càng yếu, chỉ nằm và ăn uống rất ít, hầu như không đi được nữa, mỗi lần đứng lên là cả hai mẹ con phải đỡ rất vất vả. Bệnh gốc là ung thư phổi rồi di căn lên óc, xuống tay và vào gan. Đã mổ óc một lần nhưng nay óc mọc rễ lại và phát triển nhanh. Bửu Uy hầu như không còn nhớ gì nữa.

Bác sĩ bó tay có nghĩa là BỬU UY được đưa vào chương trình Hospice, ở đây người ta không chữa nữa mà chỉ cho uống thuốc để khỏi đau đớn…”

Chuyện gì phải đến, đang đến. Chúng ta sắp mất thêm một đồng đội nữa rồi. Chúng ta chứng kiến ông bạn Bửu Uy đang chuẩn bị hành trang để lên đường. Trong ngậm ngùi thương cảm, xin dâng lời cầu nguyện thiết tha lên Trời Cao ban cho Bửu Uy được ra đi bình an. Nguyện xin Thiên Chúa là Cha đón nhận Bửu Uy vào vòng tay nhân hậu của Ngài. Xin cho chị Kiều và cháu Vĩnh Thục được thêm sức khỏe, thêm nghị lực trong giai đoạn khó khăn này.

Thân con là bụi đất

Thân con là bụi đất.

Nay con trở về, về bụi tro.

Lậy Chúa! Bao năm qua con hằng lo kiếm sống, thế mà giờ đây có gì đâu?

Chỉ là cát bụi bể dâu.

(lời bài thánh ca trong lễ an táng Bửu Uy)

Bửu Uy đã yên nghỉ hồi 3 giờ sáng Chủ nhật 08-11-2020.

Tang lễ đã cử hành ngày thứ Năm 12-11-2020, trong thánh đường La Vang Portland đông tín hữu hơn quy định của chính quyền (do cơn đại dịch), bởi giáo dân quý mến Bửu Uy nên đã “xé rào” đến dự lễ tang.

Những tấm hình của chiến hữu Bạch Văn Nghĩa chụp tại nghĩa trang, nơi Bửu Uy trở về cát bụi, thật buồn bã, vào mùa Thu lại càng thêm ảm đạm. Trời lạnh căm căm, cây cối trụi lá, trơ cành.

Bửu Uy ơi! Hãy thức dậy mà nghe Thái Thanh hát bài Serenade của F. Schubert. Có ai chia lìa nhau… Chỉ còn thương nhớ mà thôi…(lời PD).

Vĩnh biệt Bửu Uy nhé! Tấm chân dung của Bửu Uy trong trang cáo phó gửi đi muôn phương sẽ còn được gìn giữ mãi mãi trong lòng bạn hữu và đồng đội xưa.

Xin cho linh hồn Bửu Uy được nghỉ yên muôn đời trong Tình Thương Yêu của Thiên Chúa. RIP.

Một nhân cách và một thân phận đặc biệt

Bửu Uy đi rồi, thử ngồi nhớ lại xem, nói thật đi, trong số tất cả các bạn bè và đồng đội ngày xưa, có ai đã từng phải buồn lòng vì Bửu Uy không? Bửu Uy có gây khó xử, gây khó chịu cho ai không? Câu trả lời chắc chắn là không. Bửu Uy là như thế, nhiệt tình, thật tình với mọi người, chịu thương chịu khó trong mọi công tác chung, từ hồi nào cho tới tận những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời.

Giới sinh viên trẻ thế hệ chúng ta, thời VNCH, mấy ai có thể đem thành tích sinh hoạt ra để sánh với Bửu Uy. Bửu Uy đậu Cử nhân giáo khoa Pháp văn, đã lần lượt giữ chức chủ tịch Đoàn Sinh Viên Công Giáo Văn Khoa, chủ tịch Liên đoàn Sinh viên Công giáo Đại học Sài Gòn, chủ tịch Ban đại diện Sinh viên Văn khoa 1972-1973, chủ tịch Tổng hội Sinh viên Đại học Sài Gòn 1972-1973, tùng sự tại Nha HCNV Phủ Tổng thống.

Sau 30-4-1975, Bửu Uy đi tù Cộng sản 17 năm, là người trẻ tuối nhất trong số 20 tù nhân cuối cùng được Cộng sản thả ra vào năm 1992. Trong số 20 đó, có các vị tướng như Đỗ Kế Giai, Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Trần Bá Di… Cũng may, với sự can thiệp đặc biệt của chính phủ HK, ngay năm sau (1993), Bửu Uy được xuất cảnh, cùng vợ mới cưới, sang HK và sống tại Portland, Oregon.

Say mê hát, say mê phục vụ

Sát cánh cùng Bửu Uy qua bao năm hoạt động trong giới sinh viên, tôi chưa bao giờ thấy Bửu Uy có girl friend, chỉ thấy Bửu Uy ham hoạt động và mê hát.

Bửu Uy hát từ ca đoàn An Phong Dòng Chúa Cứu Thế đến ca đoàn Trùng Dương (Bửu Uy là ủy viên nội vụ của ca đoàn). Bửu Uy đặc trách hát các thánh lễ Chúa nhật cho sinh viên CG tại nguyện đường Mai Khôi Tú Xương cùng các sinh viên Trần Chúc, Ngô Bảo Tín, Phạm Long, Hoàng Quý, Trần Ngữ, Trần Hữu Cư, Nguyễn Quang Anh Thư, Nguyễn Quang Thái Ninh, Trần Thị Minh Tâm, Trần Thị Diệu Thanh, Bạch Quang Cậy, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hữu Thân… Nhớ mãi những lần tôi cùng Bửu Uy đi tham dự tĩnh tâm hay đại hội SVCG, nửa đêm thức giấc, thấy Bửu Uy vẫn còn đang say sưa đàn hát cùng nhóm bảy tám anh chị em sinh viên. Tại giáo xứ Đức Mẹ La Vang Portland, Bửu Uy hát trong tất cả các ca đoàn nhà thờ, ca đoàn nào cần thì Bửu Uy sẵn sàng tham gia ngay; thậm chí, đến những ngày tháng phải ngồi xe lăn, Bửu Uy vẫn “lái” xe lăn tới hát lễ!

Chẳng những cộng tác với các ca đoàn nhà thờ, mỗi cuối tuần, Bửu Uy còn tình nguyện làm người quét dọn nhà thờ và phục vụ bưng phở trong bếp của câu lạc bộ giáo xứ.

Sang HK được ít lâu, Bửu Uy đi làm công nhân trong một hãng điện tử, nhưng vẵn hi sinh thời giờ nghỉ ngơi để làm thiện nguyện trong chương trình Habitat xây dựng nhà ở cho người ít lợi tức. Có một dạo, Bửu uy cùng nhạc sĩ Vũ Thành An thực hiện chương trình phát thanh tranh đấu hướng về Việt Nam.

Vì thế, khi ra đi, Bửu Uy đã để lại một tấm gương sáng, để lại bao mến thương…

Ngày miền Nam sập trời, không đành bỏ mẹ và chị để ra đi một mình

Nhân cuộc hội ngộ đồng đội A 17 tại Dallas mấy năm trước đây, Bửu Uy từ Portland bay sang ở với tôi trước mấy ngày. Hai mái đầu sương điểm có dịp hàn huyên về những khổ nhục dàn trải suốt 17 năm tù đằng đẵng, về những bước đầu gian nan khi mới chân ướt chân ráo tới HK… Trong các chuyện tâm tình ấy, tôi không bao giờ có thể quên một chuyện.

Bửu Uy kể, ngày 29-4-1975, Bửu Uy và vài người bạn chạy lên Tân Cảng trên xa lộ Biên Hòa và đã xuống được một chiếc tầu Đại Hàn. Trên sàn tầu, Bửu Uy viết vội vài hàng từ biệt, tính nhờ ai đó chuyển về cho mẹ ở đường Trương Minh Giảng. Sau đó, Bửu Uy suy nghĩ, chẳng lẽ đến giờ phút nguy kịch lại ra đi một mình, bỏ lại mẹ già và chị Hương sao, thôi hãy trở về, có chết thì chết chung. Thế là Bửu Uy xé bức thư và lên bờ. Song vì mấy người bạn níu kéo, Bửu uy lại xuống tầu, và rồi lại viết thư từ giã mẹ và chị Hương. Nhưng mà lòng vẫn không yên, tâm trí rối bời. Vì quá thương mẹ, thương chị, Bửu Uy lại xé thư; thôi, cứ trở về, sống chết bên mẹ và chị. Tất cả 3 lần như thế. Kết cục, Bửu Uy ở lại để rồi phải chịu 17 năm tù đày, hầu hết thời gian là ở các nhà tù khét tiếng trên đất Bắc xa xôi.

Tại sao Bửu Uy đi tù Cộng sản tới 17 năm

Như đã thuật trên đây, Bửu Uy đi tù Cộng sản 17 năm, là người trẻ tuối nhất được thả về trong đợt cuối cùng vào năm 1992.

Thực ra, có 3 người tù trẻ trong số 20 người được thả về trong đợt cuối cùng này. Đó là Lê Anh Kiệt (Ban A 17, Phủ Đặc Ủy TƯTB/VNCH) và Phạm Gia Đại (nhân viên Toà Đại sứ HK) đều sinh năm 1945; Bửu Uy trẻ nhất, sinh năm 1946.

Có dịp hàn huyên tâm sự lâu, tôi hỏi Bửu Uy: Tại sao đa số đồng đội Ban A 17 đi tù sấp sỉ 10 năm, một số ít phải bóc 13 cuốn lịch trong tù (trong đó có tôi, có Phan Nhật Tân, Huỳnh Ngọc Điệp và Nguyễn Tường Quang), nhưng tại sao Lê Anh Kiệt và Bửu Uy lại lãnh tới 17 năm. Bửu Uy bảo tại vì tội không chịu hợp tác với cơ quan tình báo quốc ngoại của Cộng sản. Bửu Uy kể, có một dạo, mấy tay cán bộ từ Hà Nội lên trại cho biết, vì Bửu Uy biết tiếng Pháp, họ sẽ thả Uy về và cho đi Pháp, nhưng phải kí hợp tác với họ. Bửu Uy không đồng ý. Họ còn lên gặp Bửu Uy vài lần nữa, Bửu Uy dứt khoát từ chối. Vì lẽ đó mà họ trả đũa tội ngoan cố và bất hợp tác của Bửu Uy.

Tôi tin cách giải thích của Bửu Uy, nhưng tôi cũng kể cho Bửu Uy nghe câu chuyện mà tôi ghi nhận. Chuyện xẩy ra vào đêm ngày 30-4-1975. Tướng Dương Văn Minh đã đầu hàng. VNCH đã sụp đổ. Nhà tôi ở Phú Nhuận, gần Tổng Tham Mưu. Tôi đoán Việt Cộng sẽ pháo kích vào Tổng Tham Mưu, có thể lạc đạn vào khu dân cư sát bên, cho nên tôi đưa gia đình lên Tân Định, xin tạm trú trong nhà của các soeurs Dòng Phaolô Thiện Bản (góc Hai Bà Trưng – Yên Đổ). Tôi nghĩ, chắc Cộng sản sẽ tái diễn một cuộc tàn sát các quân cán chánh VNCH như hồi tết Mậu Thân 1968 ở Huế, cho nên tôi chuẩn bị một ít đồ cần thiết, dự định trốn vào rừng gần Gia Kiệm, Túc Trưng. Tôi nói cho mẹ tôi biết ý định của tôi. Mẹ tôi lo lắng, bắt tôi phải hỏi ý kiến Soeur Bảo là bề trên tu viện. Soeur Bảo nói soeur không rành chuyện chính trị quân sự. Soeur khuyên tôi đến nói chuyện với Lm Huỳnh Công Minh cũng đang ở đó. Lm Huỳnh Công Minh bảo chính quyền mới có chính sách, khuyên tôi ở lại đi trình diện học tập cải tạo và đừng tới nhửng chỗ sinh viên tụ họp; ông nói thêm “anh không sao đâu, chỉ có những người như Bửu Uy mới đáng ngại”. Lm Huỳnh Công Minh còn giới thiệu tôi đến gặp Nguyễn Văn Chín. Anh này mới từ Pháp về nước vào ngày 26-4-1975 và hiện nắm chức trưởng nhóm Công Giáo và Dân Tộc. Tôi cũng kể cho Nguyễn Văn Chín ý định trốn tránh của tôi. Nguyễn Văn Chín bảo anh ta không phải là đảng viên, nhưng anh có nhiều bạn là đảng viên Cộng sản. Chín nói anh cũng là người Huế cho nên đã tìm hiểu nhiều về cuộc thảm sát hàng ngàn đồng bào thời Tết Mậu Thân Huế. Theo Nguyễn Văn Chín, vụ thảm sát Mậu Thân Huế là do nhu cầu hành quân, không phải là chính sách từ trung ương, vì thế, Nguyễn Văn Chín cũng nói giống như Lm Huỳnh Công Minh đã khuyên tôi: ở lại, đi trình diện, tránh đám đông sinh viên và “chỉ những người như Bửu Uy mới đáng ngại!” Vậy ra bọn họ ghim Bửu Uy chết cứng rồi còn gì.

Hai đồng đội Bửu Uy (Văn Khoa) và Lê Anh Kiệt (Khoa Học) đều lãnh 17 năm tù, cho nên nhân nói chuyện tù lâu, thử coi lại trong cuốn hồi kí Một cuộc đổi đời của Kale,tức Lê Anh Kiệt, xem tác giả đã nói gì, Kiệt viết:Tối ngày 18 (?) tháng giêng năm 1988, Điệp và tôi còn phải ở lại trễ trong phòng vẽ vì Nhu (trưởng trại giam Z30 D) đang ở đó để xem chúng tôi làm việc. Đột nhiên, hắn hỏi tôi: “Không biết trước kia mày làm gì mà các ông ấy nhất định không chịu thả mày mặc dù tao đã đề nghị nhiều lần?” “Mày tao” là cách nói chuyện của Nhu với các trại viên. Tôi ngạc nhiên và cũng có hơi ngỡ ngàng trả lời hắn: “Tôi làm gì thì chắc là ban (tù nhân phải gọi các cán bộ trong ban giám thị là “ban”) cũng đã biết vì tất cả đều nằm trong hồ sơ! Tôi nghĩ chắc là ban chưa đề nghị đúng mức mà thôi!”
Hắn không nói gì thêm mà cũng không đề cập gì đến Điệp dù lúc ấy thì Điệp cũng đứng gần đó. Tuy nhiên lời nói của hắn đã đủ cho tôi biết rằng lần này cũng sẽ không có tên của tôi trong danh sách ra trại. Đó là lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi biết trước số phận của mình, và cũng là lần đầu tiên mà tôi cãm thấy buồn vì mình sẽ không được ra về cùng với bạn bè”.
(Hồi ký Kale. Một cuộc đổi đời. Chương 48. Đợt Thả Năm 1988).

Như thế, Lê Anh Kiệt không giải thích rõ tại sao anh ở tù lâu đến thế.

Sau khi Bửu Uy qua đời, trong cuộc gọi vào ngày thứ Ba 10-11-2020 để thăm hỏi và chia buồn với anh Bửu Uyển đang sống ở San Diego, tôi cũng đề cập nguyên do tại sao Bửu Uy lãnh tới 17 năm tù. Anh Bửu Uyển bảo, theo lời kể của các bạn tù chung trại với Bửu Uy ngoài Bắc, thì Bửu Uy quá cứng cỏi, thường hay có thái độ và lời nói chống đối, cho nên bị “chúng” liệt vào loại ngoan cố, không thể “cải tạo”.

Thực ra, khó mà biết chính xác thời hạn các quân cán chánh VNCH bị Cộng sản giam giữ sau ngày 30-4-1975. Tất cả đều bị giam giữ dưới ngụy danh “học tập cải tạo”, cho nên không cần tòa án, không có bản án, thời hạn giam là “dây thun”.

Mặc dù khó mà biết cách làm việc của Cộng sản, nhưng căn cứ vào câu nói của Lm Huỳnh Công Minh và Nguyễn Văn Chín mà tôi thuật trên đây, tôi cho rằng những sinh viên Việt Cộng trong Thành Đoàn Cộng Sản có vai trò khá quyết định trong việc đề nghị thời hạn “cải tạo” cho các đồng đội chúng tôi trong Ban A 17 (Mặt trận Đại học). Có thể bọn cán bộ Đại học trong Thành Đoàn Cộng Sản, ngay từ đầu, đã ghim chết Bửu Uy và Lê Anh Kiệt. Bởi lẽ Bửu Uy là sinh viên Quốc gia đầu tiên nắm được chức chủ tịch Ban Đại diện Sinh viên Văn khoa sau nhiều niên khóa nằm trong tay các sinh viên Việt Cộng; đồng thời, Bửu Uy còn đắc cử chức chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn cùng niên khóa 1972-1973. Tội ấy không thể tha. Về trường hợp Lê Anh Kiệt, chính Kiệt đã thuật lại trong một cuộc phỏng vấn về cuộc chiến đấu gay go của anh với nhóm sinh viên Bừng Sống ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn và đã chiến thắng, giành lại quyền kiểm soát Ban Đại diện Sinh viên Khoa học cho các sinh viên khuynh hướng Quốc gia. Đó cũng là tội rất lớn của Lê Anh Kiệt đối với Thành Đoàn Cộng Sản (Nhà báo Hoàng Lan Chi, cựu sinh viên Khoa học SG, phỏng vấn Lê Anh Kiệt. Báo Bút Tre, Tháng 9 năm 2014).

Tóm lại, tôi muốn kể lại vài mầu chuyện về Bửu Uy như cách tưởng niệm một người bạn hiền, một đồng đội kiên cường bất khuất. Ngoài ra, biết đâu là đúng là sai. Có thể tất cả các cách lí giải trên đều có phần đúng. Song, dù thế nào, nay mọi chuyện đã qua rồi. Dòng đời như nước chảy qua cầu, sẽ trôi về đâu. Bửu Uy đã đi trước chúng ta một bước. Thế thôi.

Chuyện ít ai biết

Còn một chuyện ít ai biết, xin một lần “bật mí” luôn. Không mấy ai biết ông cụ thân sinh của Bửu Uy là một đảng viên Cộng sản. Vâng, đúng như vậy. Bửu Uy kể, ba của Bửu Uy là cụ Ưng Trí đã thoát li theo Việt Minh ngay từ khi Bửu Uy mới lên 3 tuổi. Bà cụ một mình tần tảo, làm nghề bán thuốc Tây ở Đà Nẵng, nuôi 3 người con khôn lớn, trưởng thành: Anh Bửu Uyển, khóa 11 Quốc Gia Hành Chánh, Phó quận Hương Thủy, Phó tỉnh Quảng Trị, Trưởng ty Tài chánh thị xã Cần Thơ; kế là chị Hương làm giáo viên, Bửu Uy nhỏ nhất. Cụ Ưng Trí, cũng như bao thanh niên trí thức thời 1945 – 1946, sôi sục nhiệt huyết đấu tranh chống thực dân Pháp. Thế nhưng, khi theo Việt Minh một thời gian, nhiều người đã nhận ra bộ mặt thật Cộng sản của Việt Minh, họ tìm cách “dinh tê” trốn thoát về thành. Cụ Ưng Trí thì không, cụ quyết theo đảng. Cuối cùng, cụ không được đảng đền đáp công lao kháng chiến của cụ. Sau 30-4-1975, cụ tìm về nương nhờ cụ bà với hai bàn tay trắng và hát câu “chàng về nay đã cụt tay”. Năm 1988, tôi được thả về, có đến thăm bà cụ và nhân tiện, nhờ bà cụ gửi cho Bửu Uy chút quà. Tại nhà bà cụ, tôi đã thấy ông cụ Ưng Trí, vóc dáng giống Bửu Uy, nhưng mập mạp hơn, da dẻ hồng hào, có vẻ dân ăn học, nhưng cụ bị cụt một cánh tay. Tôi chỉ chào hỏi mà không nói chuyện gì với cụ. Dường như cụ ngại không muốn nói chuyện với tôi? Tiếc rằng cụ là dân Tây học, dòng dõi hoàng tộc thì chính ra cụ phải hiểu rõ: Cộng sản tối kị tầng lớp trí, phú, địa, hào, kể cả hoàng phái nữa chứ?

Rốt cuộc, sau bao năm cúc cung tận tụy với đảng, năm 1975, cụ chỉ gửi vào trong trại cho Bửu Uy được một tờ giấy chứng nhận đóng nhiều con dấu của nhiều tổ chức, đoàn thể mà cụ đã phục vụ, để làm bảo lãnh cho Bửu Uy. Bửu Uy cho tôi coi xong thì xếp xó, không bao giờ Bửu Uy sử dụng đến, vì Bửu Uy không tin những con dấu ấy có giá trị bảo lãnh.

Dallas, đêm 13-11-2020

Nhớ bạn hiền Bửu Uy

Trần Vinh

(Bạch Diện Thư Sinh)

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on HLC-Trần Vinh, Tưởng nhớ Bửu Uy, cán bộ của Phủ Đặc ủy trung ương tình báo VNCH, ban A17, tù VC 17 năm , ra đi vào 2020 ở Oregon – Jan , 2021 310, 2021

Guillaume Phan- Họa ” Bé ơi” của Hoàng Lan Chi

Hoàng Lan Chi

THƯ GỬI BÉ

Bé ơi, năm tháng cùng rồi đấy

Tuổi mới tóc dài bé vui không

Ai đón giao thừa cùng bé nhỉ

Để xem bé đẹp, má môi hồng

Bé ơi hoài niệm ngày tháng cũ

Khi tóc ta buồn mái điểm sương

Con dế vẫn là con dế nhỏ

Cho ta nỗi nhớ suốt đêm trường

Bé ơi, cái thuở cò lặn lội

Dặm đường mưa gió nỗi đơn côi

Bé còn nhớ chứ đòn roi ấy

Cũng chỉ là mong, bé nên người

Bé ơi, lòng mẹ như chiếc lá

Theo với thời gian, cứ úa vàng

Lá ước chồi non đơm bông trái

Thì này thân lá sẵn sàng buông

Bé ơi, ngàn dặm xa xôi quá

Ai đã xui nên nỗi đoạn trường

Vận nước, vận ta, ừ chung nhỉ

Thì thôi, đây đó cũng một chương

Bé ơi thôi nhé đôi giòng lệ

Ta nuốt vào trong giấu ngậm ngùi

Dõi mắt trông vời nơi cố lý

Nguyện cầu, bé nhỉ, một ngày vui !

Viết tại Rừng Gió Virginia 2005

Hoàng Lan Chi

THƯ GỬI MẸ

Mẹ ạ, xem thơ từ bữa đấy

Chưa lời đáp tạ, mẹ buồn không

Giao thừa rảnh rỗi, con ngồi viết

Lúc tiết vào xuân, nắng điểm hồng

Mẹ ạ, thương yêu nào dễ cũ

Khi hồi tưởng mẹ bóng dầm sương

Nuôi con cật lực nên khôn lớn

Trải lắm cam go, lắm đoạn trường

Mẹ ạ, đường trần mưa gió lội

Muôn chiều xa mẹ, bước thân côi

Con luôn khắc đậm tình sâu ấy

Và ước ngày nao trả nợ Người

Mẹ ạ, trưa nay nhìn cuống lá

Oằn lưng rộ nở cánh hoa vàng

Mẹ là cuống lá, con hoa nở

Lá chớ lìa cành nẻo gió buông

Mẹ ạ, dòng đời gai góc quá

Bao đêm vắng mẹ bấy canh trường

Con thèm nép lại vòng tay ấm

Kể mẹ nghe từng uẩn ức chương

Mẹ ạ, lòng con rưng rức lệ

Không sao nén được những bùi ngùi

Khi nhìn én lượn xôn xao ngõ

Gợi nhớ xuân nào có mẹ vui..

Guillaume Phan (11/01/2020)

Hoanglan Nguyen

Cám Ơn HLC

Cám ơn Guillaume Phan

Nhờ hai vị , tôi có ngày hôm nay tuyệt vời – hai bài thơ mẹ và con gái – đã đi vào tận đáy tim tôi (người có 3 con gái rượu )

LanChi Hoang

Cảm ơn Guillam Phan rất nhiều.

15 năm. Một người Paris họa bài thơ duy nhất tôi viết cho con gái.

Guillaume Phan

LanChi Hoang

: Không có chi, chị. Em thích bài thơ này của chị nên nổi hứng họa lại. Thường thì em ít khi họa những bài thơ viết không đúng niêm luật cho lắm, nhưng đây là một trong những trường hợp ngoại lệ.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Guillaume Phan- Họa ” Bé ơi” của Hoàng Lan Chi

Máu đổ trước sân chùa Đại Tùng Quang ở Montreal- Oct 17, 2020

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

Máu đổ trước sân chùa Đại Tùng Quang

Phượng Quỳnh và Diễm Thúy là đôi bạn thân thuở trung học. Quỳnh ở Brisbane, Thúy ở Boston. Năm nay Thúy và Quỳnh hẹn hò nhau đón mùa Thu ở Montreal vì mùa Thu ở đây rất diễm lệ. Rừng phong đẹp lộng lẫy. Lá phong là biểu tượng của Canada. Quỳnh-Thúy đều yêu lá phong. Thúy lang thang đường phố Boston và gửi hình chụp cho Quỳnh vì mùa Thu ở Boston cũng rất đẹp.

Lý do vì sao Thúy-Quỳnh chọn gặp nhau ở Montreal? Có gì đâu. Nơi ấy mùa Thu rất đẹp. Nơi ấy chùa Đại Tùng Quang rất hùng vĩ trên đồi cao. Quỳnh muốn đến vì Quỳnh từng rủ rê cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đến Mỹ và cùng lang thang rừng phong với Quỳnh. Quỳnh muốn khi ở khung cảnh thơ mông ấy, Nguyễn Văn Đông sẽ kể mọi thứ của một thời dĩ vãng oanh liệt cho Quỳnh nghe. Thúy thì vốn ngoan đạo nên hai đứa hẹn hò Đại Tùng Quang để cùng cầu nguyện cho Nguyễn Văn Đông.

Quả là Đại Tùng Quang rất hùng vĩ trên đồi cao.

Thúy và Quỳnh vào chùa lạy Phật. Thúy khấn xong trước và nhìn sang Quỳnh. Thúy thoáng ngạc nhiên. Quỳnh cứng cỏi như đàn ông nhưng bây giờ nhìn Quỳnh quỳ trước Phật Đài, mắt nhắm, miệng lầm nhầm đầy vẻ thành kính. Lúc bấy giờ Quỳnh như một người rất ngoan như chưa bao giờ biết "giang hồ hiểm ác" là gì.

Ra ngoài sân Thúy và Quỳnh thong thả đi dạo giữa hai hàng Tượng Phật.

Thúy hỏi " Hồi nãy Quỳnh khấn gì mà coi thành tâm quá vậy?"

Quỳnh nghiêm trang "Quỳnh khấn cho thế giới được hòa bình, no ấm. Mà muốn thế thì TT Trump phải được khỏe mạnh và tái đắc cử vì chỉ có Tổng Thống mới "trị" được tên Trung Cộng vì tên này rất gian hùng”

Thúy giơ hai tay lên trời " Bó tay. Đi chùa mà vẫn không quên người hùng. Quỳnh có biết "người hùng" của Quỳnh mới nói láo chụp cho Biden là giết những người nhái của Seal Team 6 không?”

Quỳnh đứng ngay lại, trợn mắt "Ai nói như thế với Thúy?"

Thúy mở cell phone, "dí" vào mắt Quỳnh. Quỳnh thấy đó là e-mail từ nhóm Sáng Tỏ, có lẽ là con trai bà ĐT đứng đầu, chuyên môn phổ biến tin sai.

Nhóm đó viết như sau:

-Savannah Guthrie: “Tại sao ông lại tweet tin bậy bạ, dựng đứng chuyện cựu phó tổng thống Joe Biden giết Biden Laden là giả, không có thật. Ông chuyên môn nói láo, nên nghĩ những người khác cũng cũng dối trá giống như ông.
Lúc đầu một số dân Mỹ vì không theo dõi tin, kém hiểu biết, một số người thiếu học, ngu xuẩn đã tin ông nhưng bây giờ đa số họ cũng đã biết rõ ông rồi!”

-Trump: “Tôi đã tweet lại việc này rồi mà…”

-Savannah Guthrie: “Tôi không thể nào hiểu được. Ông là tổng thống, 1 tổng thống của một nước giàu mạnh nhất thế giới! Ông là người suppose …quyền uy nhất thế giới! Ông đâu phải là một ông chú điên khùng của một người nào đó, đâu phải thường dân đâu… mà sao ông cứ tweet bậy tweet bạ, để hãng Tweeter phải lấy xuống, dán nhãn cảnh cáo hoặc không cho ông tweet những điều láo xạo; bộ ông không thấy quê, thấy nhục à. Lo việc quốc gia đại sự không lo, cứ tối ngày nghĩ ra những điều khủng khiếp để lừa thiên hạ”

-Câu trả lời của nữ ký giả Guthrie có thể được xem như là kết luận của những điều thảo luận bao lâu nay về tư cách và vai trò của TT Trump.

Quỳnh xem xong, hét vang đồi núi Đại Tùng Quang. Vừa hét Quỳnh vừa …rút dao trong bóp múa vài vòng. Cây dâu tằm mọc dại ngoài sân chùa bị Quỳnh chặt nát. Trái dâu tằm phủ đầy sân và dưới “gót chân ngà chưa mỏi” của Quỳnh, từng trái từng trái dập nát. Sân chùa Đại Tùng Quang nhuộm một màu đỏ như màu máu.

Thúy tái mét mặt thì Quỳnh cũng lấy cell ra và "dí" lại vào mắt Thúy "Đây, nghe đi. Nghe Tổng Thống nói này. Nó có phải như nhóm Sáng Tỏ dịch bậy không? Đã nói với Thúy hàng tỷ tỷ lần là Thúy phải nghe hai chiều. Sao Thúy không nghe lời Quỳnh gì hết vậy"

https://www.businessinsider.com.au/savannah-guthrie-slams-trump-bin-laden-lie-crazy-uncle-video-2020-10

(chỉ vài phút. Vì điều hợp viên hỗn hào hay chen vào nên phải nghe tới lui mới rõ được TT nói cái gì)

ĐOẠN KẾT: nghe nói sau khi nghe xong clip, Thúy ngước mắt nhìn lên thì …ô hay dường như nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đang xuất hiện nơi xa xa , rất đẹp trai y như thời 1975 và đôi mắt nhìn Thúy u uẩn như thầm trách điều gì đấy. Nguyễn Văn Đông lúc nào cũng ủng hộ Quỳnh cả hai tay hai chân mà.

Thúy không nói không rằng quay về Boston ngay.

Dường như sau đó, lại “nghe nói” Thúy xuống tóc quy y ở một ngôi chùa nhỏ để ăn năn sám hối vì tội cứ nghe media thổ tả và nghi oan cho Tổng Thống Trump!

Hoàng Lan Chi

10/2020

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Máu đổ trước sân chùa Đại Tùng Quang ở Montreal- Oct 17, 2020

Vụn vặt T 10- Bản tin của HLC có lợi cho ai, “Duyên” củ a người ủng hộ Trump (HLC) với người gây quỹ top 3 c ủa Trump Campain- Oct 10, 2020

VỤN VẶT THÁNG 10- BẢN TIN CỦA HLC CÓ LỢI CHO AI

‘DUYÊN’ CỦA NGƯỜI ỦNG HỘ TT (HLC) VỚI NGƯỜI GÂY QUỸ GIỎI TOP 3 CỦA TRUMP CAMPAIN

MỘT-BẢN TIN HÀNG NGÀY

Có lẽ ở diễn đàn, tôi là người đầu tiên đưa "Bản Tin Hàng Ngày". Đó là tổng hợp, có khi chỉ là 2/3 những gì tôi post ở Facebook. Lý do: Facebook có banner, clip, youtube hoặc hình ảnh.

Ai là người hưởng lợi?

Bạn bè bận rộn của tôi. Họ có thể là người đang đi làm túi bụi nên chỉ lướt xem tin và sẽ theo link đọc kỹ hơn những cái họ chú ý vào buổi tối. Họ có thể là những cụ bà lười biếng đọc báo Mỹ. Ai đó đọc, lược dịch và tóm tắt dùm thì mấy bà ấy thích quá vì vẫn "nắm" được một số tình hình thời sự mới nhất mà không mỏi mắt, mỏi tay, mắc dịch như "bà Tổng HLC"! Họ có thể là người không đi làm, đã về hưu nhưng còn mải làm chuyện cá nhân như volunteer, thú làm vườn…

Bạn bè trẻ và không trẻ trong nước. Họ là những "người tiến bộ". Họ "khao khát" được đọc tin. Họ mong muốn được mở mang kiến thức bằng những bài viết có uy tín. Đương nhiên Facebook của "bà Tổng" là có uy tín vì tôi không đăng tin lá cải, tôi chọn tin từ báo Mỹ (lớn như Fox hoặc ngay cả CNN vì họ PHẢI chịu trách nhiệm trên những gì họ đăng) mới nhất để lược dịch. Tin lá cải là tin mà trước 75, chúng ta gọi là "tin xe cán chó". Đó là những tin "giựt gân". Đa số netters thích "tin giựt gân, lá cải" nhưng tôi không bao giờ để mình sa đà vào chuyện đó.

Vài youtubers. Thời buổi 2020, số youtubers càng ngày càng nhiều như lá mùa Thu. Nó y như khoảng 2005. Nhà nhà làm thơ, in thơ. Nhà nhà viết nhạc, ra CD nhạc. Làm youtubers có lợi là được "khoe" cái dung nhan ( "oi ả" hay "mát dịu" là tùy người đối tượng), được nói và nhất là được youtube trả tiền nếu số người xem đông (vì youtube chèn quảng cáo). Vài youtubers còn trẻ nên có thể khả năng nhận định chưa sắc bén, họ đã chọn con đường "nhặt bài ở net" để làm chương trình. Thật tình cho đến giờ tôi cũng không nhớ có bao nhiêu cháu gửi messnger xin phép lấy bài của cô để làm youtube.

Hiện giờ lai rai có vài người cũng Gửi Bản Tin Hàng Ngày. Điều đó tốt vì giúp mọi người có được tin nhanh, kịp thời.

AI LÀ NGƯỜI ĐÁNG "UÝNH"

Bạn của "bà Tổng HLC" chứ ai. ( cười). Họ xem tin và có khi không save hoặc lười biếng nên …hay nhất là xin ‘bà chằng" gửi lại mail cũ. Thật tình mấy năm trước tay chưa đau, mắt chưa mỏi thì tôi còn đi tìm giúp nhưng bây giờ hả: NO. Tôi đâu "làm mọi" cho mấy vị làm biếng đó được. Vì có khi tìm không ra và khi tìm cũng mỏi mắt, mỏi tay lắm. Tại sao tìm không ra thì không biết. Có thể tôi đặt lại tên. Tôi thường xuyên dọn dẹp, sắp xếp lại computer. Giống như quét dọn nhà cửa vậy. Bài bị mất có thể là khi copy từ nơi này sang nơi khác đã bị mất. Cũng có khi tôi posted ở Facebook nhưng không đủ sức save lại trong máy. Giải thích vầy: tôi đọc, thấy cái gì đó, ở mail người khác, tôi dùng tool SNIP để chụp hình rồi post ở Facebook. Còn thì ai cũng biết tìm bài cũ ở Facebook là cực kỳ mỏi mệt. Tôi lưu ở bog cá nhân (Chúng Tôi Muốn Tự Do) thì tìm ở Mục Lục dễ hơn nhiều.

Một lần tôi trả lời " No. Anh vào Delete Item, tự search đi. Em no time tìm cho anh". Chưa hết giận (!), tôi để voice message ở cell phone la lối "Tại sao anh làm biếng vậy? Đây là lần thứ bao nhiêu rồi, anh cứ email xin mail cũ của em là sao? Bộ người ta hưởn lắm hay sao để đi tìm cho anh?" . Ông này sau đó phải giải thích vì đang ở I phone, không phải computer nên tìm khó! Hừ.

Một lần khác, tôi cũng resend nhưng kèm câu này cho một ông khác "Lần sau là tui chửi đó". Á à, "lão này" thách tôi (cứ chửi trước đi). Thế là "bà Tổng tốc váy" mắng! (Tôi và lão này chơi thân gần 20 năm nên tôi mắng lão ý hoài chứ gì)

Lần khác, một netter lạ nhưng là người nhã nhặn, thường xuyên fw bài của tôi. Ông này giải thích lý do: đã save nhưng không hiểu sao tìm không ra. Tôi dành 30 phút tìm, cũng không ra cái hình chụp cho "bằng chứng" đó. Khi search, máy cũng chỉ ra bài có liên quan đến vụ đó nhưng tôi không lưu trữ hình chụp mà cái proof đó đã được chuyển sang "word". Sở dĩ tôi dành 30 phút tìm vì anh bạn này là người thường xuyên chuyển tin tức cho mọi người. Xem ra HLC phải giúp vì lợi ích chung.

AI LÀ NGƯỜI "ĐÁNG YÊU"

Là lão Trường Sơn Lê Xuân Nhị chứ ai. Lão ý là người rất tử tế vì thỉnh thoảng ghi vài giòng cảm ơn "bà chị" đã "đọc giùm tin và còn tóm tắt dùm". Ít ra mình nấu ăn và người ăn có "củm ơn" thì cũng "mát lòng mát dạ"!

Mới nhất là một sư muội Gia Long, cô ấy cũng cảm ơn sư tỷ vì nhờ sư tỷ cô ấy luôn có tin mới nhất. Đúng thế, nhiều cái "breaking news" thì tôi gửi ngay qua mail, không để đến cuối ngày mới gửi qua Bản Tin.

HAI- NỖI BUỒN CHƯA ĐẶT TÊN

Dường như cách đây hơn hai tuần, vô tình tôi khám phá ra là một "luật sư lừng danh" trong việc "chửi TT Trump rất hung hăng với ngôn ngữ …, lại là một người bạn cũ Đại Học Khoa Học ngày xưa. Thật tình, tôi không tài nào nhớ nổi ngày đó "hắn" làm quen tôi ra sao. Chỉ biết "hắn" rất hên. Hắn "xí" được làm chung thực tập SH trước với tôi. Điều này làm T, "người tình Chu Văn An đầu tiên" của tôi bị lỡ. T ngày đó đã vặn hỏi tôi " D là thằng nào sao T không biết? Sao QG lại làm chung thực tập với hắn"!! Làm chung thực tập với đàn bà con gái nữ nhi là cái mà mấy ông "masculin" ngày đó hay giành nhau. Có gì đâu. Con gái thường chăm chỉ. Họ không bỏ buổi. Họ làm bài nộp đàng hoàng tử tế. Mấy tên làm chung tha hồ "lười biếng" không cần làm bài nộp vì đã có "cô bạn dễ thương chung nhóm" làm giùm rồi.

Tôi bất ngờ lắm lắm vì ngày xưa "bạn ấy" cũng đàng hoàng dù không phải "hiền lành" gì. Tôi bất ngờ vì "bạn ấy" là cử nhân Khoa Học, có lẽ ra trường cùng năm như tôi dù ngành khác nhau, từng là giảng nghiệm viên thực tập cho bên Đại Học Sư Phạm. Hỡi ơi, TT Trump đã làm gì đụng đến quyền lợi của "bạn ấy" để người bạn-có bằng cấp đại học trước 75- tức là hấp thụ giáo dục tiểu và trung học của VNCH, lại có "những ngôn ngữ dễ sợ" với TT Trump đến thế.

Mà thôi, tôi cũng chả ngạc nhiên. Già, gần 90, nghề nghiệp trước 75 cũng là khá cao, cũng dân khoa bảng mà người trí thức Pháp-Việt ấy đã gọi TT là "thằng ấy mà đắc cử thì tôi lo cho các bạn ở Mỹ lắm" thì sá gì người khoa học mới 70!!

Chỉ có điều buồn thì cứ buồn 5 phút chứ. Phải không.

DUYÊN

Vô tình tôi xem được youtube của PhobolsaTv phỏng vấn Đồng Chủ Tịch của Ủy Ban Tài Chánh -Trump Campain. Tôi rất thích vì hay, ngắn, gọn và nhất là câu hỏi dính líu đến vụ gây sóng gió thời gian vừa qua (đi biểu dương ủng hộ TT Trump, có nên màng cờ vàng hay không). Michael Alfaro có khuôn mặt hiền lành, phúc hậu và trả lời rất hay, khéo. Tôi bèn chụp hình một số và post ở Facebook.

Không biết ai đã chỉ cho Michael biết và tôi ngạc nhiên khi thấy notification báo (Michael likes mấy stt của tôi). Tôi đi theo: hóa ra Michael này chính là Michael ấy!! (cười). Lập tức tôi gửi request xin kết bạn và sau đó là gửi messneger xin phỏng vấn. "Bà Tổng" HLC là người nhạy bén như thế đó vì phỏng vấn là "nghề của nàng" mà. "Nàng" lười biếng không chịu phỏng vấn nữa ( vì soạn bài phỏng vấn cũng mệt lắm!) chứ báo Bút Tre Arizona vẫn "chờ" nàng!

Thế là hôm qua phải "vắt óc" suy nghĩ để viết câu hỏi cho Michael. Mất hơn một giờ. Đúng ra là viết vài câu, stop làm chuyện khác rồi lại viết tiếp.

Cái này trong đạo Phật gọi là "duyên". "Duyên" nên người ủng hộ TT từ trước bầu cử, Hoàng Lan Chi, lại gặp được một ủng hộ viên rất giỏi của TT nên mới giữ chức Đồng Chủ Tịch của Ủy Ban Tài Chánh và là top 3 gây quỹ giỏi nhất cho Trump Campain.

Các bạn chờ xem, Hoàng Lan Chi hỏi Michael Alfaro những câu hỏi gì nhé.

Còn bây giờ khoe hoa lá của người trồng cây dở nhất thế giới HLC!

Hoàng Lan Chi

10-2020

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Vụn vặt T 10- Bản tin của HLC có lợi cho ai, “Duyên” củ a người ủng hộ Trump (HLC) với người gây quỹ top 3 c ủa Trump Campain- Oct 10, 2020

Michael Bùi- Mẹ tôi , nữ văn sĩ Đỗ Phương Khanh- Sep 2020

MẸ TÔI

Gia đình tôi là gia đình di cư.Năm 1954, đồng 18 tuổi, Bố Mẹ tôi nắm tay nhau xuống tàu Há Mồm xuôi Nam chạy trốn chế độ CS. Vào đến Sài Gòn, Bố Mẹ tôi khởi nghiệp bằng cách hành nghề viết Sách làm Báo. Năm tôi còn học Tiểu Học, Mẹ tôi dùng tư gia để thành lập Cơ Sỡ Ấn Loát Huyền Trân. Căn nhà này được cái sâu và rộng nên tôi thấy có đến cả trăm nhân viên nhà in làm việc suốt ngày. Chỗ thì chứa các máy in, chỗ thì đễ những hộc chữ bằng chì, phòng này đặt máy sén, cắt giấy, phòng kia cho giai đoạn khâu sách bằng chỉ của các cô các dì..v…v….Trong giờ làm việc thì ôi thôi vui lắm. Tiếng máy in chạy rầm rầm xen lẩn tiếng nói, tiếng cười đùa, tiếng ca vọng cỗ….nó tạo nên một không khí rất sinh động.

Công nhân của nhà in thì rất quý Mẹ tôi qua cách cư xữ và đối đãi với họ rất tận tình chu đáo như đại gia đình. Tôi nghe bà thường nói, ngày thứ 6 là ngày vui nhất của Mẹ trong tuần đó con, vì ngày đó là ngày phát lương cho thợ.Nghĩ đến cãnh họ có tiền chạy về nhà dẫn vợ con đi chơi cuối tuần là Mẹ thấy vui rồi.Cái chân lý ấy đã thấm nhuần tôi cho đến mấy chục năm về sau này, tốt với nhân viên thì họ sẽ đối xử với mình y như vậy thôi.

Có thể nói là Mẹ tôi rất thương tôi, chưa bao giờ Mẹ tôi la rầy gì hết cho mặc tôi có phá phách kiểu gì đi nữa,Mẹ tôi chỉ nhìn và khuyên tôi thôi đừng làm vậy nữa nhe con. Hồi xưa kỷ thuật in ấn còn thô sơ chứ không viết bằng computer rồi in ra như bây giờ. Bài viết được thợ sắp chữ nhìn vào rồi bốc từng chữ chì cho vào cái khay, ABCD – sắc huyền hỏi ngã nặng, sắp được vài hàng là họ phải bỏ qua một bên rồi sắp tiếp, một trang bài có là thợ giỏi cũng mất khoảng 1/2 tiếng, khi đầy trang rồi thì lấy dây cói cột lại, xong họ cà mực lên chì rồi lăn qua giấy trắng, chữ chì ngược khi in qua tờ giấy sẽ hiện ra chử xuôi.

Dĩ nhiên là khi bốc từng chữ như vậy chắc chắn họ sẽ bốc lộn, Mẹ tôi sẽ coi lại những chỗ sai gọi là sửa Morát, bà lấy bút lôi ra sửa từng chữ rồi trả về cho thợ sắp chữ, họ chỉ việc lấy cái nhíp gắp từng chữ sai ra rồi thay vào đó bằng chữ khác cho đúng. Bản chì đã sửa đủ thành trang, họ chồng lên nhau đễ chờ đưa vào máy in.

Thế mà ban đêm bọn con nít chúng tôi kéo nhau vô chạy nhảy trong nhà in làm lộn tùng phèo hết đống chữ ấy, kéo theo những chồng giấy in khổ báo lớn chất cao tới trần nhà xập xuống đổ ngổn ngang. Thế là sáng hôm sau những người thợ phải làm lại từ đầu.Họ báo cáo lên thì Mẹ tôi cũng không nói gì, bà chỉ yên lặng khi nhìn ra thủ phạm chính là tôi, rồi hiền từ nói, các con muốn chạy nhảy thì ra sân mà chơi nhé, đừng làm công việc nhà in của Mẹ bị chậm trễ.

Có những buổi trưa khi Mẹ tôi còn làm quản lý cho nhà in Hồng Lam trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm của Linh Mục Cao Văn Luận. Cha Luận từng là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, sau bị chính quyền nhà Ngô thất sủng qua vụ Biến Động Miền Trung,cha có viết một cuốn Hồi Ký lẩy lừng tựa"Bên Giòng Lịch Sử 1940-1965". Mẹ tôi cho tôi đi theo chơi quanh quẩn trong nhà in. Mổi lần được gặp mặt, cha Luận lại dúi cho tôi nay thì vài cái kẹo, dăm bửa thì cái bánh giò, nghĩ lại thật là hân hạnh cũng nhờ Mẹ tôi.

Rồi cũng có những lần, Mẹ tôi dắt tôi đi khám bệnh hay đi làm răng ngoài Sài Gòn, tôi rất ghét cái cha Nha Sĩ này ở gần VP Beer BGI cạnh hảng làm Nước Đá trên đường Hai Bà Trưng, khi xe xích lô ngừng trước cửa là tôi biết ngay, sợ lắm nhất định không dám vào, Mẹ tôi lại phải dụ ngọt mãi.Bù lại,cứ mổi lần như thế là Mẹ tôi lại dắt tôi đi xem Ciné ở các Rạp như Eden, Đại Nam, Rex…., xong bà còn thưởng cho một chầu ở quán Kem Bạch Đằng đối diện Casino Sài Gòn vì tôi đã anh dũng hy sinh cái răng bị hư. Thiệt, răng bị sâu tôi còn không biết thế mà Mẹ tôi đã biết tỏng rồi…

Khoảng đầu thập niên 70′ Mẹ tôi vừa làm nhà in, vừa mở thêm Vườn Trẻ Anh Vũ theo phương pháp giáo dục Montessori, bà mướn trọn cái nhà lầu 2 tầng kế bên có cái sân rất rộng,rồi đập luôn cái tường cho thông qua nhau. Ban ngày phụ huynh gửi trẻ, tối về hết thế là bọn chúng tôi lại có thêm đất đễ chạy nhảy bắn súng chơi 5-10.Hò hét vui thật là vui, lũ con nít trong xóm thòm thèm muốn vô chơi phải xin vào à nhe,nên tôi rất có thớ,đứa nào cà chớn tôi tống cổ ra nên tụi nó một phép. Ỷ Mẹ mà,có quyền vênh váo chút chứ.

Ngoài 2 Cơ Sỡ nêu trên, Mẹ tôi còn phụ trách trang Nhi Đồng trong Báo Hòa Bình của Linh Mục Trần Du trên đường Phạm Ngũ Lão, trang Phụ Nữ trong Báo Dân Chủ thuộc Đảng Dân Chủ của ông Thiệu trên đường Hiền Vương.Đồng thời vào năm 1971, Báo Thiếu Nhi cũng ra đời, bà là Tổng Quản Trị và đồng phụ trách trang Vườn Hồng mà chủ nhiệm là ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí và chủ bút là nhà văn Nhật Tiến. Thời gian này nhà tôi còn đông hơn nữa,khách khứa ra vào nườm nượp, Mẹ tôi tận dụng luôn mấy phòng trên đễ làm Tòa Soạn. Hàng ngày thì các cô chú trong Ban Biên Tập tới làm việc, cuối tuần thì mở cửa đón các thiếu niên vào Thư Viện Báo Thiếu Nhi đọc sách,sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi. Báo Thiếu Nhi còn mở lớp dạy ORIGAMI – Nghệ Thuật Gấp Giấy của Nhật Bản nữa chứ. Nói chung Mẹ tôi đầu tắt mặt tối, nhưng hình như càng thấy đông con nít lại càng làm cho bà vui, chẳng bao giờ thấy Mẹ tôi kêu ca phiền hà gì.

Năm tôi lên lớp 6, chắc phá quá nên Mẹ tôi cho tôi vào trường nội trú Don Bosco ở Thủ Đức.Cuối tuần thứ 7 có xe Bus chỡ về, ngày chủ nhật họ lại đón đi. Dĩ nhiên là bị bắt vào khuôn khổ kỷ luật của các Linh Mục người Hòa Lan thì làm sao tôi thích được. Thế là tôi dùng 500$ mà cứ mổi tuần Mẹ tôi dúi vào tay khi ra đi ngày chủ nhật, tôi mua kẹo Cam kẹo Dâu trong cái hộp sắt ở Căn Tin rồi chờ thứ 7 đem về tặng Mẹ như là quà hối lộ. Năn nỉ ỉ ôi riết qua năm lớp 7 vì thương tôi nên Mẹ tôi cho tôi về học Lasan Hiền Vương-Sài Gòn.

Vì trong giới Nhà Văn Nhà Báo, Bố Mẹ tôi có rất đông thân hữu.Từ nhà văn Duyên Anh, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Cung Tích Biền, Sơn Nam..v…v… cho tới Nguyễn Thị Vinh, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân,Tuệ Mai….Riêng nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn nhận tôi là con nuôi, mà tôi xưng lại là Me Vinh (Nhà Văn Nguyễn Thị Vinh cũng đã mãn phần vào tháng 1/2020 tại Oslo,Na Uy, hưởng dương 97 tuổi).Hầu như gần hết các Văn Nghệ Sĩ ở Sài Gòn thường xuyên lui tới thăm viếng ông bà cụ và nhiệm vụ của tôi là bưng nước. Còn đãi tiệc thì có thể nói là thường xuyên. Cứ mổi lần đi học về xuống nhà bếp là thấy Mẹ tôi và 3 bà người làm tất bật lo chuẩn bị, thường thì Mẹ tôi đãi khách bằng các món Miền Bắc như Bánh Tôm Cổ Ngư, Chạo Tôm, Nem Rán Cua Bễ, Giả Cầy hay Bún Thang, Bún Ốc..v..v…Thế là tôi lại có dịp được uống nước Xá Xị,nước Cam thả giàn.Chai ướp lạnh khui ra cứ vậy mà nốc.

Ngày 30/4/75 đại họa ụp xuống thế là Mẹ tôi bi mất hết. Nhà in dẹp tiệm, Vườn Trẻ giải tán, toàn bộ Báo Chí của Miền Nam Tự Do bị cấm đoán, chỉ có Nhật Báo Tin Sáng của Dân Biểu đối lập Ngô Công Đức là được tái bản vào tháng 7/1975 vì Võ Văn Kiệt đang cần một tờ báo của chế cũ đễ tuyên truyền. Đã thế vào tháng 9/1975, Ủy Ban Quân Quản còn ra lệnh đổi tiền, cứ 500$ tiền VNCH đổi được 1$ tiền mới. Mổi gia đình được phép đổi 100,000$ VNCH tức là chỉ được 200$ tiền Việt Cộng. Gia đình nào có trên 100,000$ VNCH thì kể như mất sạch. Cú này là đòn chí tử đánh vào những gia đình trung lưu ở Miền Nam.Mẹ tôi kể như trắng tay sau 20 năm tích lũy.

Miền Nam sau ngày Sài Gòn tắt bóng, người dân sống trong cãnh lo âu sợ hãi. Không biết đêm nào Công An sẽ gõ sữa bắt đi vì lý do nào đó. Tuy vậy, ở một khóa học tập gọi là "Khóa Bồi dưỡng Chính Trị dành cho Văn Nghệ Sĩ", Mẹ tôi đã đứng lên chỉ mặt vào một Cán Bộ Miền Bắc tên Mai Quốc Liên, khi ông ta dám tuyên bố rằng "Các anh các chị làm đừng trông mong vào việc cầm bút trở lại. Bởi vì miền Nam các anh các chị làm gì có văn hóa!" Mẹ tôi hỏi:Anh vào trong Nam được bao lâu rồi, và anh đã đọc được bao nhiêu tác phẩm của miền Nam rồi mà anh dám nói miền Nam không có văn hóa? Làm hắn cứng họng.

Là con người đầy nghị lực,Mẹ tôi lại lăn ra đường kiếm sống cũng như hàng triệu người Miền Nam khác, bằng cách mở Quán bán Bánh Tôm Cỗ Ngư tại Hồ Con Rùa trước cữa Viện Đại Học Sài Gòn(tôi có bài viết kỷ niệm về Quán Bánh Tôm này, link đính kèm), Một thời gian sau cũng không xong phải dẹp tiệm vì bị Công An rình rập, về nhà bà đi vay mượn rồi lại mở Cơ Sỡ Sản Xuất Nước Đá cây, hàng ngày bà giao cho tôi đi bỏ mối. Thấy có vẻ xôm trò,thế là Ủy Ban Nhân Dân Phường bắt phải đưa vào Hợp Tác Xã, tức mình Mẹ tôi dẹp luôn,nhất định không dây dưa gì đến chúng nó.

Trong thời gian này, một hôm tôi thấy có Ký Giả – Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên tới nhà sầm sì gì với Mẹ tôi chuyện gì đó. Vài ngày sau thì tôi thấy có một người đàn ông lạ mặt tới ở tuốt đàng sau nhà, căn phòng này xưa là cái kho nhỏ cạnh nhà tắm.. Ông ta không bao giờ ra đường, tôi cũng không rõ ông ta ăn uống thế nào. Rồi mãi sau này tôi mới biết ông ta tên Nguyễn Phúc Vĩnh Tung, là sỹ quan QLVNCH, chồng cô Kiều Mỹ Duyên trốn tù cãi tạo về TP. Thế mà Mẹ tôi ra tay giúp đỡ bao che cho. Thiệt, chúng mà bắt được thì Mẹ tôi có môn rũ tù, nhưng bà vẫn tĩnh bơ làm như không có chuyện gì xảy ra.. Ông Vĩnh Tung sau cũng tìm ra đường đi vượt biên và đã đến được bến bờ tự do vào năm 1979.

Thời gian sau Mẹ tôi nhờ quen biết nên được ông Lý Thái Thuận một người Việt gốc Hoa, Giám Đốc nhà in Alpha mời về làm xếp khâu sửa Morát có biên chế nhà nước. Mừng quá bà nhận lời ngay. Thế là ngày qua ngày Mẹ tôi lại đạp xe đạp từ Cỗng Xe Lữa Số 6 đi làm Công Nhân Viên ở đường Phạm Ngũ Lão gần chợ Thái Bình.Có lần mãi đến tối mịt mới thấy Mẹ tôi về, mồ hôi nhễ nhãi, trời ơi Mẹ tôi phải dắt xe đạp bị đứt Dây Sên từ đường Kỳ Đồng về tới nhà vì không đủ tiền sửa.Dây Sên phải thay mới. Nhưng bà vẩn hớn hở, vì trong giỏ hôm đó là ngày Mẹ tôi được mua Nhu Yếu Phẩm có 1 ký thịt heo. Nhìn Mẹ mà tôi chảy nước mắt nhưng không làm gì được cho Mẹ.

Nhưng cũng nhờ sự quen biết này mà Mẹ tôi mới vay được tiền ông Lý Thái Thuận đễ lo cho 2 anh em tôi đi vượt biên.Ngày chia tay xuống bãi vào cuối Hè năm 1979, Mẹ tôi dúi vào tay tôi một chĩ vàng rồi ôm tôi khóc, Mẹ không biết con sẽ đi về đâu, nhưng nếu có thoát được ráng cho Mẹ biết đễ Mẹ khỏi lo, tôi biết chắc rằng Mẹ tôi sẽ không ngủ được. May sao, rời Ngọc Hà ghe của tôi lênh đênh trên Biển Đông khoảng 1 tuần thì được tàu của Hoàng Gia Na Uy vớt lên đem vào Singapore. Nhập trại xong là tôi mò ra Sembawang đánh điện cấp tốc ngay về cho Mẹ chỉ với 1 hàng chữ "Cam on co chu Thuan", cho khỏi lộ chuyện gia đình có thân nhân đã đào tẩu ra nước ngoài với bọn Công An khu vực.

Lại nữa,không có Mẹ tôi lo cho đi thì ở lại cũng đi đạp Xích Lô chứ khá gì nổi ở cái xứ Xếp Hàng Cả Ngày ấy.

Mẹ tôi chia ra cho cả gia đình đi vượt biên thành 3 chuyến. May sao cả 3 đều trót lọt và cùng gặp nhau tại California. Năm 1981 qua tới, bà lại làm lại từ đầu. Bố mẹ tôi chỡ nhau đi học điện cho thực tế, hồi xưa có trường Control Data Institute ở Anaheim, không biết bây giờ còn không.Sau đó cả 2 ông bà đều ra trường với tấm bằng Technician điện. Sau Hảng Verifone chuyên sản xuất máy cà credit card, nhận cả 2 vào làm Electronic Technician cho tới ngày Bố Mẹ tôi nghĩ hưu, tính ra Mẹ tôi làm cho Verifone cũng được 20 năm.

Sau khi nghĩ hưu có thời giờ rãnh rỗi, Mẹ tôi bắt đầu dồn nỗ lực vào việc nghiên cứu kinh kệ. Bà phụ trách và biên soạn cho chương trình về Phật Pháp Tuệ Đăng hàng tuần trên đài Hồn Việt TV phát đi khắp 50 TB và Canada.Ngoài ra Mẹ tôi còn dịch sách của Triết Gia Krishnamurti sang Việt Ngữ, cũng như phụ trách điều hành trang website khaiphong chấm net cho dân mạng mở mang kiến thức về các vần đề Khoa Học Xã Hội.

Nói thật, Mẹ tôi sinh tôi ra, lo lắng cho tôi từng li từng tí, cái gì tôi thích bà cũng chiều. Muốn đi chơi, Mẹ cho tiền. Muốn xe đạp có xe đạp, muốn giầy mới, đồ mới, mẹ tôi trước sau gì cũng xì tiền cho tôi mua. Chẳng bao giờ thấy Mẹ lôi la mắng gì cả. Ngay đến cái Sổ Học Bạ hồi xưa, tháng nào mà tôi bị xuống hạng.Tôi cũng cầu cứu Mẹ tôi đưa Bố tôi ký cho xong chuyện còn đem đi nộp..

Ngày Mẹ tôi nghĩ hưu, bà có tiền hưu, tiền già, chẳng khi nào bà cần gì từ anh chị em chúng tôi . Nói đúng ra thì tôi chưa lo cho Mẹ tôi được ngày nào, thứ vô cùng vô dụng đối với Mẹ tôi. Nhưng đôi khi tôi cũng có chút an ủi làm cho Mẹ tôi vui,số là thế này. Cách đây 10 năm sau khi giá Địa Ốc bị sụp đổ. Tôi xoay qua nghề nhập các loại máy về Massage vô Mỹ bán,máy thì ôi thôi tôi có đủ. Massage bụng, cổ, vai, lưng, tay,chân,đầu,mặt.. nói chung là các loại các kiểu đủ hết.. Mà Mẹ tôi sau này lại hay bị đau nhức vì hồi xưa trước 1975, có lần bà bị Xe Lửa đụng. Đúng vậy, Xe Lửa đụng nát chiếc xe hơi bà đang đi tại Cổng Xe Lửa Số 6 đâm ra Bệnh đau nhức nó cứ theo bà từ dạo đó. Thế là tôi mang đủ loại Massage qua cho Mẹ tôi trị bệnh, mang nhiều đến nỗi bạn bè của Mẹ tôi đến chơi họ còn nói dỡn, cứ tưởng như đang lạc vào GYM. Nhờ vậy mà bệnh đau nhức của Mẹ tôi cũng bớt nhiều, lại còn không phải mổ chân theo lời súi bậy của một ông BS kia.

Có cái đưa máy mới thì lúc nào Mẹ tôi cũng áy náy vì sợ tôi cần hàng đễ bán cho khách. Tôi phải năn nĩ, Mẹ ơi, máy con có cả kho Mẹ cứ sài đồ mới đi…mãi bà mới chịu nhận. Đấy, đến cuối đời Mẹ tôi vẫn lo cho tôi chẳng khác gì ngày tôi còn bé.

Mẹ tôi là người ăn chay trường từ 30 năm nay. Bà sống rất đạm bạc, vui vẽ, lạc quan, yêu đời. Cách đây vài tuần, BS phát giác ra Mẹ tôi trở bạo bệnh vào thời kỳ cuối. Không than van, không rên siết, không làm phiền tới ai. Mẹ tôi đã ra đi thanh thản vào trưa ngày hôm qua Aug 26th,2020 với đầy đủ con cháu chung quanh.

Mẹ ơi, tối hôm qua lúc xe Nhà Quàn tới đưa Mẹ đi, tụi con tiển Mẹ cho tới giờ xe lăn bánh.Kỷ niệm của những năm tháng thời thơ ấu lại trở về đầy ắp trong tâm trí.Bao nhiêu âu yếm ân cần mà Mẹ cho tụi con nay đã trỡ thành dĩ vảng.Ước gì Mẹ ráng ở lại thêm được ngày nào hay ngày đó thì vui biết mấy, hay là Mẹ quay luôn về sống lại những ngày xưa ấu thơ của tụi con thì càng tốt.Con sẽ chạy quanh Mẹ đễ Mẹ xoa đầu gọi "Trụ của Mẹ", Mẹ phải đền cho con khi con bị té, Mẹ phải đền từng mủi chích, từng cái răng khi con bị nhỗ, nhất là phải có Mẹ con mới lên mặt được với chúng nó.

Nhưng ước gì thì ước vậy thôi chứ Mẹ đã ra đi thật rồi thì con xin kính chúc Mẹ được thảnh thơi trên cõi Vĩnh Hằng.Đời Mẹ đã hy sinh cho tụi con như thế là quá đủ, Mẹ đừng bận tâm nữa Mẹ nhé.

Con của Mẹ.

Michael Trụ Bùi
Aug 27th,2020

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Michael Bùi- Mẹ tôi , nữ văn sĩ Đỗ Phương Khanh- Sep 2020

Đông Kha- Nhìn lại chặng đường của ban “Hợp Ca Thăng Long’- Sep 13, 20202

Đông Kha

Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long”

Ban nhạc đã trở thành huyền thoại

Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).

Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)

Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.

Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc.

Đại gia đình Thăng Long:

hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung,

hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.

Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.

Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu

Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:

“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”

Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long.

Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm),

Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ.

Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh

Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.

Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh

Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt.. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.

Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long

Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.

Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.

Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.

Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm)

và Thái Hằng (áo trắng)

Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).

Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974

Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”

Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.

Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc

Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.

Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.

Hotel Catinat

Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10…

Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.

Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh

Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62

Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83

Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.

Bài: Đông Kha

Bản quyền bài viết của nhacxua.vn

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Đông Kha- Nhìn lại chặng đường của ban “Hợp Ca Thăng Long’- Sep 13, 20202

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975
Cùng nhìn lại những hình ảnh so sánh “xưa và nay” của các ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước năm 1975. Đến nay, thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, không ai có thể tránh khỏi được quy luật của thời gian. Tuy nhiên cũng có một số ca sĩ vẫn còn mang phảng phất nét đẹp quý phái của một thời vàng son.

altCa sĩ Thanh Lan

Thanh Lan sinh năm 1948, là ca sĩ, diễn viên của Việt Nam. Bà là một trong những nghệ sĩ hiếm hoi thành công trên cả ba lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và sân khấu. Ca sĩ Thanh Lan nổi tiếng với các ca khúc Pháp, là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thời kỳ đầu của nhạc trẻ ở Sài Gòn.

altCa sĩ Phương Hồng Quế

Ca sĩ Phương Hồng Quế sinh năm 1953, là một trong những giọng hát tiêu biểu thuộc thế hệ sau cùng của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Cô được báo chí Sài Gòn gọi danh hiệu là “Tivi chi bảo”.

altCa sĩ Kim Loan

Ca sĩ Kim Loan sinh năm 1948, nổi tiếng khắp làng nhạc miền Nam xưa với nhan sắc khả ái với ca khúc được mến mộ nhất là Căn Nhà Ngoại Ô của nhạc sĩ Anh Bằng

altCa sĩ Trúc Mai

Ca sĩ Trúc Mai sinh năm 1942, thuộc thế hệ đầu tiên của nhạc vàng miền Nam. Cô không chỉ có giọng hát ngọt ngào, ấm áp mà còn chinh phục khán giả với vẻ đẹp yêu kiều, quý phái. Giọng hát Trúc Mai gắn liền với bài hát “Hàn Mặc Tử” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

altCa sĩ Anh Khoa

Ca sĩ Anh Khoa sinh năm 1948, là một trong những nam ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước 1975 ở dòng nhạc trữ tình. Giọng hát truyền cảm và nhẹ nhàng của ông đã gây ấn tượng với khán giả cho đến ngày nay.

altCa sĩ Phương Dung

Ca sĩ Phương Dung sinh năm 1946 (có thông tin cho rằng năm sinh thật của cô là 1942), là ca sĩ thuộc thế hệ đầu của dòng nhạc vàng, được khán giả mến mộ trong suốt 60 năm qua. Cô được đặt biệt danh là “Nhạn Trắng Gò Công”, rất thành công với những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng như Nỗi Buồn Gác Trọ, Tạ Từ Trong Đêm, Những Đồi Hoa Sim… Cho đến nay Phương Dung vẫn còn đi hát ở Việt Nam

altCa sĩ Thiên Trang

Ca sĩ Thiên Trang sinh năm 1951, là một trong những ca sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng. Cô có giọng hát ngọt ngào và gương mặt rất hiền từ, dễ gây thiện cảm với khán giả.

altCa sĩ Hương Lan

Ca sĩ Hương Lan sinh năm 1956, được xem là 1 trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của nhạc vàng trước và sau năm 1975. Giọng hát của Hương Lan nổi tiếng với sự ngọt ngào đặc trưng, đặc biệt là khi hát nhạc quê hương âm hưởng dân ca Nam Bộ. Hương Lan cũng là 1 trong những ca sĩ có nhiều bản thu âm nhất với hàng ngàn ca khúc được phát hành trong hơn 50 năm ca hát.

altCa sĩ Ngọc Đan Thanh

Ca sĩ Ngọc Đan Thanh sinh năm 1952, là nghệ sĩ thành công trong cả 3 lĩnh vực là cải lương, nhạc vàng và MC của chương trình Asia. Sau khi sang định cư tại Mỹ năm 1990, cô còn tham gia lồng tiếng một số bộ phim Hong Kong, Hàn Quốc.

altCa sĩ Thái Châu

Ca sĩ Thái Châu sinh năm 1951, nổi tiếng với dòng nhạc vàng, trữ tình với giọng hát ấm áp nhưng cũng rất ngọt ngào.

altCa sĩ Giáng Thu

Ca sĩ Giáng Thu là học trò của nhóm tác giả Lê Minh Bằng (Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng). Người bạn đồng môn của cô trong lớp nhạc Lê Minh Bằng còn có ca – nhạc sĩ Mạnh Quỳnh, người đã song ca ăn ý với Giáng Thu, đặc biệt là với bài hát Tuyết Lạnh, Hai Đứa Giận Nhau…

altCa sĩ Bạch Yến

Danh ca Bạch Yến sinh năm 1942, là 1 trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn từ cuối thập niên 1950. Cô là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965, là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất trình diễn cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon… và là ca sĩ Việt đầu tiên và duy nhất hát nhạc phim Hollywood The Green Berets (Mũ nồi xanh).

altCa sĩ Thanh Thúy

Ca sĩ Thanh Thúy sinh năm 1943, là một trong những nữ ca sĩ có ảnh hưởng lớn nhất đến nền Tân nhạc Việt Nam trước năm 1975, là thế hệ ca sĩ đầu tiên của dòng nhạc vàng miền nam. Tên tuổi của cô đã gắn liền với nhạc sĩ Trúc Phương và những tình khúc tiền chiến. Cô cũng là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, đạo diễn truyền hình nổi tiếng… ca ngợi hết lòng với rất nhiều mỹ danh, trong đó nổi tiếng nhất là Tiếng hát liêu traiTiếng hát lúc 0 giờ.

altCa sĩ Băng Châu

Ca sĩ Băng Châu sinh năm 1950, ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào, cô còn là một trong những ca sĩ có nhan sắc khả ái nhất trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 1975

altCa sĩ Thanh Mai

Ca sĩ Thanh Mai sinh năm 1955. Trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, dù Thanh Mai không phải là ca sĩ thuộc hàng nổi danh nhất, nhưng tên tuổi của cô vẫn được rất nhiều người biết đến, đặc biệt trong dòng nhạc trẻ.

altCa sĩ Khánh Ngọc

Ca sĩ Khánh Ngọc sinh năm 1937, là minh tinh điện ảnh Sài Gòn thuộc thế hệ đầu tiên. Trong lĩnh vực âm nhạc, bà sở hữu giọng hát nhiều nội lực, từng là thành viên của ban Thăng Long danh tiếng, và cũng là vợ cũ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

altCa sĩ Lệ Thu

Ca sĩ Lệ Thu sinh năm 1943, thường được nhắc đến như là 1 trong 3 nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, cùng với Khánh Ly và Thái Thanh

altCa sĩ Giao Linh

Ca sĩ Giao Linh sinh năm 1949, là một trong những ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trước năm 1975. Cô thường được báo chí Việt Nam gọi là “Nữ hoàng sầu muộn” do tiếng ca và phong cách biểu diễn trầm buồn trong các ca khúc nhạc vàng.

altCa sĩ Thanh Tuyền

Ca sĩ Thanh Tuyền sinh năm 1947, là một trong những nữ ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

altCa sĩ Khánh Hà

Ca sĩ Khánh Hà sinh năm 1952. Cô đã đi hát trước năm 1975, nhưng chủ yếu là hát nhạc trẻ. Từ sau khi sang hải ngoại, Khánh Hà được yêu mến với dòng nhạc trữ tình từ thập niên 1980 với giọng hát rất điêu luyện và được so sánh với các diva nước ngoài.

altCa sĩ Elvis Phương

Ca sĩ Elvis Phương sinh năm 1945, là ca sĩ nổi danh với nhiều thế loại nhạc: nhạc trẻ, tiền chiến, nhạc vàng, trữ tình, rock Việt. Sự nghiệp của ông trải dài trên 50 năm và thường được nhắc đến cùng với tên tuổi của ban Phượng Hoàng trước năm 1975.

altCa sĩ Khánh Ly

Ca sĩ Khánh Ly sinh năm 1945, được đánh giá là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Tên tuổi của cô thường được xếp bên cạnh 2 nữ danh ca khác là Thái Thanh và Lệ Thu.

altCa sĩ Hoàng Oanh

Ca sĩ Hoàng Oanh sinh năm 1946, là một trong những ca sĩ tiên phong hát dòng nhạc vàng từ thập niên 1960. Số lượng bài hát nhạc vàng gắn liền với tên tuổi Hoàng Oanh rất nhiều, có thể liệt kê những bài nổi tiếng nhất là Ai Ra Xứ Huế (Duy Khánh), Chuyến Đò Vỹ Tuyến (Lam Phương), Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao (Lê Dinh), Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy (Trầm Tử Thiêng), Về Đâu Mái Tóc Người Thương (Hoài Linh), Câu Chuyện Đầu Năm (Hoài An), Một Người Đi (Mai Châu), Mưa Trên Phố Huế (Minh Kỳ & Tôn Nữ Thụy Khương), Sao Chưa Thấy Hồi Âm (Châu Kỳ)… Hoàng Oanh cũng là ca sĩ hiếm hoi của dòng nhạc vàng học lên đến đại học thời đó. Cô tốt nghiệp Cử nhân (Ban Sử Địa) ở Đại Học Văn Khoa.

altCa sĩ Phương Đại (tam ca Sao Băng)

Ca sĩ Phương Đại được biết nhiều nhất trong ban tam ca Sao Băng. Ngoài ra ông cũng thường song ca với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế

altCa sĩ Phương Hoài Tâm

Ca sĩ Phương Hoài Tâm thường được gọi là “tiếng hát học trò”, được biết đến tên tuổi thật sự không phải nhờ giọng hát xuất sắc, mà là ở khuôn mặt xinh tươi khả ái với đôi má lúm đồng tiền và một mái tóc cắt úp, một thời đã được nhiều nữ sinh coi như kiểu tóc thời trang.

altCa sĩ Trung Chỉnh

Ca sĩ Trung Chỉnh sinh năm 1943, là ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước năm 1975 và thường song ca với Hoàng Oanh, Phương Dung. Nghề nghiệp chính của ông là bác sĩ quân y

altCa sĩ Chế Linh

Ca sĩ Chế Linh sinh năm 1942, là một huyền thoại của dòng nhạc vàng. Ông vừa là ca sĩ, vừa là nhạc sĩ với bút danh Tú Nhi, được công chúng xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng. Hiện nay ở tuổi gần 80, ông vẫn còn đi hát, là giọng hát bền bỉ nhất của nhạc Việt mọi thời đại.

altCa sĩ Mạnh Quỳnh

Ca sĩ Mạnh Quỳnh sinh năm 1951, là học trò của nhóm Lê Minh Bằng. Ông thường song ca với ca sĩ Giáng Thu, và được biết đến với ca khúc Gõ Cửa.

altCa sĩ Mai Lệ Huyền

Ca sĩ Mai Lệ Huyền sinh năm 1946, được xem là một ca sĩ huyền thoại của Sài Gòn trước năm 1975, trở thành hiện tượng chưa từng có trong dòng nhạc kích động khi kết hợp cùng Hùng Cường. Mai Lệ Huyền sở hữu vẻ đẹp lạ, giúp cô luôn nổi bật trong đám đông. Cô có đôi mắt to và sâu thăm thẳm, khuôn mặt tròn như búp bê. Ở thời đỉnh cao của mình, cô đã đốt cháy các sân khấu và vũ trường bằng giọng ca đầy ma lực và vẻ bề ngoài quyến rũ, trở thành cái tên có độ phủ sóng rộng rãi trong công chúng miền Nam.

altCa sĩ Họa Mi

Ca sĩ Họa Mi sinh năm 1955, là cô học trò nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ca sĩ Họa Mi được nhận xét có “giọng hát trong và thánh thót ở những nốt cao, ấm áp và tình cảm ở những nốt trầm”.

Sau đây là hình ảnh xưa và ảnh sau này của các ca sĩ đã về khuất núi:

altDanh ca Thái Thanh

Danh ca Thái Thanh sinh năm 1934 và qua đời năm 2020. Bà được mọi tầng lớp khán giả, các nghệ sĩ và giới nghiên cứu âm nhạc xưng tụng là tên tuổi lớn nhất trong số những ca sĩ của tân nhạc Việt Nam. Bà được nhà văn Mai Thảo gọi là “Tiếng hát vượt thời gian”, và danh hiệu này đã đi liền với cuộc đời và sự nghiệp của bà. Nhiều người cũng gọi Thái Thanh là “đệ nhất danh ca” của âm nhạc Việt Nam.

altCa sĩ Duy Quang

Ca sĩ Duy Quang sinh năm 1950, là con trai đầu của nhạc sĩ Phạm Duy và danh ca Thái Hằng. Ông được coi là một trong những ca sĩ nổi bật của tân nhạc Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai, với chất giọng ngọt ngào, tình cảm.

altCa sĩ Hà Thanh

Ca sĩ Hà Thanh sinh năm 1937 và đã qua đời năm 2014. Bà là giọng nữ trung thành danh ở Sài Gòn từ đầu thập niên 1960, sở trường hát nhạc thính phòng cổ điển, nhạc tiền chiến, và cả nhạc vàng.

altCa sĩ Duy Khánh

Cố ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh sinh năm 1936 và qua đời năm 2003, ông được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng, và có thể xem là “cánh chim đầu đàn” của dòng nhạc vàng được khai sinh vào thập niên 1950-1960 ở miền Nam.

altNhật Trường Trần Thiện Thanh

Ca sĩ Nhật Trường, cũng là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 và qua đời năm 2005. Hiếm có người nào lên đến đỉnh vinh quang với cả 2 lĩnh vực ca sĩ và nhạc sĩ như ông. Nhật Trường Trần Thiện Thanh cũng được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng.

altCa sĩ Hùng Cường

Ca sĩ Hùng Cường sinh năm 1936, qua đời năm 1996, được công chúng yêu nhạc xưng tụng là một trong tứ trụ nhạc vàng cùng với Duy Khánh, Chế Linh và Nhật Trường. Đó là 4 danh ca vừa có khả năng hát, vừa có khả năng sáng tác nhạc vàng, và là những nam danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc miền Nam vào thập niên 1960 – nửa đầu thập niên 1970. Nếu chỉ xét riêng trong dòng nhạc vàng thì tên tuổi của Hùng Cường có phần yếu thế nhất trong 4 cây “đại trụ” này, nhưng nếu xét về sự đa tài, mức độ tài hoa thì Hùng Cường lại nổi trội hơn cả, vì ông không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc, mà còn là tài tử điện ảnh nổi tiếng, một kép chính cải lương lừng danh và là một trong những nghệ sĩ kịch đầu tiên của miền Nam.

Đông Kha

(Ghi rõ nguồn nhacxua.vn khi copy bài viết)

stime=1598305862
fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img __,_._,___

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975