Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Lan Chi 2004-2013

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Tình Không Phai Là Tình Chẳng Lai Rai

Tháng qua, dọn dẹp computer. Tôi nhặt ra một số ngày tháng cũ.

Hôm nay tôi gửi cho một nhóm nhỏ Gia Long của tôi vài hình cũ của mười năm trước. Đó là hình tôi chụp chung với vài cựu nữ sinh Gia Long (tất cả đều là muội vì nhỏ hơn hai ba năm gì đó) vào năm 2014 khi tôi đến Nam CA. Năm đó, nhóm Gia Long và thân hữu của forum Việt Báo tổ chức gặp GL Hoàng Lan Chi.

4 Gia Long: Quế Hương-Hoàng Lan Chi –Ngọc Anh-Hoàng Mỹ Hương-2004

Muội Lê Ngọc Túy Hương của tôi viết vầy sau khi xem hình:

10 năm không gặp ….tưởng tình đã cũ ( hay thật là tình đã cũ ?)
hahaha
cám ơn chị LC cho coi ké!

Tôi bèn trả lời:

Cưng Túy Hương à:

có tình cũ và có tình không cũ

có tình phai và cũng có không phai

tình sẽ cũ nếu như tình đã mới

tình không phai nếu tình chẳng … lai rai!!! (cười)

Tình không cũ: Quế Hương

Tình phai liền: Ngọc Anh (cười) vì tính nết chị Lan Chi và Hoàng Mỹ Hương thì cổ, Ngọc Anh thì lãng mạn. ( bí xị).

Tình chẳng phai vì chẳng có lai rai: Vì không “lai rai” mí nhau nên không phai. Hoàng Mỹ Hương (đang là đương kim hội trưởng am CA). Lý do: HMH hiền, ít nói. Mỹ Hương, tuy học cùng khoa học nhưng không chơi. Ngày đó chị Lan Chi biết Mỹ Hương vì là bồ của Phạm Ngọc Hiền mà Hiền thì cùng Khoa lý..

Túy Hương đáp:

[tình không phai nếu tình chẳng … lai rai!!!]

quá đã! Em chịu câu này quá.

Tôi lại Mao tôn cương:

có hợp mới có tan. Có đói mới có no !

hổng có lai rai thì nàm thao mà phai.

Do đó, em thề…chẳng yêu ai. Em thề, em chả lai rai. (hong biết năm ni, “em” nì bao nhiêu tuổi hỉ! )

hí hí.

Một ngày giữa tuần, vui với bạn cũ. Nhớ lại thuở đi học.

Nhưng đúng là:

Tình không cũ bởi vì tình chưa mới

Áo không mầu nên áo chẳng hề phai

Phải vậy không?

Hoàng Lan Chi

8/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Nguyễn Xuân Phước-Người Việt đã thắng KKK trong cuộc chiến kỳ th ị ở TX như thế nào-1979-được làm thành phim Alamo Bay

LGT: đây là một tài liệu hay. Mô tả lại sự việc người Việt ( hành nghề chài tôm) đã bị kỳ thị, đã bị KKK tuyên chiến và họ đã dũng cảm đương đầu ra sao để đạt đến kết quả ngày hôm nay. Cũng cần ghi ơn cả chính quyền liên bang vào lúc đó và cả giới chức tôn giáo, Tổng giám mục Philip Harman; hay bà Gabrielle Kirk McDonald, vị quan tòa liên bang đầu tiên của người da đen quyết định thuận lợi cho người Việt Nam và ra lệnh cấm chỉ hoạt động của KKK tại vùng vịnh. Chính nhờ sự giúp đỡ này mà người Việt chống trả được với khủng bố KKK. Có thể coi đây là một trang sử “hùng” của thế hệ di dân đầu tiên, trốn chạy cs đến vùng đất tự do nhất thế giới. Kinh nghiệm cuộc chiến chống kỳ thị tại vùng vịnh Galveston, Texas đã được làm thành phim Alamo Bay.

Xin trân trọng cảm ơn LS Nguyễn Xuân Phước về tài liệu này.

Hoàng Lan Chi

*******************

Ls Nguyễn Xuân Phước

Kỳ thị – Kinh nghiệm của Người Việt Tỵ Nạn Cọng Sản

Khi người Việt tỵ nạn Cộng Sản đến Mỹ năm 1975 thì xã hội Mỹ vừa mới được ổn định sau thời kỳ tranh đấu đòi dân quyền của người Mỹ gốc Phi châu, mà ta thường gọi là người da đen. Nhờ công cuộc đấu tranh dân quyền đó ở thập niên 1960s mà người Việt đến Mỹ được đối xử bình đẳng, ít ra trên pháp luật. Người Việt không phải đi toilet riêng dành cho người da màu ở nơi công cộng; đi xe bus không phải ngồi băng ghế sau để nhường ghế trước cho người da trắng; đi ăn nhà hàng không phải đi cửa dành cho người da màu; và đi học cũng được nâng đỡ với những tiêu chuẩn thấp hơn người da trắng v.v…

Thế nhưng sau khi ở Mỹ một thời gian nhiều người vẫn cảm thấy bị kỳ thị. Có người than phiền ông hàng xóm Mỹ trắng hay làm khó dễ, hay gọi cảnh sát than phiền chuyện nầy chuyện nọ gây rắc rối. Hoặc ở hãng hay bị supervisor đì, cho làm việc nặng nhọc, cho nghỉ việc cách vô lý, thiên vị người da trắng v.v…

Có một số vấn đề gây cho người Việt cảm giác bị kỳ thị. Khi người Việt mới đến sống ở nước Mỹ vẫn chưa quen tập tục mới như vẫn mặc bộ đồ ngủ (pajama) đi ngoài đường trong khu xóm, ăn to nói lớn, nhậu nhẹt tưng bừng ồn ào vào buổi tối, làm cho hàng xóm khó chịu. Tuy nhiên khi sống chung đụng lối xóm, có những người hàng xóm lúc nào cũng khó chịu với tất cả mọi người bất kể màu da, làm cho chúng ta có cảm giác bị kỳ thị. Những cảm giác bị kỳ thị vơi dần khi chúng ta làm quen được với lối sống và hòa nhập được vào chính mạch của cộng đồng Hoa Kỳ.

Cảm giác kỳ thị đó khi so sánh với cuộc chiến đấu chống kỳ thị thật sự của người Việt tỵ nạn khi mới đến Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy một số cảm giác bị kỳ thị là do sự mâu thuẫn cá tính giữa người với người nhiều hơn là kỳ thị thật sự vì lý do màu da.

Lịch sử tỵ nạn đã ghi nhận cuộc đấu tranh chống kỳ thị kinh hoàng nhất của người Việt đánh tôm vùng vịnh Galveston, Texas.

Sau năm 1975, một số người tỵ nạn Việt Nam đã tìm đến vịnh Galveston để làm nghề đánh tôm. Tôm lúc bấy giờ là mặt hàng hải sản có giá trị cao. Những người đánh tôm thành công và trở nên giàu có. Nhiều người Việt, nhất là những người có nghề tôm tại Việt Nam trước đây, kéo nhau về vịnh Galveston để làm ăn khiến cho con số tàu đánh tôm gia tăng nhanh chóng. Những người da trắng làm nghề đánh tôm lâu năm cảm thấy nồi cơm của họ bị đám lưu dân lấy mất và mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh.

Vào tháng 8 năm 1979, ông Nguyễn Văn Sáu, 21 tuổi, hớt hải chạy đến bót cảnh sát ở thành phố Port Arthur thú tội: “Tôi vừa mới giết người.” Ông Sáu nói với cảnh sát là ông vừa mới giết Billy Joe Aplin, 35 tuổi. Sáu và Billy Joe đều đánh tôm cua ở Seadrift, một thành phố nhỏ ở vịnh Galveston, Texas có dân số khoảng 1,250 người. Cả hai có những mâu thuẫn gay gắt vì tranh giành vùng đánh tôm, cua.

Billy Joe cao 6ft1, nổi tiếng ưa đánh lộn và gây hấn với người khác, và lúc nào cũng mang súng trong xe. Từ 2 năm trước, người Việt đánh tôm cua ở đây than phiền bị Billy Joe và những người da trắng khác sách nhiễu. Họ bị đe doạ, tấn công, đánh đập, và họ bị trộm bẫy cua thường xuyên. Tàu đánh tôm của họ cũng bị phá hại. Họ biết Billy Joe là đầu sỏ. Họ thưa cảnh sát, nhưng cảnh sát không làm gì để bảo vệ họ.

Trong khi đó, những người da trắng than phiền là vùng đánh tôm cua của họ bị người Việt xâm chiếm. Và người Việt cũng đe dọa Billy Joe và vợ ông ta.

Vào ngày 3 tháng 8 năm 1979, khi Sáu sửa soạn kéo tàu mới mua ra khỏi nước thì Billy Joe xuất hiện. Billy Joe đạp lên tay của Sáu khi Sáu đang để tay ở chỗ móc trailer. Billy Joe nói với Sáu: “Nếu đám người Việt chúng mầy không đi ra khỏi Seadrift thì tao sẽ cắt cổ mầy.” Sáu, đang ở trần, bỏ chạy và bị Billy Joe rượt theo chém hai nhát dao vào ngực. Sáu và người em là Chinh chạy vào nhà người bạn mượn khẩu súng. Sau đó Sáu và Chinh trở lại bến tàu. Billy Joe vẫn còn đó. Vừa thấy Sáu, Billy Joe nhảy bổ đến tấn công và vật Sáu ngã xuống đất. Sáu rút súng trong quần lảy cò. Một viên đạn bắn trúng vào ngực Billy Joe, Billy Joe chới với kêu lên “No, man”, rồi rơi xuống nước, và một viên khác bắn trúng vào người khi Billy Joe ở dưới nước. Billy Joe chết liền tại chỗ.

Sau khi Billy Joe bị giết, mâu thuẫn giữa người Việt và người da trắng gia tăng. Trong khoảng thời gian ngắn sau đó, 4 tàu đánh tôm của người Việt bị đốt cháy. Một căn nhà của người Việt bị đánh bom.

Daniel Aplin, em trai của Billy Joe, tuyên bố “Seadrift đang biến thành nồi thuốc súng.”

Thành phố Seadrift phải ban hành lệnh giới nghiêm từ 9:00 giờ tối. Vì cảnh sát không giải quyết những khiếu nại của người Việt nên người Việt cho rằng khi mâu thuẫn với người da trắng bộc phát, người Việt sẽ bị tàn sát. Hàng trăm người Việt sinh sống tại Seadrift bỏ chạy qua Houston hay Louisiana. Thiếu nhân viên làm việc, hãng đóng cua hộp ở Seadrift phải đóng cửa.

Tuần sau đó, 3 người Mỹ trắng bị bắt ở một motel thuộc thành phố Seadrift vì mang thuốc nổ dùng để đánh bom nhà người Việt. Người mật báo cho cảnh sát để bắt khủng bố là B.T. Aplin, em của Billy Joe. Sự thể em trai Billy Joe làm việc với cảnh sát để bảo vệ người Việt làm cho tình hình lắng dịu và người Việt dần dần trở lại Seadrift.

Tuy nhiên người Việt vẫn tiếp tục bị kỳ thị. Các bến tàu ở Seadrift không cho người Việt đậu bến. Các nhà buôn sỉ không mua tôm của người Việt. Những nhà buôn sỉ mà mua tôm của người Việt bị những người da trắng khác tẩy chay.

Chính quyền liên bang và giáo hội Công Giáo phải nhảy vào can thiệp.

Trước đấy, tại Louisiana người Việt đánh tôm cũng bị kỳ thị. Nhờ công đức của Tổng giám mục Philip Harman, hàng ngàn người Việt được yên ổn làm ăn. Đức Tổng giám mục phạt vạ tuyệt thông một người đầu sỏ kỳ thị tại Louisiana không cho người Việt đậu bến. Tinh thần trợ giúp của Đức Tổng giám mục Harman làm cho người da trắng phải chấp nhận người Việt. Và hoà bình đã vãn hồi để người Việt được định cư và làm ăn.

Khi đại diện bộ tư pháp Hoa Kỳ đến Seadrift thì biết là mâu thuẫn giữa người Việt và người da trắng là do thiếu người phiên dịch để tạo sự hiểu biết nhau. Giáo hội Công Giáo liền cung cấp một người thông dịch viên. Tòa giám mục sau đó cử một linh mục và một phụ tá đến Seadrift để hòa giải giữa người Việt và người da trắng. Tình hình tưởng như đã lắng dịu. Nhưng không…

Ngày 2 tháng 11 năm 1979, Nguyễn Văn Sáu được toà án tha bổng về tội giết người vì toà cho rằng hành vi giết người của ông là sự tự vệ chính đáng. Nguyễn Văn Chinh, em ông Sáu, cũng được tha bổng về tội tòng phạm. Cả hai sau đó rời khỏi Seadrift.

Sáu và Chinh đã ra đi. Nhưng kết thúc phiên toà xử Nguyễn Văn Sáu gây nên làn sóng bất mãn nơi người da trắng. Cuối tháng 11 năm 1979, tổ chức kỳ thị nổi tiếng của Mỹ là KKK nhảy vào vòng chiến và bắt đầu một cuộc chiến kỳ thị chủng tộc đầu tiên giữa người Việt tỵ nạn và tổ chức KKK.

Đối Phó với KKK

1.

KKK là viết tắt chữ Ku Klux Klan, là một tổ chức kỳ thị chủng tộc cực hữu bí mật của người Mỹ gốc da trắng được thành lập trong thời Chiến Tranh Nam Bắc (1860-1865). Theo giải thích của tự điển mạng, chữ Ku Klux trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là vòng tròn, và chữ Klan có nghĩa là bộ tộc, ý nghĩa thông thường KKK có nghĩa là một tổ chức huynh đệ của người da trắng.

KKK chủ trương chủng tộc da trắng ưu việt và coi người da màu là thấp hèn. Khi Tổng Thống Lincoln tuyên bố giải phóng nô lệ sau cuộc chiến Nam Bắc, những người chủ trương nô lệ miền Nam Hoa Kỳ đã thành lập tổ chức KKK để bảo vệ dòng máu ưu việt của người da trắng. KKK chủ trương dùng bạo lực để hạn chế sự tiến thân của người da màu trong xã hội. Họ cho rằng Hoa Kỳ là một đất nước được Chúa Trời ban cho người da trắng và họ có nhiệm vụ bảo vệ đất nước nầy trước những làn sóng di cư của người Châu Phi và Châu Á.

Trong thời kỳ đấu tranh dân quyền của mục sư Martin Luther King ở thập niên 1960s, KKK đã tổ chức những lễ đốt thánh giá như là một dấu hiệu của sự tuyên chiến, và đánh bom vào nhà của các lãnh tụ dân quyền da đen. Một số lãnh tụ da đen, kể cả MS King, đã bị ám sát trong thời kỳ nầy. Hầu như những vụ ám sát nầy đều có bàn tay của KKK đứng đàng sau.

Từ năm 1871, KKK đã được chính quyền liên bang liệt danh sách các tổ chức khủng bố. Tuy nhiên họ vẫn tồn tại tại các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ. Sự phát triển của KKK cũng rất thăng trầm. Đầu Thế kỷ thứ 20 KKK có khoảng 6 triệu hội viên. Nhưng đến ngày hôm nay con số hội viên xuống còn khoảng 6000 trên toàn nưóc Mỹ.

Cách tổ chức của KKK là một hội kín như Thiên Địa Hội trong tiểu thuyết Kim Dung. Người đứng đầu là một Hội Chủ (Grand Dragon – Đại Long) và họ có những thuộc hạ tay chân đặc trách từng vùng, từng miền tương tự như những hương chủ hay đàn chủ của Thiên Địa Hội.

2.

Ngày 2 tháng 11 năm 1979, Nguyễn Văn Sáu và Nguyễn Văn Chính được toà tha bổng vì lý do giết người để tự vệ chính đáng. Sau đó cả Sáu và Chính đều dọn ra khỏi Seadrift.

Cuối tháng 11 năm 1979, tổ chức KKK nạp đơn với thành phố xin phép cho 600 người biểu tình chống người Việt tỵ nạn tại thành phố nhỏ bé nầy. Con số 600 hội viên KKK dự định tham gia biểu tình bằng 1/2 dân số của thành phố Seadrift. Hội đồng thành phố họp và ý kiến phản đối KKK được thành phố hoan nghinh. Kết quả là thành phố đã bác đơn xin biểu tình của KKK.

Sau đó, cha của Billy Joe Aplin, người bị Nguyễn Văn Chính bắn chết, tuyên bố là ông ta không mời KKK đến Seadrift. Tuy nhiên ông nói… “Tôi sẽ rất hãnh diện nếu họ vì chúng tôi mà đến để chận đứng làn sóng người Á Châu đến thành phố nầy.”

Những người da màu tại Seadrift, gồm người Việt và người Mễ, nghe sự xuất hiện của KKK bắt đầu cảm thấy tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và bắt đầu di cư ra khỏi Seadrift.

Sau khi bị từ chối cuộc biểu tình tại Seadrift, KKK bắt đầu kế hoạch xâm nhập vùng biển Galveston. Sau 18 tháng KKK đã thiết lập được đường dây hoạt động tại đây. Tháng 2 năm 1981, nhân ngày lễ Valentine, KKK đã tổ chức buổi meeting tại thành phố Santa Fe, là một thành phố toàn người da trắng ở vùng Galveston với hơn 150 hội viên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em mặc đồng phục KKK với áo choàng trắng đội mũ vải có chóp. Thủ lĩnh KKK tại Texas, ông Louis Beam tuyên bố: “Thời điểm đã đến để chúng ta giành lại đất nước nầy cho người da trắng”. Ông nói tiếp: “Nếu chúng ta muốn, chúng ta sẽ giành lại đất nước nầy bằng phương cách các tổ phụ chúng ta đã làm: đó là máu máu và máu”.

Beam tuyên bố là sẽ cho chính phủ Hoa Kỳ 90 ngày để cưỡng chế người Việt không được đánh tôm ở vùng Vịnh Galveston. Nếu không KKK và những người đánh tôm da trắng sẽ tự thi hành việc cưỡng chế nầy. Beam nói tiếp là sẽ cho thành lập lực lượng dân quân được huấn luyện chiến đấu tại trại huấn luyện dân quân của KKK. Sau đó, Beam tự tay đốt một tàu đánh cá điển hình mà ông đặt tên là “USS Vietcong” và nói “đây là cách đốt tàu đánh cá đúng nhất”.

Những tuần lễ tiếp theo KKK bắt đầu rải truyền đơn kêu gọi chống người Việt đánh tôm ở vùng vịnh Galveston và bắt đầu giai đoạn khủng bố. Hiện tượng đốt thánh giá như là dấu hiệu khai chiến của KKK tại nhà người Việt trong khu vực xuất hiện khắp nơi. Hai tàu đánh cá của người Việt bị đốt tại thành phố Seabrook. Ngày 15 tháng 3 lực lượng dân quân KKK diễn hành trên tàu đánh cá với hình nộm người Việt bị treo cổ để cho mọi người được thấy.

“They Cannot Mess With Vietnamese…”

Khẩu hiệu của tiểu bang Texas là “Don’t Mess with Texas” như một lời khuyến cáo khách du lịch đừng lộn xộn với tiểu bang Texas vì hậu quả không lường được. Qua kinh nghiệm của người Việt đấu tranh chống KKK tại vùng Vịnh Galveston thì người Mỹ cũng có câu nói tương tự để nhắn với tổ chức KKK… Đừng lộn xộn với người Việt Nam.

Trong thời gian KKK bắt đầu gây sự và gây chiến thì cộng đồng người Việt cũng không ngồi yên. Khi một người đàn bà làm việc cho nhà hàng Mỹ nghe hội viên KKK bàn kế hoạch đánh bom tàu đánh cá của người Việt thì bà đã báo cho chồng, và chồng báo cho cộng đồng người Việt. Họ bắt đầu tổ chức vũ trang chống lại sự uy hiếp của KKK và cộng đồng đánh tôm người da trắng. Khi KKK bao vây một trailer park của người Việt thì người Việt đã chống trả quyết liệt.

Một thành viên của KKK từng tham chiến ở Việt Nam nói với lãnh đạo KKK rằng “Đừng lộn xộn với người Việt vì họ sẽ bắn và giết quý vị”. Và do đó, KKK bắt đầu rút lui.

Theo một giáo sư tại Texas nghiên cứu tình hình lúc bấy giờ, một người đánh tôm da trắng tham gia vụ đốt tàu của người Việt đã bị người Việt đó đến nhà đòi quyết tử với ông ta. Người đánh tôm da trắng đó cuối cùng phải dọn đi nơi khác vì sợ hãi.

Ông Khang Bùi, một cư dân tại vùng vịnh Galveston, nói với phóng viên báo chí rằng KKK đã không hiểu được người Việt là những người đã sống trong chiến tranh, họ biết dùng súng đạn để đối phó và bắn trả lại KKK. Ông ta nói tiếp… sau khi KKK nhận thức được việc dùng bạo lực để khủng bố tinh thần người Việt là vô ích, họ đã âm thầm ra đi và không còn người da trắng nào lộn xộn với người Việt.

Cuộc Chiến Pháp Lý

Tháng 4 năm 1981 Hội Ngư Phủ Người Việt cùng với Southern Poverty Law Center tại Montgomery Alabama nạp đơn kiện KKK vì cạnh tranh thương mãi không công bằng. Tháng 5 năm 1981 bà Gabrielle Kirk McDonald, vị quan tòa liên bang đầu tiên của người da đen quyết định thuận lợi cho người Việt Nam và ra lệnh cấm chỉ hoạt động của KKK tại vùng vịnh; và đóng cửa trung tâm huấn luyện dân quân và các tổ chức võ trang của họ.

Được đánh tôm với sự bảo vệ của chính quyền liên bang, người Việt dần dần ổn định và thành công. Từ những căn nhà trong khu trailer chật hẹp tối tăm, ngày nay người Việt dọn vào những biệt thự nguy nga đồ sộ. Người Việt làm chủ hầu hết các bến tàu tại Galveston; và tại Port Arthur, Texas ngày nay 95% ngư dân đánh tôm là người Việt.

Kinh nghiệm cuộc chiến chống kỳ thị tại vùng vịnh Galveston, Texas đã được làm thành phim Alamo Bay.

Ls Nguyễn Xuân Phước

 

Posted in Thân Hữu | Comments Off

“Hào Kiệt” Với Con Đường Việt Nam

Một

Thuở bé tôi thích giờ lịch sử. Giờ này cũng vậy. Khi học lịch sử Hoa Kỳ, tôi ứa nước mắt nhiều lần. Tôi tin rằng có một Thượng Đế quyền năng nào đó đã khiến một đất nước “hợp chủng” bỗng có những con người tuyệt vời với những tư tưởng đi trước thế kỷ như thế. Những con người ấy đã đặt nền tảng cho nhân quyền. Life, liberty, persuit of happiness. Đó là ba điều cơ bản của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ vào năm 1776 được viết bởi Thomas Jefferson. Mọi người cũng tri ân khái niệm của một nền “cộng hòa” với “A governmet of the people, for the people, and by the people”. Toàn nhân loại cũng tri ân mười tu chính án đầu tiên của nước Mỹ mà người Mỹ gọi là Bill of Rights (Luật Dân Quyền). Trong mười tu chánh án đầu tiên, các quyền căn bản làm nên một xứ Mỹ dân chủ nhất thế giới: speech, religion, assembly, press, petition the gorverment. (Tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, báo chí, thỉnh nguyện chính phủ).

Tôi xòe bàn tay trái, thử kết nối những điều trên của lịch sử Hoa Kỳ với quê hương của tôi.

Hai

1975 Sài Gòn thất thủ.

1980 làn sóng vượt biển dâng cao.

Cũng 1980, tình quê hương, nghĩa đồng bào đã thúc đẩy họ ngồi với nhau. Họ là ai? Đó là những Nguyễn hữu Xương, Phạm quang Tuấn, Nguyên hữu Giá, Lê phục Thuỷ, Phan lạc Tiếp và Vũ minh Trân. Một Ủy ban báo nguy giúp người vượt biển thành hình. Với năm chiến dịch từ 1985, họ đã cứu hơn 3.000 thuyền nhân.

1990, chi nhánh tại DC, với bà Trương Anh Thụy, nhận trách vụ “tiếp nối tinh thần”. Một tên mới, giấy phép mới ra đời: BPSOS, Ủy ban cứu người vượt biển.

Ngay từ thuở đó, một sinh viên mới vượt biên đến Mỹ khoảng 1980, đã tham gia với chi nhánh DC và từ 1990, là Giám Đốc Điều Hành. CT Hội Đồng Quản Trị là bà Trương Anh Thụy, rồi GS Nguyễn Ngọc Bích.

Người sinh viên thuở 1985 đã tham gia Ủy ban báo nguy cứu người vượt biển rồi 1990 Ủy ban cứu người vượt biển, Nguyễn Đình Thắng. (Xem lịch sử BPSOS ở cuối bài (1) )

Ba

2010, một thời gian quá dài. 35 năm. Những con người của một thuở nào chiến đấu cho quê hương, nay tóc bạc, da mồi, chân yếu, trí không còn mẫn. Tuy thế, với sự đóng góp của họ, cộng đồng đã làm được nhiều thứ.

Cục diện thế giới cũng thay đổi nhiều. Internet làm ranh giới quốc gia mờ dần, những tàn khốc sau bức màn sắt của loài cộng đỏ cũng không dễ dàng bưng bít.

Giải pháp nào cho quê hương tôi? Sau 35 năm? Khi Việt Nam vô cùng nhỏ bé và phải tùy thuộc vào một quốc gia mà hiện giờ rất nhiều người trong chúng tôi đã nhận xứ sở đó làm quê hương?

Bốn

2012, những người của thế hệ một rưỡi, những người đang dấn thân đã đến với nhau. Trong tinh thần “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt thời nào cũng có”, họ ngồi lại với nhau.

Hào kiệt: tâm huyết, đạo đức, có chiều sâu, không đảng phái.

Tôi mỉm cười khi đọc thấy những tiêu chuẩn của một “hào kiệt”. Có cái gì giản dị trong tư tưởng của thế hệ bản lề nhưng cũng có cái kiêu ngạo của những người thụ hưởng nền dân chủ Mỹ. Cái kiêu ngạo đó là không đảng phái. Họ muốn họ không phải là di sản của một đảng phái nào và họ tin tưởng họ sẽ thành công khi họ có tâm huyết, có đạo đức.

Năm 2012: 15 hào kiệt đóng góp 120.000 Mỹ kim để khởi đầu kế hoạch.

Họ đã âm thầm làm việc.

Cá nhân tôi chỉ chứng kiến vào năm 2012, nhóm Hào Kiệt này, gồm toàn những người đang thành đạt, đang có địa vị nào đó trong xã hội Hoa Kỳ, đã ký ngay vào Thỉnh Nguyện Thư do Trúc Hồ và Nguyễn Đình Thắng khởi xướng. Chính nhờ nhóm hào kiệt này, bản TNT chỉ trong vài giờ đồng hồ đã đạt được túc số tối thiểu để xuất hiện trên trang web We The People. Sau đó, ba tổ chức đồng loạt phát động gây nên một làn sóng háo hức cho cộng đồng hải ngoại. Thật đáng tiếc, Trúc Hồ với Đỗ Phủ (đảng Dân chủ) đã phá hỏng sự thành công này. Và sau đó, Trúc Hồ chính thức bắt tay với VT.

Cá nhân tôi chứng kiến năm nay 2015, nhóm Hào Kiệt đã vận động được hơn 700 người từ nhiều quốc gia, nhiều tiểu bang tề tựu về DC. Họ gặp các dân cử của Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 18/6 để đệ đạt nguyện vọng: yêu cầu VC phải nới rộng nhân quyền nếu muốn có TPP. 700 người, trong đó rất nhiều người của thế hệ bản lề, đang thành đạt trong xã hội Hoa Kỳ, đã phối hợp với nhóm Hào Kiệt để có tổng chiến dịch đó.

Nhóm Hào Kiệt này gồm khoảng 50 người, sinh hoạt trong một tổ chức kín đáo vì chưa đúng thời điểm để công khai hoạt động.

120.000 Mỹ Kim do 15 hào kiệt đóng góp ban đầu đã được dùng để có một nhân viên thường trực ở DC, ở Quốc Hội và hướng dẫn hàng trăm người ở khắp nơi biết con đường hợp pháp để đi: vđó là vận động quốc hội để Việt Nam có quyền tự do tôn giáoquyền lao động. Họ nghĩ rằng chỉ con đường đó là có thể rút ngắn được tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

40 năm. Tôi nhìn lên bàn thờ Phật Bà. Dường như Ngài đang nói với tôi “Người trẻ của con đi đúng đấy”.

Kết

1789, Bill of Right của Hoa Kỳ.

2015, Những người trẻ của tôi đang vận dụng Nhân Quyền cho một giải pháp cho con đường Việt Nam.

Nhóm Hào Kiệt đang đóng góp phần của họ vào trang lịch sử cho quê hương mẹ của họ. Họ có quyền tin vì ngày xưa Do Thái cũng lập quốc sau bao năm phiêu bạt.

Chọn con đường đi chung hay vỗ tay: là quyền của mỗi người.

Trong một khoảnh khắc của một đoạn đời nào đó, dường như mình tự cho phép mình được quyền chơi xổ số với một quyết định quan trọng ngoài lý luận, dữ kiện thường tình.

Tôi đang xổ số. Không biết tôi trúng hay thua. Nhưng dù thua thì cũng hãy hiểu, canh bạc đó không phải tôi đánh cho tôi mà cho tình yêu của tôi dành cho Việt Nam, lòng tin của tôi dành cho thế hệ “bản lề”.

Tôi khép bàn tay trái. Bàn tay phải đưa lên. Dấu hiệu tôi “vỗ tay” cho Nhóm Hào Kiệt dù tôi không hòa nhập vào nhóm.

Hoàng Lan Chi

7/2015

*******************

Phụ Lục

Lịch Sử BPSOS

(1) Trích: Hoàng Lan Chi phỏng vấn ngắn ô Phan Lạc Tiếp và bà Trương Anh Thụy:

2-Trương Anh Thụy (VA)

Thân gửi chị Hoàng Lan Chi,

Tôi sẽ cố gắng vắn tắt trả lời câu hỏi của chị. Tuy nhiên dù vắn tắt đến đâu tôi cũng thấy cần phải nhắc đến, dù chỉ sơ qua, liên hệ giữa Boat People SOS/Virginia (UB Cứu Người Vượt Biển/Virginia) với Boat People S.O.S. Committee/San Diego (UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển/San Diego):

Ủ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển/San Diego thành lập năm 1980. Đến năm 1987, công việc vớt người trên biển không còn thực hiện được nữa, trong khi đó nhu cầu định cư đồng bào đến các đệ tam quốc gia và nhất là vào Mỹ thì vẫn còn nhiều vô kể nên Ủy Ban San Diego đã cấp thời chuyển hướng hoạt động sang tập trung vào việc vận động hành lang ở Quốc Hội Hoa Kỳ và ở Bộ Ngoại Giao. Để thực hiện được việc này, UB San Diego đã rất thực tế nghĩ đến việc thành lập một chi nhánh ở Washington, DC. Được nhà văn Nhật Tiến giới thiệu, Giáo sư Nguyễn Hữu Xương đã tìm đến gặp tôi tại tư gia để đề nghị ý nguyện này.

Không mấy khó cho tôi quyết định nhận lời Tiến Sĩ Xương ngay hôm đó, là vì trước đó không khí Hoa Thịnh Đốn cũng đã sôi sục biểu tình liên miên, lên tiếng phản đối những khổ nạn xẩy ra cho đồng bào thuyền nhân tại các trại tạm cư, tôi thấy nhu cầu có thêm một Ủy Ban tranh đấu cho thuyền nhân ở đây lúc này là rất cần thiết. Hai nữa hội thiện nguyện Vietnam Refugee Fund, Inc. của một số anh chị em chúng tôi ở vùng Hoa Thịnh Đốn cũng vừa mới hoàn thành công việc đi quyên góp hàng tấn đồ dùng thiết thân như quần áo, nồi niêu, bàn ghế cũ… phân phát cho gần 5600 đồng bào thuyền nhân mới đến định cư ở trong vùng, cho nên cũng đang rảnh tay. Thứ ba, quan trọng không kém là tôi đã từng biết tiếng UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển ở San Diego và rất cảm kích trước việc làm của hai người đứng đầu UB này: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương, người du học Pháp từ thuở nhỏ, rồi sang Mỹ ông vừa dạy tại đại học Caltech rồi UCSD (University of California at San Diego) vừa làm việc nghiên cứu. Công trình nghiên cứu của ông đã cống hiến cho khoa học một công trình được đặt tên là “Xương Machine” để phân tích máu nhanh gấp bội những máy móc có trước đó. Người thứ hai là nhà văn Phan Lạc Tiếp, một cựu sĩ quan Hải quân VNCH là thuyền nhân vừa chân ướt chân ráo đến định cư tại San Diego nhưng không thể ngồi yên trước tiếng kêu cứu của nhà văn Nhật Tiến và cặp vợ chồng nhà báo Dương Phục-Vũ Thanh Thủy trước thảm họa hải tặc trong các trại tạm cư Thái Lan, ông bèn cùng với tiến sĩ Xương lập ra Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, San Diego.

Nhận lời Giáo sư Nguyễn Hữu Xương rồi tôi mời một số các anh chị em từ lâu năm từng hoạt động xã hội với tôi, đến họp bàn để thành lập UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển-Chi Nhánh Hoa Thịnh Đốn. Trong buổi họp đó ai cũng nhận thấy cần phải có sự tiếp tay của thanh niên, sinh viên trong vùng. Một trong những người chúng tôi quyết định mời là anh Nguyễn Đình Thắng.

Sau nhiều buổi họp, cuối cùng chúng tôi cũng bầu ra được một ban chấp hành gồm có tôi là chủ tịch, anh Nguyễn Ngọc Bích là phó chủ tịch, anh Nguyễn Đình Thắng là tổng thư ký. Văn Phòng Chi Nhánh Virginia này bắt đầu hoạt động tháng 11 năm 1987, được đặt tại một góc khiêm tốn trên căn gác của gia đình tôi. Chúng tôi làm việc dưới cái dù của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (UB San Diego), nhận một khoản tiền chu cấp khiêm tốn hàng tháng, còn các máy móc như computer, máy in, máy fax… thì đều dùng tạm “của nhà.” Chiều chiều khi tan học về, một số khá đông sinh viên, thay phiên nhau ghé nhà tôi làm việc cho Ủy Ban đến khuya rồi mới về nhà họ.

Đến năm 1990, UB San Diego quyết định đóng cửa vì những lý do mà nhà văn Phan Lạc Tiếp đã giải thích, ngoài ra theo tôi, các ông không muốn có hai văn phòng gây tốn kém, trong khi đó Chi Nhánh Virginia đã và đang làm việc rất hữu hiệu. Được tin báo, chúng tôi ở Chi Nhánh Virginia bàn nhau quyết định tiếp tục vì chủ yếu là vẫn còn các vấn đề cấp bách như vận động hành lang để cứu những thành phần đang bị đe dọa cưỡng bách hồi hương (nhiều người bị đánh đập, có người tự thiêu, tự tử trong các trại). Ngày 22 tháng 9, năm 1990, tôi bay qua San Jose để tham dự Đại Hội Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời 6, ở đó tôi chứng kiến sự ngưng hoạt của UB San Diego và nhận trách vụ “tiếp nối tinh thần” công việc của Ủy Ban tại Washington DC.

Về Washington, chúng tôi lập tức thành lập UB mới lấy tên Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển/Boat People SOS, Inc., xin giấy phép hoạt động và sau đó xin được quy chế bất vụ lợi (non profit organization status) rồi được cả miễn trừ thuế (tax-exempt status). Chúng tôi bắt đầu thuê văn phòng riêng, một căn phòng chật hẹp trong một bin đinh cũ kỹ, chúng tôi hoạt động bằng món tiền cuối cùng của UB San Diego giao cho, cũng được một thời gian trước khi có thể tự lập!

Ủy Ban Virginia chia ra thành Ban Quản Trị và Ban Điều Hành. Tôi làm chủ tịch Ban Quản Trị cho đến năm 1993. Sau tôi thì đến anh Nguyễn Ngọc Bích. Sau anh Bích là luật sư Tuyết Dương, sau Tuyết Dương có những ai nữa thì tôi không biết. Trong suốt thời gian kể trên anh Nguyễn Đình Thắng vẫn là giám đốc Ban Điều Hành.

 

Trương Anh Thụy

15/7/2015

 

***********

1- Phan Lạc Tiếp (San Diego)

Thưa chị Hoàng Lan Chi,

Phúc đáp những câu hỏi của chi, tôi xin vắn tắt như sau :

1-BPSOS/SD được chính thức thành lâp ngàỳ 27/1/1980 tại tư gia GS Nguyên hữu Xương, ở San Diego, gồm 7 người có tên sau đây :Nguyễn hữu Xương, Phạm quang Tuấn, Nguyên hữu Giá, Lê phục Thuỷ, Phan lạc Tiếp và Vũ minh Trân. Sau này vì sự bành trướng của Uỷ Ban, có thêm nhiểu người khác tham gia và một sô trong 7 người người trên cũng không còn liên tục hoạt động.

Mục đính lúc đầu là đem tham nạn Thuyển Nhân ( qua các lá thư kêu cứu của nhà văn Nhật Tiến, Vũ thanh Thuỷ, Dương Phục ) phổ biến rộng rãi trên diễn đàn quôc tê, gửi tới nhưng cơ quan, nhân vật có uy tín thế giới để làm sao chấm dứt tê nạn hải tặc.

2-Việc thuê mươn, điều hành các con tàu đi vớt BP do các tổ chức nhân đạo như Medecins du monde, Cap Anamur…lo. Họ có sẵn ngân khoản, nhưng không nhiều. Những hoạt đông của họ, cộng đồng người Viêt chưa biêt, không đóng góp. Khi BPSOS?SD của chúng ta hơp tác mới có sư đóng góp của ngươi Viêt khăp nơi như ở Mỹ, Úc, Canada….

3- Trong 5 chiến dịch Vơt Người Biển Đông, bắt đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1985, có sự đóng góp tiền bạc, điều hành, săn sóc y tế… của Uỷ Ban chúng ta, có 3103 thuyền nhân đã được vớt từ biển Đông và đưa đi điịh cư tại các quôc gia đê tam đã câp chiêu khán hay đoàn tụ với thân nhân tại Mỹ, Canada, Úc.Vì không đủ chiêu khán,các con tàu đi vơt thuyền nhân cũng giúp đỡ, hướng dẫn nhiều ghe tỵ nạn, có tới hàng ngàn người đến đuợc các trại tỵ nạn toàn.Uỷ Ban cũng can thiêp để hàng ngàn đồng bào ở quá lâu trong các trại tỵ nạn đươc đi đinh cư.

4- Anh Nguyễn đình Thắng là môt trong rât đông sinh viên tiếp tay với Bà Trương anh Thụỵ, chủ tịch chi nhánh của Uỷ Ban tại vùng Hoa thịh Đốn. Anh Thắng không phải là thành viên của BPSOS/San Diego. Anh Thắng sinh hoạt dươi sự đièu hành của Bà Thuỵ, nên chúng tôi không rõ nhiêm vụ của anh Thắng ra sao.

5-BPSOS/SD ngưng hoạt đông vào cuối năm 1990 và trao trách vụ và tiền bạc cho chi nhánh của Uỷ Ban do bà Thuỵ điều hành, đăt văn phòng tại vùng Hoa thịnh Đôn. Những sinh hoạt sau này khởi đi từ Bà Trương anh Thuỵ và những ngươi kê tục, BPSOS/SD chúng tôi không có trách nhiêm và ý kiên.

Như chúng tôi đã trình bày, BPSOS/SD xét thấy không nên sinh hoạt nữa, vì dư luân thế giới đã mỏi mệt, và hâu như tât cả Thuyên Nhân, ai cũng chỉ muôn đi định cư ở Mỹ mà không muốn đi định cư tại những quôc gia đã câp chiêu khán cho họ. Vì thê không quốc gia nào muôn cấp chiêu khán cho Thuyền Nhân nữa, nên việc đem tàu đi vớt Thuyền Nhân không thực hiện đươc. Đó là nguyên nhân chính khiên BPSOS/SD phải ngưng hoạt động, Trên đây chỉ là nhưng câu trả lơi vắn tắt. Chúng tôi đang hoàn tất cuôn sách mang tên Vớt Người Biên Đông.

Thân quý,

Phan Lạc Tiếp

7/7/15

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

“Xuân Vũ: Đường Đi Không Đến” by Phan Quang Trọng

LGT: hôm nay chủ nhật đẹp. Tôi có món quà đẹp: Ts Phan Quang Trọng, Chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng San Antonio, gửi qua mail cho tôi, bài viết về cố nhà văn Xuân Vũ. Lần đầu tiên tôi đọc "Trọng viết". Sau khi đọc xong, tôi mừng bát ngát. Văn giản dị, trong sáng. Đó là điều kiện tối cần hiện nay cho người cầm bút với một sứ mạng rõ ràng cho quê hương dân tộc. Đến bây giờ thì tôi không lạ khi thấy một người thế hệ một rưỡi, đang thành đạt ở xã hội HK như Ts Phan Quang Trọng, ( Ts Trọng đang là manager cho một công ty trực thuộc Bộ Quốc Phòng). Đây là video nói về công việc của Trọng cho Không Quân Hoa Kỳ: http://afciviliancareers.com/careers/career-fields/scientist-and-engineer

lại vẫn dành thời gian khá nhiều cho cộng đồng, có can đảm gánh vác chuyện cộng đồng (vốn nhiều phức tạp). Xuất phát từ lòng yêu văn thơ rồi bị ảnh hưởng văn chương là chuyện bình thường. Trong đã say mê Đường Đi Không Đến từ thuở xưa thì một Phan Quang Trọng ngày này đang dấn thân cộng đồng không phải là lạ.

Về Xuân Vũ, quả là một nhà văn hồi chánh tuyệt vời với tác phẩm "Đường đi không đến". Đó là một trong những người tôi không hề quen biết nhưng cảm thấy buồn vô cùng kể khi ông ra đi sớm như thế. Những nhà văn "hồi chánh thật sự" là một vốn quý cho kho tàng văn học VN. Họ là chứng nhân lịch sử nhất là nhân chứng cho xã hội cộng sản thì càng quý vô ngần. Đọc đến cuối, tôi chảy nước mắt với những câu thơ của Xuân Vũ.

Và lòng tôi chợt nhói đau khi nhớ đến một nhà báo hồi chánh khác. Tôi đã hy vọng đó là hồi chánh thật sự để giúp cộng đồng nhưng có lẽ không phải rồi…

Hoàng Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Tôi là phụ nữ…

Tôi là phụ nữ nhưng không có tính đố kị, ghen tị. Ngược lại, phụ nữ đẹp mà tài giỏi thì tôi càng ngưỡng mộ. Nói có sách, mách có chứng: tôi rất ngưỡng mộ nhan sắc, tài ba của hai vị: Dương Nguyệt Ánh và Dương Như Nguyện. Trong web Hoàng Lan Chi, có đến mấy bài nói về hai người này.

Tôi là phụ nữ nhưng không tẹp nhẹp, nhỏ mọn. Tôi bỏ qua vài cái lặt vặt, chấp nhận “nhân vô thập toàn” và chấp nhận “ làm chính trị đôi khi phải hơi …ác”. Nói có sách: đó là trường hợp tôi áp dụng cho Ts Nguyễn Đình Thắng. Tôi từng viết, có hai người của BPSOS mà tôi ghét vì lý do cá nhân là Nguyễn Đình Thắng và Trần Trang Khanh, nhưng tôi “mắt nhắm, mắt mở”, nhìn vào cái lớn, để quyết định hỗ trợ họ, bảo vệ họ khi họ bị chụp mũ, vu oan.

Tôi là phụ nữ nhưng không thù dai lắm (cười) . Nói có sách: tôi chỉ trích Đỗ Hồng Anh khi ông này binh vực vợ chồng Dương Văn Hiệp-Lưu Lệ Ngọc (vụ án hai vị giám đốc này của Đài Việt Nam Hải Ngọai giao du với Đệ tam tham tá của Tòa Đại Sứ VC, bị tố cáo bởi ký giả Hồng Phúc), chậm trễ trong vụ VTV4 phát hình ở DC, lại còn dùng nick Trần Văn Dư để vu cáo tôi bậy bạ, nhưng khi Đỗ Hồng Anh tổ chức biểu tình tốt ở VA: tôi khen ngợi ông ta. Tương tự, tôi chỉ trích ông Đoàn Hữu Định khi ông làm sai (lúc ông giữ Liên Hội Cựu CS) nhưng khen ngợi khi ông dẹp được vụ Đàm Vĩnh Hưng ở DC.

Tôi là phụ nữ nhưng tính giống …Lục Vân Tiên. Sáng nay tôi mail la lối “lão gà” của tôi. Lão “gà” là Lão Gà Tre, chủ báo Thế Giới Mới-TX. Tôi la lối là “lão là đàn ông mà lười biếng không chịu quét nhà. Khi công nương quét lại cản là sao?”. Vấn đề là vầy: trong khi tào lao, lão nói lão đọc trên net là ai đó nói HLC can thiệp vụ Dương Nguyệt Ánh rồi bây giờ lại vụ Nguyễn Đình Thắng. Thôi lo văn học đi. Tôi ong óng miệng la lão “Lão nói thế mà nghe được hử? Tui là giữa đường thấy việc bất bằng không tha. Tui can thiệp nhiều vụ rồi, lão quên hử? Vùng Dallas của lão có tay Hưng và vài lính kiêu binh quậy, có tui và chị họ tui từ xa lên tiếng. Còn vụ Montreal, họ làm bậy, ngày 30/4 là 30/4, đâu phải là ngày thảo luận về S-219 mà họ gạt hai "cô bé" của tui. Tui phải can thiệp cho họ chừa. Còn Nguyễn Đình Thắng, khi không tay Hữu Nguyên cứ đi theo truy sát Thắng, tui phải can thiệp chớ. Tay này cũng từng là bạn tui. Tui đã cảnh cáo hắn là muốn đánh Thắng phải có chứng cớ. Ai dè hắn hứa với tui nhưng có trời mới hiểu hắn nghĩ gì nên hắn cứ thế vu cáo Thắng. Thử hỏi Thắng làm gì có hại cho cộng đồng hay Thắng làm tốt? Từ việc xin fund cũng trày vi tróc vẩy mới có để hoạt động, toàn là phục vụ cộng đồng đến việc không xin fund mà hô hào mọi người đóng góp để giúp cựu quân nhân hụt HO đợt đầu, được giúp ở HO đợt sau. Thử hỏi không có tổ chức BPSOS, ngư dân không giỏi Anh ngữ bị bão Katrina sẽ phải gõ cửa cơ quan Mỹ, xí xa xí xô tiếng Anh. Nếu không có tổ chức BPSOS, thì phụ nữ không giỏi tiếng Anh, khi bị bức hiếp, kêu cứu làm sao, nhờ ai giúp đỡ. Rồi các công nhân Việt trong chương trình An Toàn Nghề Nghiệp nữa, cũng nhờ BPSOS nhiều vì đa số công nhân có nói giỏi tiếng Mỹ đâu. Chưa kể chương trình khai thuế, giúp thi quốc tịch…Còn việc Thắng chơi với nhóm thế hệ 1,5 và Thắng làm gì kệ xác Thắng. Khi không la làng lên cứ làm như Thắng ba đầu sáu tay, bây giờ Thắng mà hạ san cùng năm mươi tay "hào kiệt" của Thắng thì cộng đồng sẽ thế này thế nọ. Lố bịch không thể tưởng. Tui nghi ngờ ai đó hay VT ra lịnh Hữu Nguyên tấn công Thắng quá.”. Khi “bà chằng” la lối thì …các ông thường im! (cười). ( tôi biết tỏng là mấy “chả” nhường tôi vì …thương tôi chớ không phải sợ tôi đâu!)

Tôi là phụ nữ mà ưa chuyện …không phải bếp núc. Tôi ăn theo kiểu không giống ai nghĩa là luộc rau rồi xay tất tần tật ra kèm ít trái cây và uống. Tôi chỉ nhai cái gì tôi thích thôi. Cuối tuần thì ăn bậy đồ mua ngoài tiệm chớ nấu nướng thì là nữ hoàng làm biếng. Đi shopping thì đến thẳng nơi muốn mua, chớ có la cà. Tôi thích tào lao chuyện thời sự với đàn ông hơn là tán dóc với phụ nữ.

Tôi là phụ nữ mà tính nóng hơn Trương Phi. Người nào ăn chậm, nói chậm, làm chậm là tôi hét lên rồi. Hôm vừa rồi có việc gọi ATT. Phải đi qua thông dịch nhưng tôi bảo cô thông dịch “Nó nói, chị hiểu gần hết, chỉ có nói là chị không lẹ thôi. Em tóm tắt ý chính đi!”. Tên kỹ thuật cù cưa không chịu check đường dây coi good không, tôi nổi nóng “ Ủa. Trước khi cho người xuống sửa, tui muốn check coi net đến nhà tôi good không mà không chịu làm là sao? Đưa ID number đây!”. Tên kỹ thuật nói là cậu ta sẽ kêu manager của cậu ta. Tôi nói với cô thông dịch “Chị không cần manager. Nói nó đưa ID đây.” Cái cô thông dịch này cũng hơi ngớ ngẩn, cô ta bảo “Nó đâu có quyền cho chị?”. Thế là “bà tổng” cự ngay “Ai nói với em đó? Tôi không hỏi tên nó. Mỗi nhân viên có một ID number. Tôi phải complain với boss cao của nó chớ không phải manager của nó nữa”. Vậy mà khi nường manager tiếp chuyện, “bà tổng” cũng đòi cho được ID number. Nói vậy chớ sau đó hạ hỏa, tôi cũng tha, không viết thư complain với big boss của nó nữa. Đấy, xem tôi như vậy thì làm sao tôi về VN sống với vc được?! Khi mà tụi vc nó coi dân như chó?! ( cười). Lão Phạm Bá Vinh sáng nay gọi điện thọai nói là người bạn mà tôi cũng biết vì có viết bài cho Sóng Thần, về CA chơi và lão muốn giới thiệu để đi chơi cho đỡ buồn. Tôi trả lời “Ai nói với ông là tôi buồn? Sau nữa, người nào ái mộ văn mợ thì mợ gặp một lần cho biết chứ mợ không có nhiệm vụ làm tài xế cho ai hết ông hiểu chưa? Mà ông cũng đừng bầy đặt làm mai nhé. Mợ Lan Chi là bà chằng, mợ không nể ai cả, mợ không sợ ai cả nên không có tên đàn ông nào trị được mợ hết”. Lão Phạm Bá Vinh cười ha hả!

Tóm lại tôi là phụ nữ mà có nhiều cái của phụ nữ tôi không có! Nói đúng hơn thì ngày xưa thuở nữ sinh Gia Long hay sinh viên Khoa Học, cũng có đấy, nhưng nhờ ơn …chồng con, nhờ ơn vc, những cái "đáng yêu" của phụ nữ đã biến mất không còn dấu vết (hic)!

Chỉ có một cái của phụ nữ mà tôi còn là …cô ký điệu. (cười).

Xem này thuở mười tám nhá, lúc mới vào đại học Khoa Học, tóc kiểu như Giao Linh, một bên cúp vào, một bên quớt ra đó:

Năm xưa "em" đi chùa Hương (1994)

Còn thuở hai con này: Con gái Quỳnh Chi đầm hồng, sinh nhật năm bé 11 tuổi ( 1995), mẹ bé 46 tuổi rồi nha

Với nhà đại họa….sĩ Vũ Hối ở Sài Gòn Road tại Virginia 2004:

Rồi, với "anh hùng" Trần ngọc Huế (Anh hùng và kẻ bội phản, một cuốn sách của Mỹ viết về anh Huế) và vợ chồng cô Dương Nguyệt Ánh năm 2007:

Khi đã về CA 2012

Hoàng Lan Chi

7/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Gánh Nặng Cộng Đồng

Tuần qua, tôi ghé trụ sở BPSOS vì tôi nhờ cô Trang Khanh đem dùm albums từ VA về CA. Trước đó, Khanh cho biết thùng album rất nặng. Thật tình, tôi không nhớ nó nhiều và nặng đến thế. Kể từ khi ôm albums từ Việt Nam qua, tôi có ngó ngàng gì đâu. Cuộc sống cứ là “lu xà bu”. Tôi nói Khanh nhờ volunteer của BPSOS, lột hình ra khỏi albums cho đỡ nặng.

Khi giao thùng albums, Trang Khanh nói “BPSOS làm gì có người rảnh lột hình dùm cô. Thôi con đóng tiền đem về cho cô cho rồi. Vả lại, hình của cô chia ra từng loại. Người lột đâu phải chỉ lột không, còn phải xem rồi cho ý kiến nữa chớ!”. Tôi bật cười.

Năm 2006, khi Ts Nguyễn Đình Thắng mời tôi làm việc, Trang Khanh là Giám Đốc CT Phát Triển Cộng Đồng. Ngày đó có khoảng bốn chương trình lớn với bốn vị giám đốc. Hiện giờ, BPSOS “reorganize” và Trang Khanh là giám đốc , chỉ sau Ts Nguyễn Đình Thắng.

BPSOS có hai người mà tôi “vừa ghét vừa thương” là Ts Nguyễn Đình ThắngTrang Khanh. “Ghét” vì lý do cá nhân, “Thương” vì đó là hai mẫu người cho tinh thần “thiện nguyện”. Hai người nầy làm việc bất kể giờ giấc. Hai người nầy giỏi cả Anh lẫn Việt. Hai người nầy ngày xưa, viết bài tiếng Việt rất “chuẩn” theo kiểu Mỹ. Mở dấu ngoặc, tôi đoán là Trang Khanh được Nguyễn Đình Thắng đào tạo về khoa “viết”. Lúc làm chủ bút Mạch Sống của BPSOS, hai người nầy ít bị tôi sửa bài nhất. Nói rõ là bài của nhân viên BPSOS, tôi “edit” chi chít còn bài của hai người nầy, tôi “edit” rất ít. Hai người nầy đều giỏi về khoa ăn nói trước đám đông, trước ống kính truyền hình vì họ nắm rất vững lãnh vực họ đang phụ trách. Chỉ có một khác biệt nhỏ giữa hai người nầy: Nguyễn Đình Thắng nói năng chậm rãi, khoan thai còn Trang Khanh thì …giống “đàn ông”! Ngày đó, Trang Khanh chọc tôi “Con thấy cô với anh Thắng điệu như nhau. Nói gì chậm rì!”. Trời đất ơi, tôi thầm nghĩ “Phát thanh cho cao niên thì phải nói vừa phải cho người ta hiểu. Ai như chị, cứ như trong trại quân đội!”.

Chương trình HO đợt 2- do Nguyễn Đình Thắng tự nguyện làm để giúp các cựu quân nhân. ( sao hồi đó không thấy ông cựu quân nhân nào "mắng" Thắng chuyện này nhỉ?!!)

https://www.youtube.com/watch?v=QQYxPHI54Sk

Hai cô cháu rủ nhau ăn bánh cuốn Tây Hồ. Vừa ăn vừa lai rai chuyện BPSOS. Lại quanh quẩn những chuyện Nguyễn Đình Thắng bị vu cáo, chụp mũ. Khanh hỏi “Con không liên lạc với cộng đồng nhiều. Con thắc mắc tại sao cộng đồng có nhiều cô chú lớn tuổi mà thích nói là nói, nói không bằng cớ gì hết, kỳ vậy cô?”.

Thiệt cái tình. “Bà cố nội cô cũng không hiểu đừng nói gì đến cô!” . Tôi cười cười “Chắc họ hơi bị chập mạch. Chụp mũ Thắng tổ chức Ngày Quân Lực tỉnh bơ. Điên quá là điên. Ai thèm chú tâm ngày đó của các cụ. VC cũng chỉ hầm hừ cái tên Ngày Quốc Hận thôi vì nhiều người biết ngày đó, đã có trong cả lịch sử Mỹ, ngày đó các cụ treo cờ rũ còn chúng vui mừng. Chớ ngày 19/6, các cụ cứ múa theo ý mình, ai thèm chú ý. Thắng muốn tổ chức Ngày Vinh Danh và Tri Ân vào ngày đó để hy vọng có đông người dự, ai dè tổ chức cộng đồng Đoàn Hữu Định có vẻ mê Vịt Tê hơn. Bọn Vịt này chắc muốn kéo Nguyễn Đình Thắng về với mình không được nên ra sức phá. Năm 2014, cũng tháng vận động nhân quyền, chúng chơi cái trò cho Trúc Hồ kéo lên DC, ra vườn bông gần Quốc Hội hát hò. Chúng muốn chia số người sẽ về DC. Hồi đó, cô đã mỉa mai, chả hiểu cái màn hát hò của Trúc Hồ có tác động gì đối với VC và Mẽo? Ruồi bu. Năm nay, chúng cũng phá bằng cách cũng cho bầu đoàn thê tử Trúc Hồ kéo lên DC hát hò vào 30/4 nhưng vì kinh nghiệm năm ngoái, vì cách xa, nên chúng đã không phá nổi Nguyễn Đình Thắng. Ngày 18/6, mấy trăm người từ khắp nơi về DC, vào gặp dân cử của họ, trình bày về nhân quyền. Cô nghĩ đây là thắng lợi lớn của Thắng. Phái đoàn Michigan đi rất đông, trông rất đẹp. Đa số là người thế hệ “bản lề”, có địa vị trong xã hội Mỹ, thông thạo Anh-Việt và họ hướng dẫn người già.”

Mấy hôm trước tôi nhờ người tìm lại hộ một bài viết cũ từ 2007 của Nguyễn Đình Thắng. Chính vào năm đó, tôi hết sức xúc động khi đọc bài này. Tôi copy một đoạn trong đó và đưa vào “Thư gửi con gái”. Trong đó, tôi bày tỏ rằng tôi mong ước, sau này con gái tôi cũng dành những năm cuối đời cho lãnh vực “thiện nguyện”.

Ông Peter F. Drucker đã có một nhân cách đáng quý khi ông dành hai mươi năm cuối đời để cống hiến cho những việc thiện. Tôi nghĩ trên đời có nhiều người sống đẹp như vậy. Đây là đoạn trong bài viết “Từ thành công đến ý nghĩa” của Nguyễn Đình Thắng viết năm 2007:

http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=988

Trích: Lùi trở lại năm 2001. Thời điểm quyết định thứ hai: tôi gặp Ông Peter F. Drucker. Tôi được chọn tham gia chương trình huấn luyện kéo dài một năm với Viện Lãnh Đạo Nói Với Lãnh Đạo (Leader to Leader Institute) mà Ông sáng lập ra. Ông là vị thầy của môn quản trị kinh doanh tân thời nhưng lại dành 20 năm cuối đời để phát triển khu vực phi lợi nhuận. Ông tâm tình về quyết định này: tiến từ thành công đến điều có ý nghĩa. Tạo tài sản trong khu vực kinh doanh là sự thành công. Tham chính để ảnh hưởng chính sách là sự thành công. Tuy nhiên điều thực sự có ý nghĩa là tạo nên những thay đổi xã hội tích cực từ “rễ cỏ”; đó là xây dựng nền dân chủ từ dưới lên và trực tiếp tác động đến cuộc đời của đồng loại. Theo gương Ông Drucker, năm 2001 tôi rời bỏ công việc kỹ sư và từ đó dầm mình vào công việc phục vụ cộng đồng. ( ngưng trích)

Trời tháng Bẩy của CA không nóng không lạnh, thật dễ chịu. Internet đang luân lưu bức thư của Việt Nam Quốc Dân Đảng bày tỏ rằng họ không đối thoại với vc. Lý do, họ được tin vc muốn nói chuyện với vài người của cộng đồng thông qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên. Thật tình mà nói, năm 2007 tôi viết bài “Những người trẻ muốn vào hang cọp”, trong đó tôi mỉa mai thế hệ một rưỡi là đòi vào hang cọp bắt cọp con nhưng chưa bắt được cọp con thì đã bị cọp nhỡ chiêu hồi. Đó là 2007.

Còn bây giờ, với tiến bộ khoa học, với facebook, với smartphone có thể làm nhiều việc tức khắc như quay phim tại chỗ khi gặp một sự việc, upload ngay lên facebook, với việc Nguyễn Phú Trọng qua “chầu” Hoa Kỳ, với việc con cọp Trung Cộng đang bị Mỹ đánh vào kinh tế, thì cá nhân lại có suy nghĩ hơi khác. Nếu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm trung gian, tôi sẽ hỏi “ Vc muốn nói gì? Nếu điều ‘chúng mày’ muốn nói hạp ý ‘bà’ thì ‘bà’ chấp nhận, còn không hạp thì miễn!” Hạp ý “bà” là chúng mày phải thả các tù nhân lương tâm, phải nới rộng “human right” và cả “worker right”. Cái nới rộng đó của “chúng mày”, phải được bảo đảm sẽ thi hành đến nơi đến chốn chớ không được nói cho qua phà. Sau đó, lợi dụng cái “nới rộng” đó của vc lập tức người hải ngoại phải xây dựng đóm lửa ngay ở nhiều mặt trận, để vào thời điểm thuận tiện, các đốm lửa sẽ gom lại và bùng lên. Nói rõ là cổ võ cho người tranh đấu nổi lên nhiều hơn ở torng nước. Cá nhân tôi cho rằng chỉ có thế mới rút ngắn được tiến trình dân chủ cho quê hương. Lý do, chúng ta không có quân đội, không có gì cả để về giải phóng VN bằng quân sự. Với tư thế người Mỹ gốc Việt, chúng ta chỉ dùng những quyền đang có để “vận động”. Nhìn quốc gia Mỹ, dù ghét hay thương, dù mối hận năm 1975 còn đó, thì chúng ta vẫn phải công nhận đó là “đế quốc Mỹ, quốc gia number one đứng đầu thế giới”. Họ là quốc gia vạch chiến lược cho toàn thế giới và cả khối tư bản phải tuân theo. Và đương nhiên, họ vì quyền lợi của Mỹ mà có chiến thuật riêng cho từng giai đoạn. Vận dụng, lợi dụng, áp dụng thế nào để cái lợi cho quốc gia VN nhỏ bé phù hợp với cái lợi của con cọp Mỹ: là một việc làm khó. Tuy chúng ta không tin được cộng sản nhưng đành nuôi hy vọng với thời buổi net, với những kỹ thuật khoa học tối tân, thì sẽ kềm chế được phần nào cái lưu manh của bọn quỷ đỏ. Ngày xưa, người lính cộng hòa phải chiến đấu trong một trận chiến không được quyền thắng. Ngày nay, chúng ta chiến đấu trong một trận chiến không lính, không quốc gia, chỉ còn tiếng nói của người dân Mỹ gốc Việt.

Cộng đồng hải ngoại hiện nay, tương tự xã hội thời chúng ta còn quốc gia, bao giờ cũng nhiều phức tạp. Thời kỳ “thanh bình” nhất có lẽ chỉ được vài năm từ 1955 đến 1960. Sau đó là bất ổn triền miên mà phức tạp nhất là thời kỳ của nền đệ nhị cộng hòa với Nguyễn Khánh chỉnh lý, rồi đám sinh viên “nhâng nhâng” lộng hành ở đô thị, đám thầy tu của cả hai tôn giáo cũng “nhắng nhít” lôi kéo con chiên, đám nhà báo cũng “nhố nhăng” tố chính quyền, đám dân biểu thiên tả cũng “nhảm nhí” khuynh đảo hành pháp…Chính quyền lúc đó vừa đối phó với vc vừa đối phó với đủ thứ “giặc” trên trong nước.

Những kẻ lợi dụng hai chữ “tranh đấu” để phá hoại: thời nào cũng có. Những kẻ lợi dụng ba chữ “chống bất công” để phá hoại: thời nào cũng có.

Gánh nặng cộng đồng bao giờ cũng nặng nhưng tôi tin rằng thế hệ bản lề sẽ không trùm chăn vì “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại chụp (chụp mũ) e vu ( vu cáo)”. Tôi cũng tin rằng thế hệ Một sẽ sáng suốt trong nhận định, thông minh trong suy nghĩ, thận trọng trong quyết định, để chọn đúng người mà hỗ trợ, chọn đúng đối tượng để chỉ trích hầu không hối hận sau này vì đã vô tình phá hoại việc chung.

Hoàng Lan Chi

7/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Bâng Khuâng Đầu Tháng Bẩy

Hôm nay hơi không bận nên lang thang net. Gặp một số điều và thấy bâng khuâng.

Bâng khuâng đầu tiên là dành cho hình ảnh cặp vợ chồng Phương Thảo-Ngọc Lễ.

Năm 2005 thì phải, PT định cư Hoa Kỳ do tìm được người cha Mỹ. Một gia đình hạnh phúc với hai cô gái nhỏ, với sáng tác cho gia đình thật dễ thương, “ Bốn Ngọn Nến”. Họ cũng đã xuất hiện trên sân khấu Asia. Tôi không nhớ một hay hai lần. Thế rồi tắt ngúm. Tôi hỏi người bạn. Anh ta bảo không vừa ý TH điều gì đó. Tôi thở dài. Hải ngoại ít sân khấu nên chủ trung tâm dễ bắt nạt, bắt chẹt ca sĩ. Tội nghiệp. Lẽ ra hải ngoại được xem nhiều bản nhạc gia đình, có ích cho thiếu nhi hơn do PT-NL trình diễn nếu như họ chịu lép TH.

Đã ghét TH một, tôi lại càng ghét hơn. Kể từ đó!

Đừng ai nói rằng quyền chọn ca sĩ là của họ… Đúng, họ là chủ trung tâm và quyền chọn ca sĩ là của họ. Nhưng đằng sau hậu trường, với ca sĩ ngoan ngoãn, dễ bảo (người nào có óc tưởng tượng phong phú thì cứ tha hồ tưởng tượng thế nào là ngoan ngoãn dễ bảo nhé) thì cho hát, với ca sĩ không đồng ý việc làm sai trái của mình thì “dìm”.

Cá nhân tôi không cho rằng gia đình Phương Thảo-Ngọc Lễ, khi mới chân ướt chân ráo qua Hoa Kỳ lại dám đòi hỏi nhiều điều vô lý.

Năm nay 2015, gia đình PT-NL kéo nhau về VN. Nhìn hình ảnh này, Ngọc Lễ không già lắm, hai cô gái nhỏ đã lớn, và Phương Thảo thì “xuống” sắc. “Xuống” là không trẻ đẹp so với tuổi như những phụ nữ khác. Có lẽ người phụ nữ ấy không được hát như ý mình mong muốn và bươn chải sống ở một môi trường không mấy thuận lợi.

Bâng khuâng thứ hai dành cho Bảo Yến-Quốc Dũng.

Họ là vợ chồng đẹp đôi nhưng cuộc sống ấy cũng đã “lỏng lẻo” từ lâu. Thuở sinh viên, tôi dành nhiều cảm tình cho Quốc Dũng-Thanh Mai. Một phần vì sự trẻ trung của họ, một phần vì nét đẹp “búp bê” của Thanh Mai. Tôi cũng thích giọng hát Bảo Yến ở một khoảng thời gian nào đó.

Có lẽ đời sống tình cảm của đa số giới văn nghệ sĩ thường hay “trắc trở”. Đó là nói “lịch sự”. Nói không lịch sự là “bê bối”. (cười). Họ, cứ “nhâng nhâng” nói những điều hoa mỹ về “nửa kia” và trên thực tế thì ngược lại. Chỉ khi về già hay bị cái gì đó, mới thấy họ ở bên “nửa kia”.

Quốc Dũng bị tai nạn xe hơi. Hiện giờ nghỉ ngơi, không làm việc gì vì dường như đã bị chấn thương não.

Và hình ảnh mới nhất: Quốc Dũng “tháp tùng” Bảo Yến khi BY đi hát:

Phương Dung hỏi thăm Quốc Dũng

Bâng khuâng thứ ba là dành cho trường cũ. Nhạc sĩ Nguyễn Đức, người thầy nhạc của trường Gia Long vừa mất. Ông là Trưởng Ban Việt Nhi. Ông đã đào tạo một ca sĩ từ Gia Long: Hoàng Oanh.

Gia Long cũng có một ca sĩ nổi tiếng khác, từ lò Hoàng Thi Thơ: Họa Mi.

Có bao giờ bạn thấy hai nữ ca sĩ này xuất hiện trong các Đại Hội Gia Long thế giới để hát đóng góp cho trường xưa chưa? Câu hỏi ấy dành cho Ban Tổ Chức, cho chính hai người ca sĩ trong cuộc.

Khép lại những bâng khuâng để nghe một người Gia Long không là ca sỹ nổi tiếng nhưng hát “Duyên Tình” rất hay: Vân Phương.

Tôi nhận xét giọng hát ấy không khàn gợi dục mà chỉ phảng phất chút khàn để không chói tai người nghe. Giọng hát ấy có chút nũng nịu của cô gái con nhà lành. Giọng hát ấy luyến láy rất mềm. Giọng hát ấy ngân rung rất “kỹ thuật”. Không là một giọng trong trẻo hay ngọt ngào thường thấy ở các giọng hát “dân ca” mà là một giọng hát thuộc loại “sang” nhưng luyến láy rất “pro”.

Nghe Gia Long Vân Phương với “Duyên tình” và Hoàng Lan Chi khép những bâng khuâng trong ngày tại đây.

Vân Phương thứ hai từ trái, hàng cuối. (Họp mặt nhóm nhỏ Gia Long tháng 10/2014) ( Hoàng Lan Chi thứ nhất hàng đầu. )

Gia Long Vân Phương hát Duyên Tình

Hoàng Lan Chi

7/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phỏng vấn Richard Botkin, tác giả “Ride The Thunder”

Hoàng Lan Chi thực hiện

Bản dịch: Khôi An-Hoàng Tích Hương

Phỏng vấn Richard Botkin, tác giả “Ride The Thunder”

 

LGT: Cuốn phim Ride The Thunder vừa được trình chiếu tại Orange County vào tháng 3/2015.Thu hút cả ngàn người trong những buổi chiếu đầu tiên vì đây là một phim nói về cuộc chiến Việt Nam, thực hiện bởi một chiến binh TQLC Hoa Kỳ, mục đích vinh danh quân đội VNCH, bác bỏ các luận điệu của giới truyền thông Hoa Kỳ 1970 là người lính VNCH không chiến đấu anh dũng, giới lãnh đạo chỉ tham nhũng.

Tác giả cuốn sách cùng tên, xuất bản năm 2006, dày 800 trang, cựu Thiếu Tá TQLC Richard Botkin đã có vài buổi gặp gỡ với cộng đồng người Việt trên các màn ảnh nhỏ vào tháng 3/2015. Hôm nay, Hoàng Lan Chi xin được gửi buổi trò chuyện của ông với HLC. Tóm lược bộ phim là nói về tình bạn giữa hai người: cố vấn John Ripley và Trung Tá Lê Bá Bình. Bối cảnh là trận chiến Đông Hà. Nơi đây, cả hai đã quyết định phá cầu Đông Hà để bảo vệ Huế. Sự phá cầu này không dễ vì cầu rất kiên cố, không nhờ được Không Quân yểm trợ vì thời tiết, và dưới làn mưa đạn của cộng sản. Cảnh tù đày sau 1975 cũng được diễn tả.

Richard Botkin chưa từng tham dự cuộc chiến VN nhưng để viết cuốn sách “Ride The Thunder”, ông đã mất gần mười năm nghiên cứu, cùng cựu TT Lê Bá Bình đi về VN bốn (4) lần để tận mắt nhìn Đông Hà, Quảng Trị..

Cuốn sách đã được một nhóm người Việt dịch sang tiếng Việt. Richard Botkin cùng đạo diễn Fred Koster và vài thân hữu đã thực hiện bộ phim chỉ với một kinh phí tự góp hết sức nhỏ bé: một triệu Mỹ Kim. Phim được quay ở Hawaii. Tài tử Josept Hiếu rất xuất sắc trong vai TT Lê Bá Bình. Tài tử Mỹ, Eric St. John, cũng xuất sắc trong vai Ripley.

Trong thời gian gấp gáp này, chúng tôi xin gửi bản phỏng vấn ô Richard Botkin chỉ về cuốn phim. Trong tương lai, sẽ có một buổi thứ hai đi sâu vào cuốn sách. Song song là một buổi phỏng vấn với Cựu TT Lê Bá Bình, ông đang cư ngụ ở San Jose.

Để yểm trợ cho người làm phim, có thể tiếp tục thực hiện đề tài tương tự, lấy lại danh dự và vinh quang cho quân lực VNCH, xin quý vị hãy vào trang web sau đây để “vote” cho phim được trình chiếu rộng rãi: http://www.ridethethundermovie.com/contact/. Đồng thời xin quý vị cùng nhau đi xem phim, rủ cả gia đình, bạn hữu cùng đi.

Hoàng Lan Chi

Xem youtube TS Phan Quang Trọng phỏng vấn ô Richard Botkin nhân dịp phim chiếu ở San Antonio tháng 5/2015: https://www.youtube.com/watch?v=xVVCm-tAGQ8&feature=youtu.be

Lan Chi: Xin chào ông Richard Botkin. Phải nói là đa số người Việt tị nạn cộng sản đều dành cảm tình cho cuốn sách và cả cuốn phim “Ride The Thunder”. Không phải chỉ vì phim vinh danh quân lực VNCH, xé toang màn u ám bao phủ cuộc chiến bởi giới truyền thông Hoa Kỳ thập niên 70, mà còn vì có rất nhiều “người trẻ” tham gia. Những người này chưa hề biết cuộc chiến VN, thậm chí chưa hề sống ở VN nhưng họ tham gia và nồng nhiệt trong sứ mạng viết lại lịch sử. Tính từ buổi công chiếu đầu tiên, tháng 3/2015 đến nay, phim đã được chiếu tại những tiểu bang nào và kết quả ra sao?

Richard: Bộ phim của chúng tôi đã trình chiếu ở Westminster, San Jose, Houston, Phoenix/Tempe, Las Vegas, Oceanside and San Antonio. Thứ sáu tới đây ngày 19, sẽ được chiếu tại Prescott, AZ. Prescott là nơi mà chúng tôi đã quay rất nhiều cảnh trong bộ phim này. Đây sẽ là một thử thách cho chúng tôi vì nơi đây cộng đồng VN không đông. Lần ra mắt phim đầu tiên là ở Westminster CA. Chúng tôi chỉ chiếu một tuần lễ ở một rạp chiếu phim. Chúng tôi đã thành công rực rỡ cho lần chiếu này. Trong tuần lễ mở màn, số vé bán cho từng xuất chiều đạt chỉ số cao nhất trong toàn nước. Chúng tôi đã ngừng chiếu sau tuần lễ đầu tiên vì chúng tôi muốn giữ con số này. Chúng tôi cũng điều chỉnh lại một số đoạn phim mà chúng tôi nghĩ là quan trọng. Có một điều chúng tôi sửa đổi lại là bỏ thêm phụ đề tiếng Việt để những người Việt không nói được tiếng Anh có thể hiểu. Chúng tôi cũng biết rằng một số người Vietnam giúp chúng tôi dịch lại bộ phim này là những người thích Cộng sản nên có những đoạn dịch hoàn toàn khác nghĩa với điều chúng tôi muốn nói. Nhưng sau đó chúng tôi may mắn gặp được những người bạn Việt Nam tốt bụng đã giúp sửa đổi lại những phần này. Chúng tôi hy vọng việc sửa đổi này sẽ được hoàn tất trong tuần tới. Sau khi xong, chúng tôi dự định sẽ trình chiếu lại tại những thành phố đông người Việt cư ngụ.

Về việc chiếu bộ phim này ở những thành phố khác trên nước Mỹ, chúng tôi đã thành công ở Houston và Phoenix, tàm tạm ở San Jose và Las Vegas, còn ở Oceanside và San Antonio thì không được khá. Chúng tôi rút kinh nghiệm rằng chúng tôi cần phải chọn địa điểm trình chiếu một cách tốt hơn. Trong tương lai, chúng tôi biết mình sẽ phải chiếu ở những nơi gần cộng đồng người Việt. Và chúng tôi cũng cần có nhiều hỗ trợ để việc quảng cáo bộ phim được hữu hiệu hơn.

Lan Chi: Ông kỳ vọng những gì ở bộ phim này? Lợi nhuận nếu có ông sẽ tiếp tục đầu tư để thực hiện một bộ thứ hai về Việt Nam? Chủ đề nào sẽ được chọn? Cuộc chiến đấu anh dũng qua từng trận đánh hay đời người lính sau khi miền Nam bị bỏ rơi?

Richard: Trước đây, tôi chưa từng sản xuất phim nên tôi không mong đợi gì cả, mặc dù khi làm phim này tôi có ý định là ít nhất phải huề vốn. Kế hoạch riêng của tôi: nếu phim thành công thì sẽ chia sẻ ít nhất 50% lợi nhuận với những cơ quan từ thiện mà tôi thấy là quan trọng. Cơ quan đầu tiên là Semper Fi Fund để giúp đỡ những chiến sĩ bị thương từ Iraq và Afghanistan. Cơ quan thứ hai là is Agape International Ministries. Cơ quan này giải thoát những bé gái khỏi những cuộc buôn bán nô lệ tình dục ở Cambodia. Từ 1988, mỗi năm đến tháng 11, tôi đều đi với một nhóm nhỏ gồm các bác sĩ, nha sĩ đến làm việc ở Cambodia 2 tuần. Ở đó, chúng tôi làm việc với Agape. Bên cạnh các cơ quan kể trên, có một điều tuy tôi chưa biết tường tận, nhưng tôi biết rằng có nhiều cựu chiến binh Việt Nam ở Mỹ không được hưởng các phúc lợi như các cựu chiến binh Mỹ. Nếu chúng tôi may mắn có được phương tiện, tôi muốn giúp đỡ nhóm người bị thiệt thòi này. Về những dự định trong tương lai thì tôi sẽ trả lời cặn kẽ trong các câu tới, nhưng câu trả lời ngắn gọn là “Có”, có rất nhiều điều cần phải làm trong nỗ lực nói lên sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Lan Chi: Chi phí thực hiện rất khiêm nhường và do sự đóng góp của nhóm bạn hữu. Nếu được cấp ngân khoản gấp 50 lần, ông sẽ ưu tiên thực hiện phân đoạn nào cho phim? Ý tôi muốn nói, cảnh nào là ưu tiên để gửi thông điệp đến khán giả, một thông điệp mà tôi cho là quan trọng vì dính líu đến bộ mặt của Hoa Kỳ đối với các quốc gia đồng minh?

Richard: Câu hỏi rất hay. Nếu chúng tôi không bị giới hạn về tiền bạc thì chúng tôi sẽ có nhiều người tù hơn ở trong các cảnh về trại tù “cải tạo”. Chúng tôi cũng có thêm nhiều cảnh tại chiến trường, kể cả cảnh cầu Đông Hà bị nổ tung.

Lan Chi: Mục đích của ông là trả sự thật cho lịch sử. Theo ông, giới thuyền thông Mỹ “thiếu tử tế” thập niên 70 sẽ có phản ứng gì về phim này? Ông sẽ làm gì với những phản ứng đó?

Richard: Những người đứng về phía Tả, tức là những người theo phe VC hoặc là ghét người Mỹ sẽ không thích bộ phim này. Chúng tôi đã thấy rõ điều này qua một số ý kiến. Có rất nhiều người Mỹ ở độ tuổi phục vụ quân đội trong chiến tranh VN đã tin rằng HCM là một người tốt và việt cộng sản tấn công Miền Nam VN chỉ là cuộc nội chiến, họ cũng tin rằng MNVN tham nhũng và bỏ cuộc, và cộng sản thật ra không phải là điều xấu. Vì tin vào điều như vậy, họ đã không tham dự cuộc chiến và bản thân họ không hề cảm thấy tội lỗi khi đã đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi quốc gia. Sự thật mà chúng tôi bày tỏ trong cuốn phim làm cho họ cảm thấy khó chịu, xấu hổ và mất danh dự.

Lan Chi:Tôi đã được nghe ông nói rằng mục đích của ông khi viết sách, cũng như khi chung tay sản xuất phim với bạn hữu là vì ông muốn nói lên sự thật. Xin hỏi, động cơ chính cho việc nói lên sự thật là gì và ông đã lên tiếng bao lần cho những vấn đề hay con người nào, nhân danh nói sự thật?

Richard: Tôi tin rằng Thượng Đế đã hướng dẫn tôi trong việc viết cuốn sách và thực hiện bộ phim này. Tôi bắt đầu viết cuốn sách này vào năm 2003. Tôi mất 5 năm để viết vào thời gian rảnh rỗi của mình. Trước khi cuốn sách được hiệu đính, nó dài 800 trang. Bây giờ, nó chỉ còn 600 trang thôi. Tôi về VN 4 lần, đi vòng quanh địa điểm trận chiến và những đường phố của Saigon để có thể có cái nhìn rõ hơn về đất nước này. Có một chuyến tôi đi chung với nhân vật chính là Lê Bá Bình. Ông ấy đã đưa tôi đến nơi ông ấy sinh trưởng và lớn lên, và những nơi ông ấy đã từng chiến đấu chống cộng sản. Tôi cũng đã gặp gỡ và phỏng vấn rất nhiều chiến binh Mỹ cùng vợ con của họ để viết về họ trong cuốn sách của tôi. Tôi đã học được rất nhiều điều so với trước khi tôi viết cuốn sách này. Điều quan trọng nhất mà tôi hiểu được là cuộc chiến VN không cần phải chấm dứt theo cái kiểu đó. Tôi được biết rằng người Miền Nam VN đã cố gắng hết sức để giữ lại VN khỏi tay cộng sản cho đến năm 1973, họ đã bị chính phủ Mỹ bỏ rơi và cắt viện trợ cho VN vào 1973, 1974, và 1975. Điều này gần như bảo đảm rằng cuộc chiến sẽ bị thất bại. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, phong trào cộng sản ở Liên Xô và Tàu đang tiến triển rất mạnh. Thêm vào đó, chương trình có tên Flbirgh-Aiken Amendment vào mùa hè năm 1973 đã không cho phép Tổng Thống Nixon giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu đi theo hiệp định Paris. Những người MNVN yêu chuộng từ đó là nạn nhân của American Watergate. Sau khi cuốn sách xuất bản, tôi nhận ra rằng rất ít người thích đọc những cuốn sách “nghiêm chỉnh”. Phần lớn người Mỹ thích nói về thể thao hoặc là những chương trình TV, nhưng họ rất ít nói về lịch sử; hay là những điều đó không biết có phải là vấn đề ưu tư của họ hay không nữa. Tôi đã gặp cộng sự làm phim của tôi là Fred Koster và chúng tôi đã chia sẻ với nhau cùng một quan điểm rằng phim ảnh sẽ có sức ảnh hưởng đến quần chúng. Điều đáng buồn là những phim về chiến tranh VN thường rất tàn nhẫn. Những phim như “Apocalypse Now,” “Deer Hunter,” “Platoon,” “Full Metal Jacket,” “Rambo,” luôn tạo ra những hình ảnh người lính Mỹ cũng như lính VN rất tồi tệ. Nếu chúng ta không làm gì cả thì những hình ảnh sai lạc này về cộng sản và những người chống lại Mỹ sẽ trở thành “lịch sử” cho thế hệ sau.

Lan Chi: Cá nhân tôi cho rằng có một sự huyền nhiệm nào đó đã xui khiến một cựu chiến binh TQLC Hoa Kỳ đã bỏ 12 năm trời để tìm hiểu về cuộc chiến VN, đặc biệt trận chiến Đông Hà mùa hè 1972, phối hợp giữa TT Lê Bá Bình và cố vấn John Ripley. Theo ông, chỉ đơn giản là muốn trả sự thật hay còn một lý do thầm kín nào đó? Cho lần đòi sự thật này, ông đoán mình sẽ thành công bao nhiêu %?

Richard: Tôi không phải là cựu chiến binh của cuộc chiến Việt Nam. Thời tôi ở trong Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ là thập niên 80. Nhưng những người chỉ huy của tôi là cựu chiến binh Việt Nam và tôi hết sức cảm phục họ. Tôi cũng yêu nước mình sâu đậm. Từ khi tham gia vào công trình (làm phim) năm 2003, tôi đã thêm kính trọng những người người Mỹ đã phục vụ (trong quân đội) nhưng không có được sự biết ơn xứng đáng. Quan trọng hơn cả sự quý trọng mà tôi có được đối với nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam là việc tôi được học hỏi – và vẫn còn đang học sau 12 năm – về cái giá vô cùng to lớn mà người Việt phải trả cho sự tự do. Tôi thật sự ngẩn ngơ trước những điều mà người Việt tại hải ngoại đã làm được. Tôi cũng biết rằng mọi lời lẽ khó mà nói hết sự tàn độc của cộng sản. Lời lẽ cũng không thể nói hết những lợi lộc mà nước Mỹ đã nhận được từ những người Việt lưu vong. Bên cạnh sự chăm sóc cho gia đình riêng, tôi tin rằng Trời đã trao cho tôi nghĩa vụ tranh đấu cho sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam cho tới cuối đời. Tổng thống Nixon nói “Cuộc chiến Việt Nam là một sự kiện bị hiểu lầm nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Thời đó, cuộc chiến đã bị tường trình sai. Bây giờ, cuộc chiến lại bị sai khi nhớ lại.” Chúng ta không thể làm gì được về sự tường trình sai lạc. Điều đó thuộc về quá khứ. Nhưng chúng ta có thể thay đổi cách người ta nhớ về cuộc chiến. Đó là nhiệm vụ của phim “Ride the Thuder”. Chúng tôi muốn thay đổi ký ức của thế giới về chiến tranh Việt Nam. Chúng tôi muốn đem sự thật ra ánh sáng, và đền đáp ít nhiều cho những người Việt và người Mỹ đã hy sinh rất nhiều cho một mục đích rất xứng đáng.

Lan Chi :-Khi viết về chương tù vc, ông đã phỏng vấn được bao nhiêu người? Vì sao những cảnh tượng dã man cuả vc đã được hạ xuống khá nhiều khi đưa vào phim? Phải chăng, trên tâm lý người Mỹ, ông và đạo diễn không dám cung cấp những cảnh quá bạo lực?

Richard: Đây là một câu hỏi rất hay. Tôi phỏng vấn nhiều người bị tù sau cuộc chiến, nhưng tôi phỏng vấn ông Lê Bá Bình nhiều nhất vì đây là câu chuyện của ông ấy. Kinh nghiệm của ông ta cũng là điều xảy ra với nhiều người khác, nhưng không phải tất cả mọi người. Thí dụ, tôi biết rõ rằng nhiều bà vợ đã bị cai tù hãm hiếp khi đi thăm chồng, và nhiều người tù đã chịu khổ rất nhiều hơn so với những gì chúng tôi chiếu trong phim. Cùng lúc đó, chúng tôi không muốn thay đổi câu chuyện của ông Bình vì tôi biết rằng nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ chú ý đến chúng tôi và tôi cần phải đi sát với những gì ông Bình và vợ ông ta đã chia sẻ. Trong mọi cuộc phỏng vấn, bà ta chưa bao giờ có ý nói rằng bà ta bị cai tù xâm phạm.

Tương tự thế, con số mà chúng tôi dùng về những người chết trong tù, bị xử tử hoặc những thuyền nhân bị chết được giữ ở mức khá thấp. Chúng tôi làm vậy để những người cộng sản không thể vu cáo rằng chúng tôi thổi phồng các con số. Như tôi đã nói, tôi tin rằng ai có thể nói quá về sự tàn ác của cộng sản, hoặc nói quá về những điều mà người gốc Việt phải chịu đựng, cho tới nay, rất nhiều người vẫn đang bị trầm cảm. Càng ngày tôi càng biết nhiều hơn về những điều đó.

Lan Chi:Với Jane Fonda và John Kerry, ông đã trả lời rằng bàn tay những người đó đã dính máu. Nếu tôi nói rằng họ chỉ là a dua theo, bề mặt nổi, còn tảng băng chìm, chính giới tài phiệt Do Thái mới là bàn tay dính máu, thì ông nghĩ sao?

Richard: Tôi không biết tài phiệt Do Thái nào. Tôi vẫn tin rằng Jane Fonda, John Kerry, và cả triệu người phản chiến cùng với hàng tá Thượng Nghị Sĩ và Hạ Nghị Sĩ Hoa Kỳ trong những thập niên 1960, 1970 đều có trách nhiệm trong việc khuyến khích kẻ thù. Hành động của họ làm cho họ có trách nhiệm với những cái chết và những khổ sở của hàng triệu người Việt yêu tự do, và những chiến sĩ Hoa Kỳ đã phục vụ với danh dự.

Lan Chi: Với tôi, ông đã tròn nhiệm vụ: nhiệm vụ người trai với những năm trong TQLC, nhiệm vụ gia đình với cương vị từng vice president của một công ty, nhiệm vụ với nhân loại khi viết sách rồi thực hiện phim Ride The Thunder. Theo ông, nhận xét của tôi sai hay đúng hay chưa đủ? Ngoài ra, nếu mỗi người Việt đều đến nói với ông như tôi đã viết cho ông trong bức mail đầu tiên khi quen biết “Our duty is to be with you and your work” thì ông nghĩ gì?

Richard: Cám ơn bạn đã nói rằng tôi hoàn thành nhiệm vụ. Thật ra, tôi và Fred Koster tin rằng chúng tôi chỉ mới bắt đầu. Chúng tôi còn rất nhiều việc để làm. Lịch sử của chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và một cuốn phim vỏn vẹn 105 phút không đủ để chính xác hóa mọi điều. Một trong những người bạn Việt Nam gợi ý rằng chúng tôi có thể dựng một bộ phim Ti Vi dài 40 tuần dựa trên 40 chương của quyển sách “Ride the Thunder”, giống như bộ phim “Band of Brothers”. Như vậy chúng tôi có thể nói rõ hơn về nhiều chi tiết của cuộc chiến và cung cấp kiến thức cho nhiều người hơn. Để làm việc đó, chúng tôi cần nhiều tài nguyên hơn là những gì tôi có thể cung cấp. Chỉ với cuốn phim này, tôi đã thật sự dùng hết tiền dành dụm cả đời cùng với sự tài trợ của vài người bạn.

Người Mỹ gốc Việt có thể giúp chúng tôi bằng cách nào? Làm ơn kêu gọi mọi người di dân gốc Việt đều đến xem phim và mời theo những người bạn Mỹ cùng với những người bạn từ các sắc dân khác. Nếu chúng tôi có thể làm được những công trình khác, đó chỉ vì những công dân yêu mến đất nước này đến bên chúng tôi và cùng cộng tác.

Lan Chi: Trước khi tạm biệt, xin một câu hỏi cá nhân, gia đình, nhất là bà nhà và các con ông đã đóng vai trò gì trong việc đi tìm sự thật để trả lại vinh quang và danh dự cho những người lính Mỹ và Việt xưa trong cuộc chiến chống cộng sản?

Richard: Tôi đặc biệt may mắn có được một người vợ đã giúp đỡ tôi trong mọi nỗ lực với cuốn sách và cuốn phim. Chúng tôi đã lấy nhau được gần 33 năm. Chưa bao giờ bà ấy than phiền về thời gian và tài chánh tôi đã dùng để làm những công trình như thế này. Các con tôi cũng đồng lòng giúp đỡ tôi như vậy. Tôi nghĩ chúng cũng hiểu rằng đây là một cuộc tranh đấu cho tâm hồn của đất nước. Nước Mỹ đã làm một việc đúng đắn khi đương đầu với Cộng Sản tại Việt Nam. Sự liên hiệp của người Việt và người Mỹ, dù không đem lại kết quả như ý muốn, đã cung cấp thời gian cho các nước Á châu còn lại được lớn mạnh ngoài sự thống trị của Cộng Sản. Nếu không có nỗ lực tại Việt Nam, cục diện châu Á ngày nay sẽ rất khác. Và tôi luôn nghĩ rằng điều quan trọng cần phải nói rõ là Hoa Kỳ đã may mắn có được 2 triệu công dân mới từ Việt Nam, những người yêu hòa bình và quý trọng giá trị cuộc sống của một công dân Hoa Kỳ hơn hầu hết các người khác. Người Việt di dân đã đem đến Hoa Kỳ những lợi lộc không đo lường được.

Những lời cuối, tôi cũng xin được nói rằng, công trình làm phim đã được giúp đỡ rất nhiều từ những người bạn vô cùng quan trọng trong cả hai cộng đồng Việt, Mỹ. Nếu không có sự giúp đỡ liên tục và quên mình của họ, chúng tôi đã không thể đạt được điều mà chúng tôi hướng đến. Những người bạn đó đã không làm vì tiền bạc, họ giúp chúng tôi vì họ có cùng nguyện vọng ‘làm đúng lịch sử’, vì tình yêu mến sâu đậm dành cho nước Mỹ, cho những cựu chiến binh Mỹ, và tất cả các thành viên của quân lực VNCH đã hy sinh quá nhiều và quá lâu cho sự tự do của họ. Chúng tôi – Fred Koster và cá nhân tôi – không thể nào đi một bước xa như vậy nếu không có sự yêu mến và nâng đỡ của họ. Chúng tôi gọi họ là “Gia đình Ride the Thunder“. Có tất cả 30-40 người trong gia đình này. Tôi có thể viết một câu chuyện dài về mỗi người. Nếu không có họ, điều chúng tôi làm được sẽ rất nhỏ nhoi.

Hoàng Lan Chi thực hiện tháng 6/2015

Bản Anh Ngữ

Interview Richard Botkin about “Ride The Thunder”

Introduction: the movies Ride The Thunder has just played in theater at Orange county in 03/2015. Hundreds of people attended during these first shows. This is the film about the Vietnam War, created by the US Veteran with the purpose to honor the Vietnamese soldier. He is also the author of the same book of 800 pages long published in 2006. The Veteran of the US Marine, Lieutenant Commander Richard Botkin had met with Vietnamese community through video chats. Today, Hoàng Lan Chi has the honor to send you a short talk between Mr. Botkin and Lan Chi. The movie is about a friendship between the U.S Counselor John Ripley and Vietnamese Major Le Ba Binh. The background is Dong Ha battle. In this battle, both agree to destroy Dong Ha bridge to protect Hue City. This was a tough mission since the bridge was built very firmly and they could not get the help from Air Force due to the rainy season plus they were under serious communists’ attack. The captivity of soldier under communist regime after 1975 was also shown.

Richard Botkin was not attended the Vietnam War but in order to complete his book, he spent 10 years to research and made 4 trips to Vietnam with Major Le Ba Binh to see the Dong Ha, Quang Tri City.

The book is translated into Vietnam by a group of Vietnamese people. Richard Botkin together with Director Fred Koster and some friends complete Ride The Thunder movie with the minimum budget of one million dollars. The film was done in Hawaii. The actor Joseph Hieu and Eric St. John are excellent in the role of Major Le Ba Binh and Counselor John Ripley.

For the time being, I can only introduce you to the interview with Mr. Botkin about the film only. I hope that in the near future, we will focus more about the book. At the same time, I will interview Major Le Ba Binh, who is currently living in San Jose, CA.

In order to support those who are willing to create similar movies which reveal the truth and honor VNCH soldier, please go the following website and vote for this movie to be shown in all theaters. http://www.ridethethundermovie.com/contact/

Hoàng Lan Chi

www.hoanglanchi.com

Lan Chi: Hello Mr Botkin, I have to admit that most of Vietnamese refugee are deeply impressed by both the movies and the book ” Ride The Thunder”, specially there are many young Vietnamese who willingly involved this film, even some of these young ones who were not born in VN, had no idea or knowledge about the true historical Vietnam War but they enthused to participate in recovering the historical events. The South VN and American solders were smear by the unfair mainstream media. Mr Botkin, how successful the movie so far since it was shown in March?

Richard: Our film has shown in Westminster, San Jose, Houston, Phoenix/Tempe, Las Vegas, Oceanside and San Antonio. This coming Friday the 19th we will premiere in Prescott, Arizona. Prescott is where we filmed many of the domestic US scenes. It will be a true test of the film where there will be very little Vietnamese support.

Our initial premier was in Westminster California. We showed the film for one week only in one theater with two screens. We had an incredibly successful showing there. During the opening weekend, the film had the highest revenue per screen of any film in the entire country. We pulled the film after the first week as we wanted our initial numbers to look very strong.

We also pulled the film to make some changes to it that we thought were important. One thing we are working on is producing a version that has Vietnamese language subtitles so that the older people who do not understand much English, will understand what we are trying to say. We have also learned that the people who initially translated our film into Vietnamese must have been pro-communist as the translations came back, in some cases saying the exact opposite of what we meant. We are fortunate to have trusted Vietnamese friends to ensure we get the correct translation. We hope to have that done in the next week or so. When we have that ready, we intend to go back into the main markets where the Viet Kieu live.

In regards to the other markets where we showed the film, we did well in Houston and Phoenix, so-so in San Jose and Las Vegas, and poorly in Oceanside and San Antonio. We have learned the hard way that we need to have better control over the locations of the theaters we show the film in. Going forward we need to make sure the film is in or near Vietnamese neighborhoods. And we also need greater resources to market the film more effectively.

Lan Chi:What do you expect from this movie? If there is any profit, would it be used to invest in making another film about VN? And if so, what topic would be- the brave fight or the soldier life after being abandoned?

Richard: I have never made a movie before so I had no expectations, although I did this with the intention that we would at least break even. My personal plans, if the film is a success is to share at least 50% of the profits with a few charities which are important to me. The first is the Semper Fi Fund which support wounded warriors from Iraq and Afghanistan. My second charity is Agape International Ministries. They rescue young girls from the sex slave trade in Cambodia. Every year since 1998 I take a small team of dentists and physicians and we go to Cambodia for two weeks in November. We work with Agape there.

In addition to those charities, and I do not know much about it yet, but I do know that there are many Vietnamese veterans here in the US who receive none of the services American vets receive. If we are blessed with resources, I would love to assist this underserved group. In terms of future projects, I answered that in a later question, but the short answer again is, yes, there is much more work to be done in telling the truth about the Vietnam War.

Lan Chi: I understand that you keep the cost of making the movies to the minimum with the helps of friends and family. If you can have a bigger budget, 50 times bigger, what part of the movie do you think you will allocate this amount to redo it? What I mean is what part is important to you and through that part, you believe that you can send a complete message to the viewers, the message that is related to the US foreign policy.

Richard: This is a great question. If we had had an unlimited budget then we would have had more prisoners for the reeducation camp scenes. We also would have had several combat scenes to include blowing up the Dong Ha Bridge.

Lan Chi: Your intent is to give the truth back to history. How do think the “negative” media in the 70′s will react with this movie? How do you handle these if any?

Richard: People on the Left, those who are pro-communist or who hate America will not like this film. We have seen that already in some reviews. Many Americans who were of military age back during the Vietnam War made themselves believe that Ho Chi Minh was a good man, that the communist invasion of South Vietnam was just a civil war, that the South Vietnamese were corrupt and cowardly, and that communism was not so bad. By allowing themselves to believe this, these people who would not serve did not have to feel guilty about their cowardice and looking out only for their own self interest. The truth we display in the film disturbs their beliefs that protesting the war and failing to serve was somehow honorable, when in fact is was completely shameful and dishonorable.

Lan Chi: I have said that the purpose of writing this book as well as making this movie is to Tell The Truth. I would like to ask what is the motive to get you to do this? Have you ever mentioned this to anyone or raising your voice in any way before just for the sake of the truth?

Richard: I believe that God had a direct hand in guiding me to write the book and then produce the film. I began work on the book in 2003. It took me five years to write it in my spare time. Before it was edited it was 800 pages long. Now it is ‘only’ 600 pages. I went to Vietnam four times to walk the battlefields and the streets of Saigon to gain the best perspective that I could. One of my trips was with my main character Le Ba Binh. He showed me where he grew up, the places he played as a boy, and many of the places he fought the communists. I also criss-crossed the US many, many times interviewing and re-interviewing many of the American Marines and their wives and children who are in the book.

I learned many things I did not know before I began my research. The most important thing I learned is that the war did not need to end the way it did. I learned that the South Vietnamese, who were keeping the communists in check up through 1973, were doomed mostly because the American congress cut their funding in 1973, 1974 and 1975. That guaranteed their loss, especially since the Russians and Chinese, while the US was cutting funds, the communists got much greater support. In addition, the passage of something called the Fulbright-Aiken Amendment in the summer of 1973 basically outlawed President Nixon from honoring the personal commitments he had made to President Thieu to get him to agree to go along with the Paris Peace Accords. The freedom-loving people of South Vietnam were the biggest victims of the American Watergate crisis.

After the book came out, I began to realize that very few people read serious books. Most Americans can talk about sports or what is on reality TV, but they know very little about history or things that really matter. I met my film partner Fred Koster, and we realized that the way to influence people’s attitudes is with film. Unfortunately, the film record for the Vietnam War is horrible. Movies like “Apocalypse Now,” “Deer Hunter,” “Platoon,” “Full Metal Jacket,” “Rambo,” and on and on all portray the American fighting man poorly and our Vietnamese allies even worse. If we do nothing, it will be these pro-communist or at least anti-American films that will become ‘history’ to those generations who come after us.

Lan Chi: In my own view, I think there must be something else that urge you, a US veteran to devote 12 years to learn about VN war, especially the Dong Ha mission in 1972 which was cooperated by Lieutenant Le Ba Binh and Counselor John Ripley. So, is this simply to pay back to history or is there any other reason deeply kept in your heart? When doing this, what percentage of success do you think will be?

Richard: My time as a Marine was in the 1980s. The men who were my leaders though were all Vietnam veterans and I have tremendous regard for them. I also love our country deeply. Since becoming involved in this project in 2003, I have gained greater respect for the Americans who served without getting the recognition they deserved. More importantly than greater appreciation for the American effort in Vietnam, is that I am learning—still learning after 12 years—of the tremendous prices paid by the Vietnamese to fight for their freedom. I am really am in awe of what the Viet Kieu have done. I do know that it is not possible to overstate how evil the communists are. It is also not possible to overstate what a blessing to the US the Vietnamese diaspora have become.

Aside from taking care of my family, I believe to my soul that God’s mission to me for the remainder of my life is to fight for the truth about the Vietnam War. President Nixon said : “The Vietnam War is the most misunderstood event in American history. It was misreported then. It is misremembered now.” There is nothing we can do about the misreporting. That is history. But we can change the way the war is remembered. That is our mission with “Ride the Thunder.” We intend to change the way the world remembers the Vietnam War. We want to bring the truth to light, and give some recognition to those Vietnamese and Americans who sacrificed so much in a very worthy effort.

Lan Chi: When writing about the Communist prison, how many people did you interview? Why was the cruelty of the way the communist treated the prisoner “softened” in the movie? Is this because the director did not want to include too much violence in the movie?

Richard: This is a great question. I interviewed several men who went to prison after the war, but I interviewed Le Ba Binh the most because this is his story. His experiences are meant to represent what happened to many people, but not to everyone. I am well aware, for example, that many wives were raped by prison guards when they came to visit their husbands, and that many prisoners suffered much more than we showed in the film. At the same time we did not want to change Binh’s story because we know that the communists will come after us and I need to stick with what Binh and his wife shared with me. In my interviews with her, she never indicated that she was raped by prison guards.

Similarly we kept the figures we used for the numbers of those who died in prison, those who were executed and those who died as Boat People low. We did this so that the communists could not accuse us of inflating the numbers. As I mentioned above, I do not believe it is possible to overstate how evil the communists are, nor is it possible to overstate the suffering of the Viet Kieu, so many of whom are still suffering from depression today. I am more and more aware of that.

Lan Chi: With Jane Fonda and John Kerry, you said that there is blood in their hands. If I say that they are just followers, the secret behind all of these is the Jewish tycoon, how do think?

Richard: I am not aware of any Jewish tycoon. I still believe people like Jane Fonda, John Kerry, the millions who protested the war and the dozens and dozens of US senators and congressmen from the 1960s and 1970s are responsible for encouraging our enemies. Their actions make them responsible for the deaths and suffering of the uncounted millions of freedom-loving Vietnamese, and the American fighting men who honorably served

Lan Chi :To me, you have completed your responsibility as a soldier to serve in the Marine, as a family man of your company, as a person to serve our human race to create the Ride The Thunder movie. What do think about my views? Do I miss anything? Beside that, what do think if each and every Vietnamese comes to see you and says that “Our duty is to be with and your work” (just like I wrote to you in my first email)

Richard: Thank you for saying that I completed my duty. Actually, it is my belief and that of my partner Fred Koster, that we are only just beginning. We have a great deal of work left to do. The history of the Vietnam War is extremely complex and a movie of 105 minutes is not enough to get it all correct. One of our Vietnamese friends has suggested that if we could take the entire book “Ride the Thunder” and turn it into a 40-week television series (the book has 40 chapters), sort of like “Band of Brothers,” then we could really tell more details of the history and educate many more people. To do that we need far more resources than I am able to provide. I really do have all my life savings in the film, along with the help of a few friends.

How can the Viet Kieu help us? Please make sure that every single Vietnamese citizen here sees the film and invites their non-Vietnamese, American friends to come. If we are able to do further projects, it will only be because citizens who love our country come alongside us to partner with us.

Lan Chi: Before saying goodbye, I would like to ask a personal question, what roles have your family, especially your wife and kids played in your adventure to find the truth to honor the US and Vietnamese soldiers in the fights against the communists through your book?

Richard: I have been especially blessed to have a wife who has supported me in all my efforts with the book and film. We have been married nearly 33 years. She has never once complained about the time or the funding I have taken to do these projects. My children have likewise been very supportive. I think they also understand that there is a battle for our nation’s soul. America was correct to fight the communists in Vietnam. The combined effort of the Vietnamese and Americans, while not the outcome we wanted, did at least buy time for the rest of Asia to grow free of communist domination. If it weren’t for our effort there, the rest of Asia would look very different today. And I always feel it important to point out that the biggest upside to the war’s outcome was that America has been greatly blessed to have two million new citizens from Vietnam who love freedom and value their citizenship here more than most. The Vietnamese have blessed America beyond measure.

And the last words I want to say that Our film effort has been aided greatly by a number of extremely important friends in both the American and Vietnamese communities. Without their selfless and continuing assistance, we could not have done what we are attempting to do. And these are people who are not doing this for the money. They have helped because they are likewise committed to ‘getting history right’ and have a great love for America, the American veterans, and for all the people of the Republic of Vietnam who suffered so much for so long to gain their freedom. We–Fred Koster and I–would not have been able to get this far without their love and support. We call these friends our “Ride the Thunder Family.” There are about 35-40 people in this group. I could write lengthy stories about each one of these folks. Without them, we would have accomplished very little.

Hoàng Lan Chi

6/2015

Posted in Phỏng Vấn | Comments Off