Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off

Ai Xúi Phan Nhật Nam “ăn cứt gà”- Sep 21, 2017

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

Ai đã xúi Phan Nhật Nam “ăn cứt gà”

Mỹ đang chớm Thu và Úc thì chớm Xuân. Hai mùa đều dễ thương. Đã lâu rồi tôi ít viết về đề tài văn nghệ hay ca nhạc mà tôi thích về thời sự nhiều hơn. Biết sao được. Trời sinh mà. Tựa như trời sinh đàn ông Mỹ thích bóng chày còn đàn ông VN thì ưa bóng đá. Tựa như trời sinh người trẻ thích nhạc sôi động và người già thích nhạc sâu lắng.

AI XÚI PHAN NHẬT NAM “ĂN CỨT GÀ”

Đầu tháng 9/2017, Phan Nhật Nam nhận thư của Hữu Thỉnh và đã trả lời ngắn gọn. Tôi phổ biến. Khắp nơi khen ngợi Nam ( xem tại đây: Hữu Thỉnh, CT Hội Nhà Văn dụ dỗ Phan Nhật Nam- Sep 1, 2 017) ( http://wp.me/p3ykCM-1az)

Mười ngày sau, Nam kể rằng Nam được ô Nguyễn Xuân Nghĩa cố vấn và bức thư thư hai được viết dài hơn. Tuy vậy đoạn số 3 của bức thư này lại là nguyên nhân để Nam bị vài người chụp mũ, đả kích. Họ gửi về tôi. Khi xem tôi cũng bực mình.

Thì có gì đâu, Nam cứ ngỡ mình dùng chữ “Hãy” là có nghĩa “Mệnh Lệnh” ( trích: hãy bỏ chữ ngụy, hãy để TPB sửa sang phần mộ, hãy hòa giải với người dân bị nạn Formosa…” nhưng người khác thì nhìn ra là XIN!

XIN vì đó là tập thể, là nhà cầm quyền, còn Nam chỉ là cá nhân.

Cho dù không phải Xin mà “Yêu Cầu” đi chăng nữa thì một người bạn của Nam, thuyhac.tran, cũng “thảng thốt” kêu lên rằng “ Chết rồi anh Nam ơi . Anh sẽ bị thiên hạ đả kích vì điều kiện để về VN của anh không khó lắm: 1. Bỏ danh từ ngụy quân ngụy quyền. 2. Chấm dứt đả đảo Thuong phế binh. 3.Tu bổ Nghĩa Trang QD .4. Giãi quyet Formosa…Cōn CS còn Trung cộng, còn nhân quyên thī sao ?”

Một cậu em khác của tôi, Tiến sĩ PQT, thì viết vầy :

Chị Lan Chi thân:

Em thấy tay Hữu Thỉnh qua tài cán và tư cách cho biết hắn là tên cán bộ tuyên huấn đội lốt nhà văn và lá thư mời của hắn chắc chắn đi ngoài v/đ văn nghệ mà hoàn toàn có chủ đích của tên công an văn nghệ thi hành chính sách của đảng (cướp) ̣

Anh PNN nên trả lời thế nào mà hắn không xử dụng lá thư để tuyên truyền theo em là tốt nhất ̣ Như vậy theo em thì không lý sự, yêu cầu gì ráo với bọn này, vì chắc chắn hắn đã nghe nhiều lần ̣ Em thích lá thư ngắn hơn, hoặc có thể ngắn hơn nữa cho biết Cộng nô và cái hội nhà văn là công cụ Hán hoá của đảng, chứ không vì que^ hương văn nghệ gì ráo trọi ̣ Và nếu có thể dùng lá thư để phổ biến ở hải ngoại kêu gọi văn nghệ sĩ hải ngoại đừng về VN bôi nhọ thanh danh và ltuyên truyền cho CS ̣

Em là bạn sơ giao của Du Tử Lê; bây giờ thấy anh ta về VN buồn quá ̣Mặc dù như giới ca sĩ về VN sinh hoạt hay nói là về vì tiếng gọi của quê hương và khán giả, v ̣v ̣ Em thấy chung quy lại cũng vì chữ tiền, danh, và đàn ông còn bị dính đến chuyện trai gái ̣Đây là sự nhục nhã ̣ Em theo chính sách của Hoa Kỳ là chắc ăn : "không thoả hiệp với khủng bố" (no negotiation with terrorists) ̣

(Ngưng trích PQT).

Tôi thì cười hì hì với Nam “Nam à, Nam đâu phải trẻ con để người ta xúi ăn cứt gà? Cái thư đầu tiên của Nam là OK và khi công nương gửi ra thì được nhiều người khen ngợi. Ai biểu Nam nghe lời ô Nghĩa viết dài nên trở thành “viết dại” thì ráng mà chịu. CN hiểu Nam nhưng để kẽ hở cho người ta chỉ trích mình thì tại Nam nghe lời Nghĩa!”.

Nói bên lề: có vài người đặt câu hỏi “ ngu không chịu được”. ( xin lỗi ạ). VD nick XYZ hỏi “Tại sao chỉ gửi thư cho PNN?”. Đúng là đã ngu không chịu tìm hiểu còn “bắng nhắng”. Đại hội văn chương thì vc dụ dỗ người viết chứ không lẽ dụ dỗ ô Lê Minh Đảo? Sau nữa, vc dụ dỗ người “tăm tiếng” chứ ai thèm dụ thứ “tiểu tốt”? PNN là người có “tên tuổi” thì mới dụ dỗ.

Theo nhà văn Nguyễn Thị Thảo An, người rất thân với ông Tô Thùy Yên thì ông TTY cũng nhận được thư như thế, chỉ hơi khác một chút.

Cái ngu khác của nick ABC là hỏi “Thụy Kha là ai, PNN bị băt gặp đi nhậu với Thụy Kha ở Mỹ”! Trong giới văn chương thì quen biết nhau là chuyện thường. PNN đã phải ở Sài Gòn đến ngoài 1990 mới được đi. Trong khoảng thời gian PNN ở Sài Gòn kể từ khi ra tù cho đến khi sang Mỹ, việc các nhà văn vc làm quen đến chơi với PNN là chuyện bình thường. Rồi nếu có nhà văn cs nào du lịch Mỹ thì chuyện họ gặp Nam cũng là chuyện bình thường. Chừng nào Nam gặp gỡ cán cộng cấp cao thì mới là chuyện không bình thường còn các nhà văn cs thứ “tép riu” thì có gì mà phải nói? Tôi có chị bạn. Chị là bạn thân cận với Kim Cương từ xưa nên khi KC qua Mỹ, chị bắt buộc phải đón KC ở nhà nhưng lợi dụng lúc đó chị cứ thế chửi CS còn KC thì cứ phải lặng im và cười trừ.

GIA LONG ELIZABETH HOÀNG

Gia Long Virginia có vài chị thuộc hàng sư tỉ của tôi và các chị có tinh thần quốc gia rất mạnh. Chị Minh Thảo, còn được gọi là Elizabeth Hoàng, là một trong những người đó. Ông xã chị là Đại Tá Hoàng Ngọc Lung. Chị Thảo rất đẹp. Có lẽ vậy chị lấy tên Elizabeth. Trong vụ “lùm xùm” sửa hiến chương cộng đồng để từ cộng đồng chống cộng thành cộng đồng không cs thì chị Thảo vừa viết mail lên tiếng bày tỏ lập trường và nhận định của chị.

Người đẹp thường hay bị một số khuyết điểm vầy: học dở, đầu óc ngây thơ ( là nói lịch sự, còn nói không lịch sự thì đầu như bã đậu ạ!). Chị Thảo từng là nhà buôn bán địa ốc thành công và rất quan tâm thời sự. Hơi hiếm phải không ạ?

KIỀU NỮ KHÔNG CHỐNG CỘNG

Úc là nơi thánh địa cho vc , việt gian và VT-ma đặt bản doanh. Lý do, Úc mở cửa rất sớm để đón vc và trung cộng. VC đã qua Úc, đặt căn cứ địa ở đây và phát triển mạng lưới.

Xứ Kangourou này vừa chào đời một kiều nữ như thần đồng. Đúng hơn chào đời tổ chức của kiều nữ.

Kiều Nữ kể rằng: Năm mới lớp Hai từ VN qua định cư Úc, Kiều nữ đã biết đón xe bus đến thư viện của một thành phố kia để xem sách Tự Lực Văn Đoàn. Không thần đồng thì là gì?

Tuy mới học tiếng Việt lúc lên đại học (theo lời nàng tự kể) nhưng tiếng Việt của nàng rất lưu loát trôi chảy. Không thần đồng thì là gì?

Ngoài “thần đồng”, kiều nữ này có biệt tài mê hoặc các cụ nhất là các cụ ông. Nghe Kiều nữ ỏn thót, các cụ cứ há mồm ra uống từng lời nàng nói và không còn biết phân biệt phải quấy.

Cụ đứng đầu danh sách là cụ Tôn họ Võ Đại. Cụ hồn nhiên vô tư ủng hộ cho một phong trào mà người ngu nhất thế giới cũng thấy dính líu rất nhiều đến VT-ma.

“Cụ thứ hai” là các cụ trong Liên Minh Dân Chủ ở Canada.

“Cụ thứ ba” là các bà phụ nữ Âu Cơ, “một ngoại vi” của Tổ Chức Phục Hưng. Các bà Âu Cơ này không biết đã đẻ được bao nhiêu trứng mà các bà ôm chim cú vào lòng ôm ấp cứ như chim câu. Kiều nữ nói dóc, nói phét lác đủ thứ mà các bà “Âu Cơ” cứ đực mặt ra không biết mô tê, trời trăng mây nước gì cả.

Xem ra kiều nữ thuộc lại “Đàn bà dễ có mấy tay”.

Tuy vậy Kiều nữ thần đồng này đang gặp nạn vì nàng tuyên bố không chống cộng chỉ chống cái ác. Than ôi, cộng đồng hải ngoại đang xiểng liểng với cái trò lăng ba vi bộ của ê kíp ( Đinh Hùng Cường-Nguyễn Văn Thành) ở thủ đô để khoác áo “không cộng sản“ cho cộng đồng chống cộng thì ngơ ngác tiếp với kiều nữ đanh thép “tổ chức của con không chống cộng, chỉ chống cái Ác thôi”.

Để xem Kiều nữ còn tiếp tục hớp hồn được những cụ nào!

Hoàng Lan Chi

9/2017

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

MAI THẢO- NHÂN CÁCH BÌNH NGUYÊN LỘC- Aug 2017

MAI THẢO- NHÂN CÁCH BÌNH NGUYÊN LỘC

Thời gian đầu, sau khi cộng sản đã lấy nốt được miền Nam là thời gian còn được để yên, chưa bị kết tội, chưa bị lùng bắt, tôi thường sáng sáng một mình đạp xe đạp qua một Sài Gòn tan nát tới thăm một nhà thơ và một nhà văn, ngưởi trước Bắc, người sau Nam, cả hai đều thuộc thế hệ trước tôi, cả hai đều đã tên tuổi lẫy lừng từ thời tiền chiến.

Những thăm viếng thường xuyên này của tôi, giữa Sài Gòn và trong đổi đời lúc đó được đọc bởi hai điều. Một, hai khuôn mặt lớn ấy của văn học Miền Nam, từ quốc nạn 1975, đã đóng kín địa chỉ, dựng cao lũy hoa, cắt đứt với đời, không ra khỏi nhà, muốn gặp họ tôi phải tìm tới. Hai, giữa cái thể chế chuyên chính đã trùm kín, chưa bao giờ trong đời tôi lại cảm thấy sự cần thiết lớn lao phải giữ chặt lấy một số thân tình bền vững tôi hằng mến yêu và kính trọng. Và hai cái đối tượng của thăm viếng thường xuyên thì với tôi lại là hai niềm mến yêu và kính trọng vô cùng. Nhà thơ miền Bắc tôi vừa nói tới là Vũ Hoàng Chương. Và nhà văn miền Nam, Bình Nguyên Lộc.
Vũ Hoàng Chương thời gian đó ở khá xa, mãi bên vùng Khánh Hội, trong một ngõ hẻm khuất khúc giữa phường Cây Bàng, trên căn Gác Bút lừng tiếng, nơi thi sĩ bị công an cộng sản tới bắt đem giam nhốt vào khám Chí Hòa rồi trở về trong hấp hối lâm chung và lìa đời ở đó. Bình Nguyên Lộc ở gần hơn. Thăm viếng do vậy cũng ngắn đường hơn, trong cuối đáy một con ngõ yên tĩnh một thời Vũ Hoàng Chương đã ở, khu Cô Giang Cô Bắc, đầu ngõ là con đường Huỳnh Quang Tiên, khúc từ con ngõ nhìn ra có những vì tường xám của hãng thuốc lá MIC chạy dài trước mặt.

Tới ngõ, tôi xuống xe dắt bộ đi vào, và ngừng lại trước một căn nhà một tầng cổ cũ, căn nhà này là của gia đình Bình Nguyên Lộc, nhà văn chỉ mới dọn về ở một thời gian từ sau cái chết của người con trai lớn là Bác sĩ Giám Đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, để sống gần với người chị ruột ở căn nhà kế cận.

Mở cánh cổng thấp, dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở, tôi gõ nhẹ tay vào thành cửa đóng kín. Nhớ lần nào tôi cũng phải đứng chờ ít phút, nhưng không lần nào phải trở về. Căn nhà yên lặng hoàn toàn. Tiếng gõ cửa ngân vào thật sâu thật xa ở bên trong, rồi là tiếng chân người đi ra. Rồi là cánh cửa hé mở từ từ và cái thân hình nhỏ bé, bộ đồ ngủ lùng thùng và cái mái tóc rẽ giữa duy nhất của văn học miền Nam, cái mái tóc rẽ giữa của Bình Nguyên Lộc.

Bao nhiêu lần như bao nhiêu lần, và cảm giác này càng rõ rệt những buổi sáng tới bạn sau vực thẳm 1975, lần nào nhìn thấy Bình Nguyên Lộc, tao nhã, gầy guộc, trên cái nền mờ tối của căn nhà đóng kín, tôi cũng có được tức khắc, ở trong tôi, như một mầu nhiệm êm đềm, một ấm áp và một yên tâm không thể nào tả được. Ấm áp như cái thế giới tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, không siêu hình, không gió bão, cái thế giới đã bốn mươi năm văn học ở trong đời sống và làm cho đời sống muôn vàn tươi thắm. Yên tâm như cái văn phong, cái nhân cách Bình Nguyên Lộc, dung dị mà bác học, đơn giản mà trí thức, Bình Nguyên Lộc con người và Bình Nguyên Lộc tác phẩm chính là niềm yên tâm lớn nhất một thời của văn học chúng ta.

Thấy anh, lần nào tôi cũng nói, cảm động thành thực:
- Còn được tới thăm anh.
Lần nào anh cũng cười:
- Còn được gặp anh. Vào đây.
Anh bảo tôi đưa xe vào nhà, kẻo xe mất “hết đường tới thăm bạn”. Đoạn đóng cửa lại, bật ngọn đèn đầu giường và đi về phía sau đun một ấm nước.
Giữa đám sách vở, tài liệu bề bộn, cạnh một chỗ nằm cũng là chỗ ngồi làm việc của ông, trước một khay trà, thật bình dân, không cầu kỳ như khay trà Vũ Hoàng Chương và những điếu thuốc đen ông đốt theo một nhịp điệu đều đặn, tôi thường ở rất lâu với Bình Nguyên Lộc. Tới trưa. Tới sau trưa. Tới cái gạt tàn có ngọn. Tới bình trà nguội tiếp thêm một bình trà. Một vài lần còn tới giữa bữa cơm ông ấy lấy thêm bát đĩa ép tôi cùng ăn, bữa ăn cực kỳ thanh đạm, chỉ một soong cơm và một con cá khô hấp nóng. Phải, nhớ lần nào tôi cũng ở lại thật lâu. Với cái mái tóc rẽ giữa. Với những cử chỉ chậm rãi. Với cặp mắt thông minh sau làn khói. Với những đứng ngồi lên xuống từ tốn. Trong cái thế giới rất riêng tây, cách biệt của Bình Nguyên Lộc, càng riêng tây, càng cách biệt từ cộng sản đã vào tới Sài Gòn.

Những lần tới thăm Bình Nguyên Lộc như vậy, ông thường nói ít lời như một tạ lỗi, nhờ tôi nói lại với anh em, với mọi người. Rằng từ ngày người con trai lớn mất, ông đã chẳng muốn đi đâu. Rằng chứng áp huyết nặng tối kỵ chững di chuyển, những họp mặt. Rằng “họ” đã vào tới rồi, thành phố là của “họ”, đời sống chẳng còn gì đáng thấy, đóng cửa trong nhà thôi.
Lập luận về một thái độ sống thu vào im lặng và ẩn dật, thoạt nghe ở Bình Nguyên Lộc tưởng thật dễ dàng. Sự thật, nó chẳng dễ dàng chút nào, với Bình Nguyên Lộc, với chế độ mới và Bình Nguyên Lộc, suốt thời gian ở đó. Và cái lý do giản dị chỉ là ông chẳng phải là một người viết văn như bất cứ một người viết văn nào mà là nhà văn hàng đầu, nhà văn lớn nhất miền Nam.

Bây giờ, đó là thời gian từ 30 tháng tư 75, tới đầu 76, Trung Ương Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, tuy chưa phát động đàn áp và cầm tù văn nghệ sĩ, đã cho thi hành ở Sài Gòn một chính sách lũng đoạn hàng ngũ văn nghệ cực kỳ hiểm độc. Chính sách đó nhằm tạo kỳ thị, gây chia rẽ, giữa những nhà văn miền Bắc vào Nam trong đợt di cư 1954 với những nhà văn sinh trưởng ở Nam Phần. Suốt ba mươi năm văn học, Nam Bắc đã một nhà, Bắc Nam đã bằng hữu. Cộng sản muốn chấm dứt cái tình trạng hòa đồng tốt đẹp đó. Và người chúng đã dành hết mọi nỗ lực khuynh đảo là Bình Nguyên Lộc. Thoạt đầu là đám văn nghệ nằm vùng. Như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Kế đó, đến nhóm văn nghệ của Mặt Trận Giải Phóng về thành, tạm thời được nắm giữ những địa vị quan trọng như Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Anh Đức, nhiều kẻ đã quen biết Bình Nguyên Lộc từ xưa. Cuối cùng là đám nhà văn, nhà thơ công thần của chế độ và vào từ Hà Nội như Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Tất cả, trên từng địa vị khác biệt, đã viết thư, điện thoại ân cần thăm hỏi tác giả Đò Dọc, về sức khỏe, về đời sống của ông, nói thân thế ông mãi an toàn, sinh kế vẫn bảo đảm, sự nghiệp không chôn vùi, ông vẫn nhà văn lớn. Tất cả đã lần lượt đến khu Cô Giang Cô Bắc, tươi cười, nhã nhặn gõ cửa xin gặp người trong ngôi nhà có hai chậu vạn niên thanh. Bình Nguyên Lộc tiếp hết, từ tốn, chững chạc vậy thôi. Duy có một lần, không sao được, ông phải tới dự đại hội văn nghệ thống nhất lần thứ nhất ở Bộ Thông Tin cũ đường Phan Đình Phùng. Kỳ họp này, Vũ Hạnh, Thanh Nghị báo cáo kể công, Sơn Nam đóng trò nhiệt tình khóc lóc, riêng Bình Nguyên Lộc ngồi im lặng từ đầu đến cuối, không chịu phát biểu một lời nào.

Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Của tiếp xúc Bình Nguyên Lộc với chế độ mới. Cố nhân quen biết tương đối thân thiết nhất với anh là Giang Nam, được Thế Lữ ca ngợi là tiếng thơ cách mạng lớn nhất miền Nam, về Sài Gòn giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng, mặc dù đã viết cho Bình Nguyên Lộc một lá thư thật dài, thật tình cảm, cũng thất bại. Thư mời Bình Nguyên Lộc tới trụ sở Hội. Mời sinh hoạt. Mời hội họp. Mời viết lại. Và Bình Nguyên Lộc đã nhã nhặn viết một lá thư trả lời. Nói ông rất đau yếu. Nói bị chứng áp huyết. Nói chẳng còn làm được gì. Nói chẳng thể đi đâu. Nói xin được yên thân. Cuối cùng rồi mọi ve vuốt, mọi khuynh loát đều chịu thua, đều lùi bước trước sự nhã nhặn khuớc từ, trước cái nhân cách và sự tự trọng chói lọi của Bình Nguyên Lộc. Hò đành để cho Bình Nguyên Lộc được cách biệt, được một mình, được vẫn mãi mãi là Bình Nguyên Lộc trong căn nhà đóng kín.
Nhân cách trí thức độc lập ấy của Bình Nguyên Lộc, thái độ tuyệt vời của người nhà văn miền Nam ở Bình Nguyên Lộc, không một lần nào, ông phô trương mà chúng tôi đều biết, cả miền Nam đều biết và sung sướng vô cùng và quý mến rất mực.
Nhớ Bình Nguyên Lộc ở xa, tin tức quê nhà đã lâu không nhận được, chẳng biết vẫn còn hay đã mất, những lần sau cùng tới khu Cô Giang Cô Bắc, hình ảnh hai chậu vạn niên đại xanh ngắt một màu xanh muôn thuở trước ngôi nhà văn học đóng kín, lại trở về, xanh ngắt trong tôi.

Bình Nguyên Lộc. Cái mái tóc rẽ giữa, hai miền trung dung phân định như tấm lòng người quân tử một đường ngôi đời thẳng tắp. Bình Nguyên Lộc, bộ đồ lụa trắng, rất thông phán tòa sứ, rất trăng nước miền Nam, trên chiếc cyclo đạp chậm đưa ông tới gặp các tòa soạn Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề chúng tôi làm, phần lớn là anh em nhà văn miền Bắc. Không có Nam Bắc với Bình Nguyên Lợc, chỉ có văn chương, chỉ có hợp tác, chỉ có bằng hữu. Tôi làm biếng lắm, ít khi đi đâu, đến chơi tôi nhé. Thân tình, hòa nhã. Cái truyện ngắn này dục tôi viết gấp, thì phải viết gấp, không được tốt lắm, thôi dùng tạm vậy. Nhũn nhặn, bình dị. Một năm trong bốn năm liền cùng ở chung trong Hội Đồng Giám Khảo giải thưởng Văn Chương toàn quốc, ông từ chói nói chứng áp huyết không còn leo nổi những bực thềm cao của Dinh Độc Lập, cặp mắt đã yếu chẳng thể nào đọc hết được những tác phẩm dự thi. Nài mãi mới nhận. Nhưng cười, giao hẹn: “Vậy phải đọc hết giùm tôi, rồi đưa cho tôi đọc mười cuốn khá nhất.” Nghiêm chỉnh. Ngay thẳng. Năm đó, ông

Rồi là cái công trình Văn Học cuối đời của Bình Nguyên Lộc. Cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam đã phác thảo, đã in thành sách, trọn năm năm trời, tìm kiếm, sưu tập, thu thập thêm một kho tàng tài liệu mới, đã hoàn tất thành một biên khảo vĩ đại hơn một ngàn trang. Cộng Sản vào Nam. Thiên biên khảo kỳ công vẫn còn là bản thảo. Một lần tới thăm, tôi hỏi Bình Nguyên Lộc về công trình văn học đó. Và đó cũng là lần thứ nhất tôi thấy Bình Nguyên Lộc buồn phiền và thất vọng. Trèo qua cái giường ngủ, ông lấy từ một giá sách cao xuống một tập bản thảo nặng chĩu, trao nó cho tôi.

Giọng ông trào lộng mà nụ cười thật buồn:
- Nó đây.
Và chỉ tay lên cái giá sách bụi bậm:
- Kia là mồ chôn nó.
Kế đó, ông thuật cho tôi hay về số phận của thiên biên khảo lịch sử, mà nguồn gốc dân tộc Việt, theo sử quan và chứng minh Bình Nguyên Lộc, không từ miền Bắc xuống mà từ biển ngoài vào. Một nhóm những người cao cấp về biên khảo lịch sử của nhà nước Cộng Sản từ Hà Nội vào, được nghe nói về công trình biên khảo này của Bình Nguyên Lộc. Họ tới. Tỏ lòng ngưỡng mộ, rồi xin được mượn tập bản thảo về đọc, nói sẽ có nhận xét, sẽ có thảo luận. Mấy tuần sau, tập bản thảo được gửi trả lại với một lá thư ngắn nói quan điểm lịch sử nói chung và nguồn gốc dân tộc nói riêng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn thoái hóa và sai lầm đối với quan điểm biện chứng duy vật lịch sử cách mạng, khoa học và tiến bộ.

Thuật lại xong, ông lắc đầu, sự thất vọng hiện rõ nhưng giọng nói vẫn từ tốn:
- Thế là gạt bỏ, thế là phủ nhận. Nói là để đối chiếu, để thảo luận, mà không có gì ráo trọi. Tôi buồn vì cái công trình của mình, nhưng buồn hơn cả là cái sự gạt bỏ của miền Bắc đồi với sách tôi không phải là một thái độ văn học, không hề được đặt trên căn bản văn học. Nói đến văn học, tuyệt đối không thể nói đến một lập luận, một giá trị độc tôn nào. Phải nhiều lập luận khác biệt, phải nhiều khái niệm đối nghịch, một vấn đề văn học, một nghi vấn lịch sử mới được chiếu sáng. Khoa học lịch sử thiết yếu phải có được yếu tính và tinh thần đó. Tôi buồn nhất là ở cái sự không có tranh luận, không có đối thoại ấy mà thôi. Chứ không hoàn toàn vì sách tôi không bao giờ còn hy vọng được in ra.
Tập bản thảo nghìn trang, mồ chôn là cái giá sách bụi bậm. Hai chậu vạn niên thanh xanh ngắt một màu xanh muôn thuở. Trí thức dựng cao lũy hoa. Một nhân cách chói lòa trong tự trọng một đời, đã tám năm im lặng trong ngôi nhà đóng kín. Chẳng bao giờ tôi còn được sàng sáng tới thăm Bình Nguyên Lộc nữa và Vũ Hoàng Chương đã mất. Nhưng ở thật xa và cách thật lâu rồi mà rõ thì vẫn thật rõ. Về Bình Nguyên Lộc, nhà văn miền Nam hàng đầu của văn học ta rõ bởi cái ánh sáng ấy, cái ánh sáng của một nhân cách rực rỡ, tôi đã nhìn thấy không ngừng, sau đổi đời và giữa cộng sản, sáng sáng đạp xe qua một Sài Gòn đổi chủ ngừng xe lại trước nhà có hai chậu vạn niên thanh.

Mai Thảo

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Hoàng Oanh-Vài Giòng Kỷ Niệm Về Danh Ca Ánh Tuyết- Julu 27, 2017

Hoàng Oanh

Yesterday at 11:29am ·

VÀI DÒNG KỶ NIỆM VỀ DANH CA ÁNH TUYẾT

Tuần qua, Hoàng Oanh có nghe tin nữ danh ca Ánh Tuyết vừa mới từ trần tại Quận Cam – California. Theo Nhật báo Người Việt cho biết: “Ca sĩ Ánh Tuyết đã qua đời lúc 2 giờ 30 chiều ngày thứ ba, 11 tháng bảy – 2017 tại bệnh viện Corona – California, hưởng thọ 82 tuổi.”

Cô Ánh Tuyết là nữ ca sĩ kỳ cựu của ngày xưa, trong hai thập niên 50 và 60, không phải ca sĩ Ánh Tuyết bây giờ tại Việt Nam.

Hoàng Oanh đã đến dự tang lễ của Cô vào chiều ngày 23, July 2017 trong niềm thương tiếc một tiếng hát Thu vàng của Việt Nam.

Được biết cô Ánh Tuyết tên thật là Hoàng Bạch Tuyết, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1935 tại Hải Phòng – Bắc phần. Cô khởi nghiệp ca hát từ rất sớm, khi mà phong trào Tân nhạc đang phát triển mạnh mẽ ở các thành phố lớn của miền Bắc như: Hanoi, Nam Định và Hải Phòng. Cô trình diễn lần đầu tiên trước công chúng tại Nhà hát Hanoi năm 1951, khi Cô mới 16 tuổi.

Ông Tony Lâm, cựu nghị viên gốc Việt đầu tiên ở Westminster, người thân quen với ca sĩ Ánh Tuyết từ khi còn ở Hải Phòng, cho Nhật báo Người Việt biết: “Khi còn ở Hải Phòng, Ánh Tuyết tham gia trong Ban hợp ca Lửa Hồng với Mộng Dung, Ngọc Hồ và Mai Sinh. Lúc nào tôi cũng đi sát với chị ấy, kể cả khi Ánh Tuyết vào trong Nam…” Ngoài ra, trong hình ảnh của ban Lửa Hồng năm 1953 còn có nhạc sĩ Hoài An.

Theo nhà văn Mai Thảo thì lúc bấy giờ (1953): “Ở Hải Phòng có một ban nhạc tên là ban Lửa Hồng. Trưởng ban là ông Năm Phát, chú rể của Ánh Tuyết…” Và dưới sự hướng dẫn của người chú rể và nhạc sĩ Ngọc Hồ, cô Ánh Tuyết đã dần trở thành một tiếng hát được mến mộ của Đài phát thanh Hải Phòng.

Và Hải Phòng cũng là quê hương của ba người nhạc sĩ nổi tiếng: Văn Cao, Đoàn Chuẩn và Ngô Thụy Miên. Hoàng Oanh nhớ lại rằng: Khi nhạc sĩ Phó Quốc Thăng di cư vào Nam, ông có viết một bài hát rất hay mang tựa đề “Biệt Hải Phòng”. Bài hát nầy cô Ánh Tuyết và các cô chú Anh Ngọc, Thúy Nga, Khánh Ngọc, Ngọc Long… có trình bày nhiều lần trên các đài phát thanh của Miền Nam.

“Cách biệt người rồi, Hải Phòng ơi!
Xót xa ngày đất nước chia đôi
Phố phường thân mến gây mùi nhớ
Đâu những chiều vui bến nước rơi!”

(Biệt Hải Phòng – An Phú ấn hành, 1955)

Và cũng như bao lớp người di cư, cô Ánh Tuyết biệt Hải Phòng vào năm 1954. Ở tuổi 19, Cô cùng Đài phát thanh Hải Phòng hòa vào cuộc di cư vĩ đại. Vào Nam, Cô tham gia các sinh hoạt văn nghệ rộn rịp của Miền Nam ngay từ buổi đầu bình minh của đất nước. Cô đi hát nhiều ở các đại nhạc hội, các rạp chiếu bóng, các phòng trà và thường xuyên trên các đài phát thanh của thành đô, cùng thời với các ca – nhạc sĩ tên tuổi: Hoài An, Phạm Đình Chương, Văn Phụng, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Kim Tước, Mộc Lan, Thái Hằng, Thái Thanh, Minh Trang, Tâm Vấn, Thúy Nga, Lệ Thanh, Kiều Hạnh và Linh Sơn…

Theo một số tài liệu cho biết, vào thời gian nầy, cô Ánh Tuyết có cộng tác với phòng trà Bồng Lai, nhà hàng Tự Do và trình bày nhiều nhạc phẩm nổi tiếng với tên tuổi Cô, được thính giả thưởng ngoạn ưa chuộng như: Ánh Đèn Mầu (Nhạc ngoại quốc), Trăng Sáng Vườn Chè (Văn Phụng & Thơ: Nguyễn Bính), Đố Ai (Phạm Duy) và đặc biệt là Giấc Mơ Hồi Hương (Vũ Thành) mà theo một số người xưa cho rằng: Chính Cô là tiếng hát đã làm cho nhạc phẩm bất hủ của Vũ Thành nổi tiếng từ thuở đó…

Hoàng Oanh có đọc ở đâu đó viết rằng: Cô Ánh Tuyết hát Dân ca cải biên miền Bắc cũng thật xuất sắc, nhất là bài Trăng Sáng Vườn Chè (nhạc sĩ Văn Phụng phổ thơ Nguyễn Bính). Cô hát thật duyên dáng: “Anh chưa thi đỗ thì chưa… thì chưa… (thêm những giọng Nam phụ họa)… thì chưa… động phòng…”. Cô diễn tả qua giọng hát một hình ảnh e ấp, dễ thương của “cô Bắc Kỳ nho nhỏ”. Cuối bài, cô ngân dài và kết thật đầm ấm:

“Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem trăng tưới… lên trên vườn chè.”

(Trăng Sáng Vườn Chè, tác giả xuất bản)

Còn nhớ ngày xưa khi Hoàng Oanh còn bé, có một lần được xem cô Ánh Tuyết hát trên sân khấu. Cô có một giọng hát rất cao và rất mạnh. Giọng Mezzo-Soprano của Cô hiếm có, trải dài đến những note rất cao. Hôm đó, Hoàng Oanh còn nhớ Cô đã hát bài Giấc Mơ Hồi Hương của nhạc sĩ Vũ Thành. Và Hoàng Oanh rất tiếc đã không tìm được bản ghi âm bài Giấc Mơ Hồi Hương ngày xưa của Cô, hy vọng vẫn có người còn giữ được, để chúng ta còn có dịp được nghe lại một trong những bài nổi danh nhất của tiếng hát Ánh Tuyết.

“Mơ ước thấy Em một ngày sáng tươi
Tắm nắng hồng của một sớm mai
Say hương thanh bình khắp nơi

Lắng tiếng uy hùng của từng lớp trai
Cất cao lời hứa xây cuộc đời
Sầu tàn trong bóng đêm dài…”

(Giấc Mơ Hồi Hương – Tinh Hoa Miền Nam ấn hành)

Mới đây, Hoàng Oanh có nghe chị Mai Hương kể lại rằng cô Ánh Tuyết hát thành công ở 3 nhạc phẩm:
- Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành
- Ánh Đèn Mầu (ca khúc Eternally trong phim điện ảnh Limelight, sáng tác của nhạc sĩ Charlie Chaplin)
- Và bài thứ 3 là Vọng Ngày Xanh của Khánh Băng

Trong hai thập niên 50 và 60, cô Ánh Tuyết nhận lời thâu âm cho nhiều Hãng dĩa danh tiếng như: Tân Thanh, Việt Nam, Sóng Nhạc và Premier…

Trong 5 năm từ 1955 – 1960, rất có thể cô Ánh Tuyết là người đầu tiên đã trình bày và thâu thanh 3 nhạc phẩm nổi tiếng (từ thời đó và cho đến ngày nay vẫn còn được thế hệ sau say mê): Tình Lúa Duyên Trăng của Hoài An & Hồ Đình Phương, Khúc Hát Ân Tình (tức là Duyên Bắc Tình Nam) của Xuân Tiên & Song Hương, Ngày Hạnh Phúc của Lam Phương (thu âm vào dĩa hát Tân Thanh mang ký hiệu 8-462 với ban nhạc Hải Sơn). Cá nhân Hoàng Oanh cho rằng: Người hát bài Ngày Hạnh Phúc của nhạc sĩ Lam Phương nghe “hạnh phúc” nhất, đó là cô Ánh Tuyết. Khi cô hát: “Mừng cho đôi uyên ương sớm sum vầy vui trong hạnh phúc, và đôi tay thân yêu sẽ là nguồn sống của đời ta…” Giọng hát Cô như một làn mây xanh, thanh thanh và êm ái đi vào tâm hồn thính giả, mang đến cho chúng ta một niềm hạnh phúc đơn sơ, đầm ấm của gia đình. Ngày xưa trong chương trình Gia Binh của Đài Saigon buổi sáng, hay trên Đài Quân Đội (thời thi sĩ Nhất Tuấn) hay mở bài ca “Hạnh Phúc” nầy của nhạc sĩ Lam Phương như một đài hiệu.

Ở bài Khúc Hát Ân Tình, mà Hoàng Oanh sẽ kể lại một kỷ niệm với tác giả Xuân Tiên và cô Ánh Tuyết vào cuối bài viết, tiếng hát Cô là tiếng hát ân tình đã “dìu” những lời ca chan chứa tình đồng bào của bác Xuân Tiên “đi vào chung bóng mơ”:

“Ngày mai hạnh phúc, nơi nơi reo cười
Quê hương thôi đau sầu ngăn sông núi cách – chia
Ta đem yêu thương về cho phương Bắc…”

(Khúc Hát Ân Tình, Tinh Hoa Miền Nam phát hành)

Cuối thập niên 50 – đầu thập niên 60, cộng tác với Hãng dĩa Việt Nam, đây là lúc mà cô Ánh Tuyết thâu thanh nhiều nhất. Trong các dĩa nhựa 45 vòng, Hãng dĩa Việt Nam thường xếp Cô thâu chung một dĩa với các danh ca gốc Bắc như Thái Hằng, Thái Thanh, Khánh Ngọc, Thúy Nga và thỉnh thoảng cùng với Tuyết Mai và Duy Khánh. Trong các số hiệu gần như tiếp nối, cô Ánh Tuyết đã thâu âm các bài hát:
- Chim Lồng
- Bóng Người Cùng Thôn
- Quanh Lửa Hồng và Hò Lơ cùng với cô Thái Hằng
- Tôi Yêu: Song ca với Thái Hằng
- Ngày Trở Về
- Tà Áo Cưới
- Hoài Thu
- Kiếp Ve Sầu
- Ai Nhớ Chăng Ai
- Vần Thơ Thương Nhớ

Trong bài Ngày Trở Về của bác Phạm Duy, cô Ánh Tuyết hát thật cảm động, tiếng hát nhẹ nhàng và trong sáng: “Ngày trở về, có anh thương binh lấy vợ hiền lành…” Ngoài ra, trong dĩa hát nầy (hình bìa là cô Ánh Tuyết), cô còn song ca với cô Thái Hằng bài Tôi Yêu (của Trịnh Hưng & Hồ Đình Phương), nhạc sĩ Dương Thiệu Tước thì trình tấu đàn Hạ Uy Di hai nhạc phẩm của chính ông: Đêm Tàn Bến Ngự và Tiếng Xưa. Tất cả đều do hòa âm và đệm đàn của ban nhạc Hải Sơn.

Những số sau đó của dĩa hát Việt Nam thì bắt đầu đến thời của chị Thanh Thúy, Phương Dung và Hoàng Oanh…

Nhân nhắc đến hình ảnh của Cô (trên bìa dĩa nhựa) thì Hoàng Oanh nhớ lại hình của cô Ánh Tuyết ngày xưa rất đẹp, thường được in trên các bìa báo, bìa bản nhạc như các bản Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Hướng Về Đất Bắc, Tiếng Hò Yêu Nước, Tình Lúa Duyên Trăng… có hình Cô chụp đẹp lắm!

Nghe cô Ánh Tuyết hát, Hoàng Oanh để ý Cô thường hát những bài liên quan đến nắng vàng hay mùa Thu như là bài Tà Áo Cưới, Đại Lộ Hoàng Hôn, Thu Vàng, Hoài Thu… Tiếng hát Cô như mùa Thu vàng “bao nhiêu là hương”, là làn gió Thu “làm rung động tim tôi hay là dư âm Thu rồi?” Trong một bài hát của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, cô Ánh Tuyết còn hát cho người lính chiến: “Hôm nay lá Thu rơi bên thềm, gió heo may qua rèm, câu hò nhẹ đưa êm đềm…” là những “vần thơ thương nhớ gửi người chiến binh…” – Vần Thơ Thương Nhớ (Ly Tao xuất bản).

Bên Hãng dĩa Sóng Nhạc, cô Ánh Tuyết đã thâu thanh bài Đại Lộ Hoàng Hôn (theo thể điệu Slow Rock) của nhạc sĩ Y Vân khoảng năm 1961, với hòa âm và ban nhạc Võ Đức Tuyết.

“Ngày xanh thì khuất dần
Chiều rơi nhuộm tóc vàng
Mà trong lòng thấy còn thiếu tình thương…”

(Đại Lộ Hoàng Hôn, Diên Hồng xuất bản 1962)

Trong băng Premier đầu tiên của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông (mở đầu loạt băng mang nhãn hiệu Premier), chú có mời cô Ánh Tuyết thâu cho chú bài Ánh Đèn Mầu trong băng nhạc mang chủ đề: Buồn Trong Kỷ Niệm. Và bài hát đầu tiên trong băng nhạc nầy là Sao Anh Nỡ Đành Quên của nhạc sĩ Tô Thanh Tùng, người tác giả cũng vừa qua đời tại Việt Nam.

Bài Ánh Đèn Mầu (Lời Việt của Nguyễn Xuân Mỹ, do An Phú xuất bản) gợi nhiều hình ảnh và không khí của các phòng trà – vũ trường ngày xưa, khi màn đêm buông xuống:

“Màn đêm buông dần xuống, ánh đèn bừng lên
Là em đem điệu hát cho người vui thêm…”

Và nói về đời người nghệ sĩ “đêm đêm đem lời ca tiếng thơ, đời ca hát cho người mua vui” rồi năm tháng qua nhanh, “ánh đèn lặng tắt”, người ca sĩ về già ngậm ngùi trong lãng quên của tình đời:

“Đời em đã là món quà quý đẹp trong làn mắt của ai
Mà khi nếp nhăn vùi theo tháng năm đời chóng quên dần…”

Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong Hồi Ký rằng: “Vào khoảng năm 1960, một nữ ca sĩ nổi danh trong thời đại là Ánh Tuyết ở Saigon lại hát một bài gọi là Ánh Đèn Mầu do Khuyết Danh soạn lời Việt theo điệu Eternally trong một băng Cassette của nhà xuất bản Premier mà chủ nhân là nhạc sĩ Phượng Linh (Nguyễn Văn Đông)…”

Ở bài Kiếp Ve Sầu của nhạc sĩ Lam Phương mà cô Ánh Tuyết là ca sĩ đầu tiên đã hát bản nầy, cũng nhắc về một kiếp cầm ca lẻ bóng:

“Biết cho chăng những kiếp người mang kiếp cầm ca lạc loài
Cuộc đời chỉ mua vui cho ai
Riêng bóng trong đêm dài lẻ loi…

Suốt đêm thâu cùng ánh đèn
Dâng khách an nhàn một vài nếp sống yên vui…”

(Kiếp Ve Sầu, Tinh Hoa Miền Nam xuất bản)

Báo Kịch Ảnh số phát hành tháng 6 – 1963 có viết về cô Ánh Tuyết và nhạc hội Trăm Hoa Nghệ Thuật của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với tựa rằng: “Ban hợp ca Thăng Long, ca sĩ Ánh Tuyết sáng chói nhất chương trình.”

Trong cuộc sống gia đình, cô Ánh Tuyết kết hôn lần đầu với ông Tôn Thất Tu, một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, có bốn người con. Đến năm 1966, Cô tái giá với một sĩ quan người Mỹ (và cũng là một khán giả ái mộ Cô) và sau đó, cùng chồng rời Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ, chấm dứt con đường ca hát nhiều vinh quang cùng ánh đèn màu. Từ đó, Hoàng Oanh không còn nghe tin Cô có hoạt động văn nghệ nào thêm nữa.

Có những ca sĩ Miền Nam giải nghệ khi đang trên đỉnh cao sự nghiệp là danh ca Ánh Tuyết, Lệ Thanh…

Và cũng như cô Khánh Ngọc, chị Bạch Yến và Kim Loan, cô Ánh Tuyết cũng đã có mặt tại Hải Ngoại trước khi biến cố 1975 đổ đến.

Thời ra Hải Ngoại, nhớ về giọng hát Ánh Tuyết, nhà văn Hồ Trường An trong cuốn sách Chân Dung Những Tiếng Hát (quyển 2) viết rằng:

“Trong các hàng ngũ nữ ca sĩ Tân nhạc từ cổ chí kim chỉ có Bích Thủy, Ánh Tuyết, Thùy Nhiên và Quỳnh Giao là có giọng kim. Nhưng giọng Ánh Tuyết ngọt ngào và lảnh lót nhất, tuy nhiên không điêu luyện bằng giọng của Bích Thủy thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh và giọng của Quỳnh Giao sau nầy. Vả lại chuỗi ngân của chị bén nhọn như răng cưa. Lạ một điều, giọng chị một khi cất cánh phụng hoàng bay vút lên cao tới nốt Sol trên thì tiếng hát vẫn ngọt lại còn vạm vỡ hơn, chuỗi ngân mướt hơn và rung từng lượn nhỏ mềm mại hơn. Đây là giọng rung ngời ánh sáng, ngát lịm âm ba vang xa. Một giọng hát đẹp tuyệt như tấm gấm đại hồng thêu hoa mặt nguyệt bằng ngân tuyến xen kim tuyến. Khi được phơi trên sào thì gấm bay phất phơ trong nắng đẹp gió hiền, làm sóng sánh ánh phản chiếu chói hồng, làm nhấp nháy nét thêu trên mặt nguyệt. Cho nên Ánh Tuyết lựa những bản có chỗ lên cao để hát như Mộng Đẹp Ngày Xanh của Hoàng Trọng, Tiếng Dương Cầm và Mưa Trên Phím Ngà của Văn Phụng, Em Gắng Chờ của Huỳnh Anh. Riêng bản Màu Tím Hoa Sim của Trịnh Hưng do chị hát được thu vào dĩa Việt Thanh, cũng có chỗ lên khá cao. Còn bản Tình Cố Đô của Lam Phương được chị hát bằng giọng ngậm ngùi và cách ngân dài ở câu trên theo lối ngân tự do, theo tùy ý để rồi chuyền qua câu sau mà không cần ngắt hơi.

“Ôi, ta xa kinh đô vì nghiệp nước
Phải giang hồ…”

Chị ngân kéo dài ở chữ “nước” và bắt qua câu “phải giang hồ” thật tài tình, giọng ngân bỏ nhỏ như đẫm lệ, như ướp bằng máu thắm con tim. Chưa ai diễn tả bài Tình Cố Đô của Lam Phương tuyệt vời bằng Ánh Tuyết.

Tôi còn nhớ một ngày Nguyên Đán nào đó vào một trong bốn năm cuối của thập niên 50, tôi được nghe Ánh Tuyết hát bài Xuân Ly Hương của Phó Quốc Lân mà buồn rũ cả một buổi Nguyên Đán xán lạn bên khung cửa sổ ngó ra dòng sông Long Hồ (Vĩnh Long) lênh láng nước trong…”

Và Hoàng Oanh có một kỷ niệm đáng nhớ với cô Ánh Tuyết là vào năm 2006, khi nhạc sĩ Xuân Tiên từ Úc sang Hoa Kỳ thu hình cho chương trình Paris By Night 83 (Hoàng Oanh đã trình bày bài Mong Chờ của bác trong chương trình nầy), bác Xuân Tiên có nhờ Hoàng Oanh chở bác đến thăm cô Ánh Tuyết theo địa chỉ bác đưa (ở Quận Cam, California). Đến nơi, Hoàng Oanh được dịp gặp và thăm Cô. Năm đó, dù cô Ánh Tuyết đã hơn 70 nhưng vẫn rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Rồi sau đó, bẵng đi một thời gian, Hoàng Oanh không còn được gặp Cô nữa. Cho đến bây giờ thì Cô đã ra đi, hội ngộ với các ca sĩ của ngày xưa: Trần Văn Trạch, Minh Trang, Mộc Lan, Thái Hằng, Châu Kỳ, Mạnh Phát…

Hôm nay, để tưởng nhớ đến Cô, người nghệ sĩ đã có thời gian dài cống hiến cho người đời những ca khúc đẹp nhất của Tân nhạc Việt Nam. Hoàng Oanh xin mời quý vị cùng nghe một bài hát Cô đã thu thanh trong băng Premier thuở xa xưa: ÁNH ĐÈN MẦU.

Và đây cũng là một nén hương tưởng nhớ đến Cô. Kính chúc cô Maria Hoàng Bạch Tuyết (danh ca Ánh Tuyết) sớm về hưởng nhan Thánh Chúa đời đời.

Tháng 7 năm nay, một ÁNH đèn màu đã vụt tắt, như hạt mưa TUYẾT tan vào nắng mai, để lại trong lòng chúng ta những thương nhớ lâu dài.

“Chim trời theo gió
Biết nơi đâu đâu mà ước mong
Cung đàn thầm rơi, rơi mãi tiếng tơ lòng…”

(Tà Áo Cưới, Tinh Hoa Miền Nam phát hành)

Vĩnh biệt cô Ánh Tuyết, tiếng hát Thu vàng.

California, July 2017
Hoàng Oanh

Tư liệu tham khảo:
- Nhật báo Người Việt
- Chân dung những tiếng hát (Hồ Trường An)
- Hồi ký Phạm Duy
- Các báo Kịch Ảnh trước 75

Hình ảnh cô Ánh Tuyết trên một bìa nhạc ngày xưa.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Trump đang làm cách mạng ở HK-Bao giờ giới trẻ VN viết trang sử mới- July 25, 2017

Hoàng Lan Chi

TRUMP ĐANG LÀM CÁCH MẠNG TẠI HOA KỲ

BAO GIỜ GIỚI TRẺ VN VIẾT TRANG SỬ MỚI?

Ngày 22/7/2017 tại lễ bàn giao Hàng Không Mẫu Hạm USS Gerald R. Ford trị giá 13 tỷ, Trump đã gửi “Thông điệp 100.000 tấn”.

Nhiều người rất thích trước bài viết ngắn, thật ngắn của tôi vì câu nói của Trump “Ở bất cứ nơi nào mà chiếc tàu này đi ngang qua chân trời, đồng minh của chúng ta sẽ an tâm và kẻ thù của chúng ta sẽ run sợ vì mọi người đều biết rằng Mỹ đang tới và Mỹ đang tới một cách oai phong," Và chỉ có thể là “Thắng, Thắng và Thắng”!

Không chỉ công dân Mỹ thích mà nhiều công dân Úc, Pháp, Canada… cũng thích.

Tại sao vậy? Tại vì đó là sức mạnh của khối Tự Do, chống lại với Nga Cộng, Tàu Cộng và Hàn Cộng (ba tên đầu sỏ của khối cộng).

Sức mạnh ấy chỉ có thể có ở Hoa Kỳ. Không một quốc gia nào như Canada, hay Pháp, hay Đức có thể có được sức mạnh ấy. Giản dị là Thượng Đế đã đặt để trách nhiệm đó lên vai Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Không phải tự nhiên mà Thượng Đế đã đặt để những đầu óc vĩ đại được sinh ra ở Hoa Kỳ và các đầu óc này đã đặt nền móng cho dân chủ từ thuở lập quốc của Mỹ. Không phải tự nhiên mà những tài năng khắp thế giới có nguồn gốc Do Thái, Đức, Pháp, Anh, Canada, Nhật, Ấn độ v.v. đã di cư đến Hoa Kỳ để cùng đóng góp cho những tiến bộ khoa học vĩ đại.

Không phải tự nhiên mà quốc gia này có những tài nguyên phong phú.

Sức mạnh quân sự của Mỹ không chỉ là kết quả của người Mỹ da trắng mà còn là kết quả của những giòng máu Do Thái, Đức, Anh, Pháp, Canada, Nhật, Vietnam …làm nên khi những đôi chân này giong ruổi trên khắp các vùng đất Hoa Kỳ. Tôi phải kê cả Việt Nam vào đó vì tôi nhớ đến phát minh của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và nhóm của cô. Đó cũng là sự đóng góp của một giòng máu Việt vào “SỨC MẠNH CỦA HOA KỲ”.

Câu nói của Trump đẹp đẽ biết bao khi nhắc nhở rằng ở nơi nào mà Hàng Không Mẫu Hạm này đi qua thì các đồng minh sẽ yên tâm và kẻ thù phải run sợ. Mỹ đang tới và tới hết sức oai phong!

Vâng, ngược dòng lịch sử cùng nhớ lại Thế Chiến Thứ Hai để thấm thía câu nói ấy: Mỹ đang tới và đồng minh hãy yên tâm.

Hãy nghe hai mẩu chuyện nhỏ về lịch sử để nhận thức rõ Mỹ Tiến Tới Ra Sao

Một, vào đầu thập niên 60s, trong cuộc họp với các nhà lãnh đạo Châu Âu để thỏa hiệp sống chung hòa bình với các nước CS Đông Âu. Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle muốn lấy lòng CS nên đã đơn phương quyết định rút ra khỏi Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương ( NATO). De Gaule nói “Quân Đội Hoa Kỳ PHẢI RÚT RA KHỎI NƯỚC PHÁP CÀNG SỚM CÀNG TỐT”. Ngoại Trưởng Rusk nhìn thẳng vào mặt Tổng Thống De Gaulle từ tốn hỏi "Thưa Tổng Thống! lệnh này có bao gồm luôn cả các Quân Nhân Hoa Kỳ từng được chôn cất tại đây hay không?" (Ghi chú: lính Mỹ tử trận tại Pháp rất nhiều khi giúp Pháp chống Đức Quốc Xã). Im lặng bao phủ.

Hai, cụ già Người MỸ 84 tuổi , Robert Whiting tới Paris bằng phi cơ. Vì già cả chậm lụt, nên cụ phải mất thời gian lục tìm sổ thông hành. Nhân viên di trú cự và hỏi cụ có biết phải chuẩn bị sẵn passport không. Cụ nói «Trước đây khi đến Pháp, tôi không cần phải xuất trình Sổ Thông Hành gì hết cả". Nhân viên di trú nổi nóng cự «Chuyện vô lý, người Mỹ bao giờ cũng phải xuất trình Sổ Thông Hành khi tới Pháp". Cụ Whiting đưa mắt nhìn nhân viên Di Trú thật lâu rồi nhẹ nhàng giải thích "Thật vậy sao! Trước đây khi tôi đổ bộ lên bãi biển OMAHA nước Pháp trong ngày D Day năm 1944 để giải phóng nước Pháp thoát khỏi sự thống trị của Đức Quốc Xã, TÔI ĐÃ KHÔNG TÌM THẤY MỘT NGƯỜI PHÁP NÀO Ở ĐÓ ĐỂ MÀ TRÌNH SỔ THÔNG HÀNH CẢ". Im lặng bao phủ.

Chuyện xưa là thế đó.

Chiến lược toàn cầu sẽ thay đổi tùy giai đoạn và TT Mỹ luôn đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên hết. NHƯNG với những ai là đồng minh thì Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng TIẾN TỚI, TIẾN RẤT OAI PHONG VÀ SẼ CHIẾN THẮNG.

Nhật, Đài Loan, Đại Hàn, Úc đã mau chóng đưa bàn tay thân ái ngay sau khi Trump đắc cử tổng thống thứ 45.

Rồi tiếp theo là Saudi Arabia, là Do Thái, là Ba Lan.

Mới nhất là Macron với hình ảnh “chạy” lại đứng cạnh Trump ở G20, sự đón tiếp dành cho Trump trong Juillet 14th, cho thấy nước Pháp với nền kinh tế ấy, với khối dân chúng kiểu ấy, thì Macron đã rất khôn ngoan khi chọn Mỹ là đồng minh.

Nhiều năm xưa Mỹ đã đổ máu vì Pháp. Năm nay Hàng Không Mẫu Hạm xuất hiện là một bảo đảm cho nền độc lập của xứ sở từng một thời nổi danh là kinh đô thế giới.

Bà Merkel sẽ hành xử ra sao để bảo đảm cho nước Đức thân yêu của bà?

VNCS rất muốn chọn Mỹ nhưng khốn khổ thay, số phận VNCS đã không cho phép VN được quyền tự do chọn lựa đồng minh mạnh nhất. Cái “số phận” ấy là kết quả từ sự chọn lựa ngu xuẩn trước kia của Hồ Tặc. Muốn thay đổi “số phận” này, giới trẻ VN hãy mau chóng kết hợp cùng với công an, quân đội và làm lịch sử. Có như thế, các bạn và con cháu các bạn mới được sống trong một xã hội tự do-dân chủ như chúng tôi đang được hưởng ở Mỹ.

Chiếc bánh Tự Do- Dân Chủ đẹp đẽ vô ngần không từ trời rơi xuống. Nó phải được làm từ chính người Việt trong nước với sự hỗ trợ của người Việt tha hương.

Trump đang làm cách mạng cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Chần chờ gì nữa? Giới trẻ VN cũng hãy làm cách mạng cho quốc gia của mình!

Hoàng Lan Chi

7/2017

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Gọi Tên Các Giọng Hát- july 22, 2017

GỌI TÊN CÁC GIỌNG HÁT

Không biết ai là người đầu tiên ở VN gọi tên cho các giọng hát? Phải chăng là Mai Thảo gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Vượt Thời Gian. Sau đó là Con Chim Vàng Mỹ Tho (Hoàng Oanh), Nhạn trắng Gò Công ( Phương Dung) Tiếng Hát Học Trò ( Thanh Lan). Và còn ai nữa mà tôi không nhớ nhỉ?

Cá nhân tôi yêu thích tiếng hát Hà Thanh nhất là khi HT hát nhạc về Huế hay nhạc của Nguyễn Văn Đông. Trong các “nhạc lính” tôi yêu giòng nhạc Nguyễn Văn Đông nhất vì tính cách “sang cả” và “hào hùng”. Tiếp đó là giòng nhạc Trần Thiện Thanh vì tính chất tình tứ, lãng mạn. Vì yêu thế nên khi được tin chị Hà Thanh trên giường bệnh vào 2014, tôi đã viết “Hà Thanh, Tiếng Hát Hoa Đào”. Trong đó tôi cũng giải thích vì sao tôi đặt tên như thế cho giọng hát Hà Thanh.

THÁNG BẨY 2017

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa đăng lại bài viết về ca sĩ Quỳnh Giao nhân kỷ niệm ba năm ngày giỗ của hiền thê của ông.

Trong dịp này, một bạn, ô Marc Vũ, nhắc lại rằng Phạm Duy gọi QG là “tiếng hát thủy tinh”. Ô Nghĩa đính chính đó là cô Châu Hà. Ông Marc Vũ không chịu. Ông kể lại chuyện từ đâu mà Phạm Duy gọi QG như thế và cô Châu Hà chỉ là “nhắc lại” mà thôi. Tôi nghĩ có lẽ Marc Vũ đúng hơn.

Bàn về giọng hát Quỳnh Giao thì tôi cho rằng tôi nghiêng về Nguyễn Ngọc Sơn hơn khi Sơn gọi Qg là “Tiếng Hát Thiên Sứ”. Phạm Duy đặt “Tiếng hát thủy tinh” thì cũng hay nhưng theo tôi chưa lột tả được hết tinh hoa trong giọng hát QG.

Xuân Nhu thấy bàn luận thế thì “dè dặt” đề nghị gọi Khánh Ly là “Tiếng hát hoa Anh túc”. Ông Xuân Nhu đã quên rằng ông nên giải thích vài giòng vì sao ông đề nghị vậy. Còn cá nhân tôi thì tôi “trêu” ô Xuân Nhu vầy: tôi “không dè dặt” gì cả mà nói thẳng rằng vì TCS là tên phản bội nên tôi không nghe Khánh Ly nhiều. Với tôi, giọng Khánh Ly không có gì đặc biệt hay quyến rũ. Hơi thì ngắn. Giọng ngang phè phè. Không lên cao được ở những nốt cao. Chính vì cái hạn hẹp ấy của Khánh Ly mà KL chỉ có thể hát nhạc TCS.

Nhạc TCS là một loại nhạc không cao về nhạc thuật, rất dễ cho mọi người già trẻ lớn bé nghêu ngao. Trong khi đó thì vài bài của Phạm Duy chỉ có vài người là có thể hát hay như Thái Thanh, Hà Thanh, Quỳnh Giao (Đường Chiều Lá Rụng). Khánh Ly không bao giờ “với tới” được những nhạc phẩm “cao” như thế.

Tôi gọi Khánh Ly là “tiếng hát đoản mệnh”! ( vì cái hơi ngắn và thấp).

Để gọi tên cho một giọng hát có lẽ cần xem vài yếu tố sau: giọng hát đó khiến người nghe liên tưởng đến cái gì ( tiếng hót của loài chim nào, vẻ đẹp của loài hoa nào) ; hoặc giọng hát đó đặc biệt đến nỗi SẼ không bao giờ tàn phai với thời gian; hoặc tượng trưng cho nơi sinh quán của ca sĩ.

Cá nhân tôi thích hoa hơn chim nên tôi ưa thích ví von giọng hát nữ ca sĩ với các loài hoa.

Loài hoa nào xứng với giọng hát ngọt ngào như mật của Ngọc Lan nhỉ?

Hoàng Lan Chi

7/2017

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Nguyễn Khắc Phước- Tìm Hiểu về Các Loại Tiền của VN- July 19, 2017

LGT: bài khảo cứu về các loại tiền của VN xưa. Rất hay và có giá trị.

Đi Chợ Tính Tiền- TIỀN VN XƯA

anhtet-baophapluat_TLCQ.jpg.ashx?width=620

Hình internet

" Đi chợ tính tiền "là một bài ca dao lục bát. Bài đã được in làm Bài Học Thuộc Lòng cho học sinh lớp "sơ đẳng" (tức lớp 3) trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư năm 1948. Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về, phải trình bày minh bạch, rõ ràng việc chi tiêu với chồng.

Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa, đồng thời nêu bật tính đảm đang, vén khéo của người phụ nữ xưa… sau đó yêu cầu học sinh học thuộc. Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ, có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958, chưa được vào trường công lập, người viết học với Ông giáo… ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn, không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?) đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.

Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng… một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thưở ấy. Bèn tìm giấy giải thử. Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn.

"Một quan tiền tốt mang đi". Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ, những người muôn năm cũ giờ không còn, biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:

Một quan là sáu trăm đồng.
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.

(Thơ của Nguyễn Bính) Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia, đảo xuôi ngược, lên xuống… mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền!

Lại phải đi tìm trong lịch sử. Trong một ngàn năm Bắc thuộc, dân Việt không có đồng tiền riêng. Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt. Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo.

Đơn vị để tính tiền xưa gồm có: quan, tiền, đồng. Mỗi quan có giá trị là 10 tiền, mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại. Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:

1/ Năm 1225, vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 70 đồng.

2/ Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 50 đồng.

3/ Năm 1439, vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng. Như vậy 1 quan = 10 tiền = 600 đồng.

Từ đó các triều đại về sau, mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này, cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.

Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo. Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.

Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.

ĐI CHỢ TÍNH TIỀN

Một quan tiền tốt mang đi, 600
Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.

Thoạt tiên mua ba tiền gà,

3×60 = 180

Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.
60+30+3 = 93

Trở lại mua sáu đồng cau, = 6

Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng.
(1,5×60)+10 = 100

Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi.

60+30+6 = 96

Ba mươi đồng rượu chàng ơi, = = 30
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.

30+20 = 50

Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn, kẻo chàng hồ nghi.

2×7 = 14

Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè, = = 21

Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan. = Cộng 10

= 600 chẵn

hinh-12-1435374884.jpg

Hình internet

Trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau:

"GIẢI NGHĨA:
Tiền tốt = tiền tiêu được.
Vàng = đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.
Hồ nghi = ngờ vực, không biết rõ".

Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu, dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán… là chuyện đương nhiên.

Nhưng sao gọi là tiền tốt? Một bài ca dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.

Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm. Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm.

Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:

Sao nói rằng năm chỉ có ba.
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

Chiêu Hổ họa lại:

Rằng gián thì năm, quý có ba.
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Trong bài hoạ của Chiêu Hổ có chữ gián và quý. Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã "có công tất… chồng không phụ", kết quả đã tìm được:

Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1 quan quý = 600đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng. Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan:

Quan quý: 3×600 =1800 đồng
1800:360 = 5 quan gián

Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng.

- Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.

- Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.

- Lính, thơ lại, phục dịch… lương mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo. Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ… quan ra để mua phẩm hàm, chức tước… để được làm quan!

Chẳng trách người phụ nữ "thời xưa" (tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh quy về làng… cùng nhau trải trọn trong một đêm trăng!

Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền TỐT" mang đi. Tiền tốt chính là tiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn.

Cũng thấy được, người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây!

Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử… Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến… đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo!

Ng Khắc Phước
-http://www.cuuhocsinhtranquycaphoian.com

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phạm Duy nói về Thái Hằng

Hồi ký Phạm Duy nói về Thái Hằng :

Vào đầu năm 1949, sau khi tất cả mấy anh em Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung), Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Băng Thanh (tức Thái Thanh) đã gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên Khu IV rồi thì hai ông bà Thăng Long cũng rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hoá để được sống gần gũi các con.

Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, cách làng Ngò khoảng vài cây số, thuê lại căn nhà lá của một nông dân tên là Cò Mại và mở một quán phở vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Chợ Neo là một chợ quê rất bé, trước kia chỉ có lèo tèo vàigian nhà trống dùng làm nơi họp chợ của dân điạ phương, bây giờ thì có thêm khoảng trên hai chục cửa hàng là những túp nhà lá do dân di cư’ dựng lên. Quán Thăng Long nằm ở ngay trước mặt một ngôi chùa nhỏ, chung quanh chùa có đào nhiều hố tránh máy bay.

Vì cùng là đội viên của đoàn văn nghệ quân đội và vì không có ai là người quyến thuộc cho nên vào những ngày nghỉ, tôi thường hay theo Phạm Đình Viêm và Thái Hằng về chơi quán Thăng Long.

Đã quen biết hai ông bà từ ngày ở Chợ Đại cho nên tôi được ưu đãi. Tôi được ăn uống, nghỉ ngơi và ngủ luôn tại quán, giường ngủ là hai cái bàn trong quán ăn kê xát lại nhau. Cùng với Viêm, Chương, Thái Hằng, Băng Thanh, chúng tôi ngồi đàn hát với nhau suốt ngày hoặc cùng với đội viên của đoàn văn nghệ đóng quân ở gần đây, kéo nhau ra sông máng để tắm táp, bơi lội.
Khi nhìn thấy mấy cô trong đoàn mặc maillot de bain nhẩy plongeon xuống nông giang thì bộ đội đi hành quân trên bờ đê đã… điên lên.
. . .
Khi còn ở Chợ Đại, tôi cũng thoáng biết tới cô con gái lớn của Quán Thăng Long, được nghe cô đánh đàn guitare hawaiwenne và hát chung với mấy người anh, nhưng lúc đó tôi không năng tới quán ăn này để tán tỉnh nàng – như thường lệ mỗi khi gặp bất cứ người đẹp nào – bởi vì tôi còn đang quá bận bịu với những chuyện vui chơi của tôi.

Vả lại lúc bấy giờ cũng có khá nhiều cây si được trồng tại quán Thăng Long. Các chàng si này, nếu phải mài kiếm dưới trăng để so kiếm, lại toàn là những tình địch trong nghề như Đinh Hùng, Huyền Kiêu, Bùi Xuân Phái, Ngọc Bích…
Vào tới Khu IV, tuy cùng hoạt động chung với nhau trong đoàn văn nghệ, nhưng tôi và Thái Hằng chỉ là hai người bạn đồng đội và sống riêng biệt.

Mới đầu tôi chỉ thấy Thái Hằng là người hiền lành, xinh xắn, dễ thương nhưng ít vui và rất hà tiện trong sự biểu lộ tình cảm.
Nay được ở gần nàng luôn luôn và vì tôi là người lém lỉnh cho nên nàng không thể im hơi lặng tiếng được nữa. Thế là chuyện này chuyện nọ được trao đi đổi lại như giữa bất cứ một đôi trai gái nào.
Rồi sau khi những chuyện thông thường đã mòn, chúng tôi nói tới chuyện riêng. Tôi hiểu được vì sao nàng luôn luôn là một vẻ buồn.

… Vào năm 1945, Thái Hằng đã đính hôn với một sinh viên trường Luật tên là Trần Văn Nhung (bạn đồng học của TrầnThanh Hiệp). Anh Nhung này là bạn thân thiết của Nguyễn Thiện Giám, anh họ của Thái Hằng.

Anh Giám là con trai độc nhất của bà bác ruột, một goá phụ, và là người làm mối Trần Văn Nhung cho Thái Hằng. Trong gia đình Nhung có mấy người anh đi theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, còn Nhung thì vào đầu thập niên 40, cũng như rất nhiều thanh niên khác, anh tin rằng Nhật Bản thực sự muốn giúp cho Việt Nam thoát ra khỏi ách thực dân Pháp.
Cảm tình của anh đối với Nhật Bản còn khiến cho anh được tặng một học bổng để đi du học nhưng anh chưa kịp đi thì xẩy ra vụ đảo chính ngày mùng 9 tháng 3, 1945.

Trước giờ đảo chính không lâu, một sĩ quan Nhật tới một buổi họp của sinh viên Hà Nội do họ triệu tập cấp bách để hỏi xem có ai là người xung phong cùng đi với lính Nhật vào hạ thành Hà Nội" Những người này sẽ được dành cho danh dự đặc biệt là tự tay giật lá cờ tam tài của Pháp xuống.

Mọi người còn đang im lặng vì do dự thì Trần Văn Nhung và một sinh viên đã đứng lên nhận lời mời của Quân Đội Nhật. Hai sinh viên này đi tiên phong trong đám lính Nhật và bị bắn chết ngay trên bờ tường thành Cửa Bắc trong phút đầu tiên của vụ đảo chính. Sau đó một hai ngày, Nguyễn Thiện Giám cũng bị thảm sát trong một trường hợp khác.

Cái chết của Giám đã làm cho mẹ anh phát điên. Ngày 11 tháng 3 năm 45, một buổi lễ truy điệu những người đã hi sinh cho nền thịnh vượng chung của Đại Đông Á được tổ chức rất long trọng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Thái Hằng đầu chít khăn trắng tới dự lễ truy điệu này. Mẹ nàng cũng tới, thay mặt cho bà bác đã phát điên.

Cái chết của vị hôn phu và của người anh họ đã ảnh hưởng rất lớn vào Thái Hằng.
Trong suốt một năm còn ở trong thành phố, kể từ ngày Nhung được chôn cất, Hằng tuần nàng mang hoa tới đặt trên mộ và ngồi khóc.
Đi theo gia đình ra vùng kháng chiến, nàng vẫn mang theo tấm ảnh và tập nhật ký của người đã chết.

Sau này, nàng sẽ cho tôi biết là trong ba năm ấy, đã có nhiều chàng trai đến với nàng nhưng nàng không thấy ai như Trần Văn Nhung cả. Những chàng trai đó – mà tôi cũng quen biết – đối với tôi, đều là những người đáng yêu, đáng kính nhưng tôi ngờ rằng họ không biết tới chuyện riêng của nàng hoặc nếu có biết đến thì chắc rằng cũng chỉ biết vậy mà thôi.

Tôi thì khác, tôi đóng luôn vai trò của một bác sĩ phân tâm học. Hằng ngày tôi gợi chuyện cũ cho nàng nói. Nói cho thật nhiều, nói cho vơi đi và chắc chắn sẽ có thể nói cho hết đi.
Và tôi cũng thật lòng xưng tụng thái độ anh hùng của Trần Văn Nhung, sự chung tình của Thái Hằng khi vẫn thờ hình ảnh của vị hôn phu trong lòng.

Khi nàng cho biết Trần Văn Nhung sinh ngày mùng 10 tháng 5 năm 1921 thì tôi bảo tôi cũng sinh năm 1921 và vào ngày mùng 5 tháng 10, gần giống y chang đó nhé. Khi nàng nói Trần Văn Nhung cận thị, người dong dỏng cao và có mang một biệt hiệu là Chung Tử Kỳ thì tôi bảo tôi đây cũng là Bá Nha, cũng đeo kính nhìn gần và dáng người của tôi thì có lùn gì đâu"

Nàng đã có lúc buột miệng nói rằng: trông tôi cũng hao hao giống Trần Văn Nhung, thế là khá rồi đấy. Để cho có thêm nhiều sự trùng hợp, tôi cho nàng biết tôi cũng có liên hệ với vụ Nhật đảo chính.

Chuyện tôi may cờ Nhật rồi bị Tây bắt ở Cà Mâu. Cũng trong một ngày, ở hai nơi xa lắc, hai người cùng tuổi, vóc dáng hơi giống nhau, cùng bị lùa vào tấn bi hùng kịch hay bi hài kịch chính trị. Cả hai đều được đẩy đưa một cách êm du vào một người con gái. Là phép lạ hay là số mệnh đây"

Cuối cùng, để cho nàng có cảm tưởng tôi là người có thể thay thế được Trần Văn Nhung, tôi cũng là một chàng trai cũng có nhiều can đảm lắm: tôi sẽ xung phong đi vào Bình-Trị-Thiên trong sáu tháng, khi trở về mới làm lễ cưới.

Ngoài ra, tôi cũng phác hoạ cho Thái Hằng – qua những truyện kể, qua những bản nhạc – thấy được sự lớn lao của cuộc chiến đấu hiện đang diễn ra Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút… tại khắp mọi nơi trong nước, với vinh quang ngụt trời và đau khổ vô biên để cho nàng thấy rằng nỗi niềm của một cá nhân rất là bé bỏng trước sự vĩ đại của cuộc sống trước mặt.

Đến với Thái Hằng, tôi còn có một ưu điểm mà người khác có thể không có, đó là cái tài mọn của tôi trong âm nhạc. Tài nghệ nhỏ nhoi này cũng đã được nhiều người công nhận, từ Tướng Tư Lệnh Nguyễn Sơn rất giỏi về văn nghệ, qua những nhà văn hoá lão thành như Đặng Thái Mai, Nguyễn Đức Quỳnh… tới đông đảo quần chúng là bộ đội hay dân quê nhưng nó chỉ xuyên qua loại nhạc hùng có ích lợi cho kháng chiến mà thôi. Tôi gọi đó là cái tài hùng (!)

Riêng đối với Thái Hằng, bây giờ tôi trổ luôn cái tài hèn ra là việc soạn nhạc tình và soạn lời Việt cho nhạc cổ điển.

Thái Hằng có một giọng hát rất dịu dàng, hiền hoà, hợp với tính tình của nàng. Tôi đệm đàn cho Thái Hằng hát những bài hát tiền chiến trong đó có một bài hát của Lương Ngọc Châu nhan đề Ải Mai Pha rút ra từ một vở tiểu-ca-kịch nào đó của nhạc sĩ này. Đây là lời than khóc của một thiếu nữ trước cái chết của vị hôn phu mang tên là Đoàn Thăng.

Sau khi đẩy đưa cho nàng trút hết tâm sự ra qua bài hát ở nơi buồng hồng tang vắng và có lệ nồng khăn trắng này, tôi soạn Đêm Xuân cho Thái Hằng, để thay mặt cho đàn chim, báo tin cho nàng biết rằng: Xuân đã về trong giấc mộng… Em cứ việc yêu câu hát buồn đang lả lướt trong màn trăng…nhưng xin em hãy yêu luôn cả trời thanh vắng đã đón đưa em tới chàng…

Hồn em chùm đêm tối
Tình em còn chơi vơi
Lòng em yêu rồi xin đừng nhạt phai.
Đừng nhạt phai…

Trong những bài hát của tôi soạn ra từ trước tới nay, đây là lần thứ sáu tôi nói tới cây đàn. Khi trước là cây đàn bỏ quên côi cút, là tiếng đàn tôi, tiếng đàn chết chóc trên đường dương thế xa vời, là tiếng đàn trầm vô tư bên chiếc cầu biên giới, là cung đàn thờ ơ của tình kỹ nữ hay là cung đàn Nam Thương, Nam Ai thở than của khối tình Trương Chi. Bây giờ là tiếng đàn báo tin Xuân đã về và hạnh phúc đã tới.

Tiếng đàn đêm ấy sẽ ru trái tim này:
Chưa quen nhau lúc đầu
Em nghe theo tiếng sầu
Ôi khúc ca nuôi mối tình muôn sắc mầu.
Em phôi pha tháng ngày
Vì lúc trăng về đây có đàn đêm ấy
Đã ru trái tim này.
Hồn em tìm nương náu
Tình em chờ thương đau
Lòng em chưa tàn, xin đừng phụ nhau.
Đừng phụ nhau…

Trong kháng chiến – như tôi đã có dịp nói tới vấn đề này – cho tới lúc này, chúng tôi rảnh rỗi vô cùng. Không bao giờ chúng tôi phải làm nô lệ cho cái đồng hồ cả. Cuộc chiến cũng chẳng bao giờ trói tay chúng tôi vào nhiệm vụ.

Chúng tôi rất có tự do. Những ngày được về nghỉ ngơi tại Quán Thăng Long, vì nhu cầu của hai chị em tên là Thái và tên là Thanh, tôi soạn ra khá nhiều những lời ca tiếng Việt cho nhạc cổ điển Tây Phương. Lời lẽ trong những bài này cũng phản ánh ít nhiều mối tình của tôi đối với Thái Hằng.

Trong bài Dạ Khúc của Schubert, có những lời ca rất an ủi:

Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời
Cho người thôi khóc thương ai
Cho niềm yêu đến bên tôi.
Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu
Ru người qua chốn thương đau
Cho làn nước mắt chìm sâu.

Sau gần sáu tháng đi chung với nhau trong đoàn văn nghệ cũng như ở chung với nhau tại Quán Thăng Long và sau khi đã ôm được nàng vào lòng rồi, tôi chính thức hỏi Thái Hằng làm vợ.
Chuyện tình của tôi và Thái Hằng cũng như chuyện tôi hỏi vợ được nhiều người ở chung quanh biết tới. Đặc biệt có hai người nhiệt liệt tán thành cuộc hôn phối của chúng tôi là Nguyễn Sơn và Nguyễn Đức Quỳnh.

Khi tôi còn đang gặp một chút lưỡng lự nơi hai ông bà Thăng Long thì hai cán bộ chính trị và văn nghệ này nói vào cho tôi. Hơn thế nữa, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) là người anh lớn trong gia đình cũng vận động dùm tôi và cuối cùng ông bà Thăng Long ưng thuận.

Trong đời tình ái của tôi, đây là lúc tôi không còn là con bướm nhởn nhơ trước những nụ hoa dọc đường và vui thú với những cuộc tình dễ dãi nữa.

Bây giờ, tôi phải vận dụng tất cả khả năng thuyết phục của lý trí, khả năng rung động của con tim, khả năng hấp dẫn của cây đàn và khả năng lôi cuốn của tình trai…. để đẩy được một vị thần hay một bóng ma ra khỏi đời một người con gái, rồi lấy nàng làm vợ.
Bắt buộc là phải có một cái lễ ăn hỏi chứ. Kẻ đãng tử xưa nay bất cần đời nay đầu hàng lễ nghi gia đình và xã hội rồi. Sau khi chọn được một ngày tốt lành, bà Thăng Long ra chợ ở ngay trước mặt Quán Thăng Long mua một nải chuối, một buồng cau, một gói trà… Ngày lễ hỏi, bên nhà trai không có ai ngoài tôi ra, đành phải nhờ người em của điêu khắc gia Lê Thị Kim là Bạch Bích tới bưng hộ khay trầu.

Hôm đó, từ trong Quán Thăng Long đi ra tôi còn là một kẻ độc thân rồi tức khắc từ ngoài cửa đi vào, sau khi ra đứng lễ ông bà ông vải xong, từ nay trở đi tôi trở thành người chồng chưa cưới của Phạm Thị Thái Hằng. Một cái lễ hỏi nhẹ tênh, so với sự nặng nhọc và kiên trì của sáu tháng khổ công vận động của tôi.
Và phải đợi sáu tháng sau, khi tôi từ Bình-Trị-Thiên trở về, lễ cưới của đôi vợ chồng quê này mới được cử hành dưới sự chủ hôn của Tướng Nguyễn Sơn.

PHẠM DUY

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Sài Gòn Với Người Tình Già Trên Đầu Non- 2003

Tôi là nguời khoa học và chỉ coi mọi cái dính líu đến Văn học nghệ thuật như Văn,Thơ,Nhạc,Hoạ …là son phấn ! Trang điểm cho tâm hồn thêm duyên. Do đó , từ xưa, tôi không chú ý đến tác giả .

Điều tôi quan tâm là tác phẩm ! Nhưng khi về già, tôi lại quen biết một số tác giả , hoàn toàn từ ngẫu nhiên .Tôi gọi đó là duyên văn nghệ ! Như một tối tháng sáu . Saigon mưa nhè nhẹ . Tôi đến cà phê DTG . Bất chợt một giọng hát cao vút –và một bài hát tôi yêu : Nghìn trùng xa cách Nguời đã đi rồi Còn gì đâu nữa Mà khóc với cuời Mời nguời lên xe Về miền quá khứ Mời nguời đem theo toàn vẹn thương yêu … Tôi hơi ngạc nhiên.Vì biết nhạc PhamDuy bị cấm. Nhưng kệ, cứ thuởng thức. Sau đó tôi làm quen nàng , viết bài về quán cà phê , nơi nàng –nguời cũng yêu thích nhạc họ Phạm như tôi -đến hát hàng đêm-cho bạn bè nghe.

Bài viết đã khiến Nguời tình già , dù trên đầu non nhưng vẫn dõi nhìn về quê mẹ – thấy lòng xao xuyến. Việt Nam , vẫn còn vang những tình tự của ta ư ? Ông bèn viết cho tôi. Duyên văn nghệ từ đó . Tháng 7, Saigon vẫn mưa , ông về vào một ngày cuối tháng . Ông đã chọn khách sạn nằm trên con đường nhỏ , yên tĩnh gần bệnh viện Grall ngày xưa . Để rồi hàng ngày , thật chân chất, giản dị , với bộ đồ ba ba xám, ngồi quán cà phê cóc trên lề đường đối diện khách sạn, ông tiếp bạn bè ! Tôi thích vậy. Dân Saigon chính cống , chỉ nên ngồi cà phê vỉa hè …. Trứớc đó , với những lá mail duyên dáng , ông cũng làm tôi vui vui. Có một câu , tôi thích nhất .

Về VN, nghe giọng nói ông qua điện thoại, tôi ngạc nhiên.Với số tuổi ngoài 80 mà giọng nói vẫn rất khoẻ và ấm vô cùng. Đây là giọng đàn ông ấm thứ hai mà tôi nghe đuợc qua điện thoại ! Tôi mỉm cuời thầm nghĩ “hèn chi chàng hát hay !” Tuy bình dị với bà ba nhưng khi xuất hiện truớc bạn bè hay công chúng, ông vẫn đỏm dáng như tuổi thanh niên. Hôm Lưu Trọng Văn mời ông cùng chúng tôi đến nhà chơi, ông diện áo khoác xanh lè ! Chụp hình thì ông nổi nhất với mầu xanh ấy. Át cả Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý với mầu ao nhu nhã . Trên xe ông tâm sự :-Tôi về VN chẳng vì một lý do chính trị nào cả . Tôi yêu quê hương.Tôi đã già , tôi mong nhìn lại nơi tôi sinh ra, lớn lên và cả một đời ca hát cho đồng bào nghe. tôi đã 83, lần này như đi dối già ! Lúc ấy, tôi chẳng nghĩ gì . Đơn giản vì tôi sống ở VN, mọi thông tin không phải dễ dàng tiếp cận .Do đó tôi không biết đến ba không của hải ngoại : không du lịch, không gửi tiền và không mua hàng VN.. Tôi đã tức tối khi viết bài kêu gọi từ thiện cho nguời già neo đơn mà có một nick trên net chụp cho tôi cái mũ CS ! Nghe chữ dối già, tôi thấy rưng rưng. Tôi không biết gì về sinh hoạt văn nghệ hải ngoại và tôi đã tuởng từ sau 75, ông không sáng tác nhiều –như họ Trịnh. Tôi đã thầm tiếc. Một tài năng âm nhạc như thế mà đành chôn vùi cảm hứng sao ? Nhưng không, tại nhà Văn, chúng tôi nghe Mộng Thuỷ hát Trăm năm bến cũ .Rất hay. Lại một lần nữa, tài nghệ phổ thơ của ông đuợc phô bày . Sau đó vài ngày, tôi đã “dựng cổ “ Văn từ 6 giờ sáng, chỉ để chép bài thơ . Tôi ngỡ ông phổ nhạc môt bài của Văn. Ai ngờ , khi Văn đọc mới biết ông đã xào nấu” hai bài thành một bản nhạc ! Ông nói rằng, sự xúc động khi đọc giòng thơ Về thôi, nguời tình già ơi Nào đâu có trăm năm mà chờ Nào đâu có kiếp sau mà đợi đã khiến ông quyết định , về thôi – năm 2000 ! Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý đã kể lại vài câu chuyện bên lề của thuở cùng nhau kháng chiến. Vài nguời bạn Văn đến vào phút chót , phỏng vấn ông về âm nhạc VN bây giờ . Ông cẩn trọng, nói ít . Truớc khi về VN, ông mail “ sẽ có ngày tôi mời Lan Chi đến DTG và chúng ta hát với nhau , hát những lời quê hương..” Nhưng truớc khi ông về VN chừng hai ngày , tôi mail nhắc lại thì ông tỉnh bơ “ Thế không biết tôi là Phạm Cuội à ? Từ khi cô Hằng mất đi ,chú Cuội bơ vơ !” Rồi ông làm thế thật ! không báo truớc, ông cùng các con bất thình lình ghé quán DTG .Cô chủ bân dự sinh nhật nguời bạn. Được nhân viên báo tin, cô vội vã gọi phone cho tôi rồi về quán ngay. Tôi trang điểm qua loa và không quên nhét cái máy ảnh digiatal vào bóp . Cả gia đinh ông chiếm một bàn dài .Lúc tôi đến, găp Duy Quang ngoài cổng và đi luôn, không quay lại . Chỉ có Duy Cuờng và Duy Minh . Thấy tôi, ông giơ tay vẫy chào . Đêm ấy , nhạc họ Phạm đã đuợc mọi nguời hát tưng bừng .

Trong số khách , có nguời vô tình , có nguời đuợc bạn báo tin và đến …Tôi nghĩ rằng, vinh quang thì ông hẳn đã có nhiều . Nhưng với đêm ấy, tại quê nhà, nơi mà nhạc ông vẫn còn bị cấm nhưng ông đã đuợc mọi nguời hát thì hẳn là ông cảm động lắm ? Chị bạn, đã bỏ sinh nhật chồng, cũng đến quán. Chị nói với tôi “ Bác Duy có bao nhiều bài, tôi thuộc hết “ Chị cũng đã lên hát một bản .Hay ! Chị xin tôi chụp cho chị môt tấm.Tôi đùa “ giá 100US nhé “ Một bạn khoảng chừng ngoài 30 , rụt rè đến cạnh ông : -Thưa bác, ngày xưa, môt lần cháu đuợc nghe bản Chiều về trên sông của bác. Cháu mê mẩn và từ đó tìm nghe những nhạc phẩm khác của bác … Bác như là thần tượng của cháu !Tôi vẫn chiếm vị trí sau lưng ông nên nghe hết . Tôi mỉm cuời . Thần tượng ? tôi chưa tôn ai làm thần tượng bao giờ ! Anh bạn lên hát và cũng..rụt rè xin tôi môt tấm chụp chung với ông. Sau này, tôi đuợc biết anh là Kiến Trúc Sư . Một em trẻ , rất mode ở y phục và tóc nhuộm hoe vàng hát Kiếp nào có yêu nhau . Giời ạ ? tôi kinh ngạc ? một cậu bé , hát nhạc Phạm Duy quá hay ! cậu cũng xin tôi một tấm. Sau này tôi phỏng vấn. Hoá ra, cậu nghe theo cha mẹ từ bé nên cũng thích dòng nhạc Phạm Duy ! Một cặp khác cũng đến xin một tấm.Tôi là phó nhòm bất đăc dĩ hôm ấy. Duy Cường đã phải đề nghị mọi nguời hát nhạc khác kẻo bị công an chú ý ! Nàng-nguời đàn bà hát nhạc PhạmDuy –có giọng hát hao hao Thái Thanh đã hát tăng ông Trăm năm bến cũ . Ông đã lên sân khấu nói đôi lời-chỉ với nguời phụ nữ này . Gần 11 giờ, cô bé xinh xăn, về từ Canada lên hát Ngừơi Về . Ông cảm động vì –con bé còn quá nhỏ -mà biết hát Người về – nên đã lên sân khấu lần thứ hai ôm con bé cảm tạ . Tôi đoán rằng đêm đó , chắc ông ngủ ngon. Bao tình cảm , bao yêu mến và trên hết …tình ca của ông vẫn đuợc hát cho dù có lịnh cấm ! Sau đó ông có đến vài phòng trà cũng như các quán cà phê hát với nhau. Lẽ ra ông ở lâu hơn nhưng một bài báo ở VN đã khiến ông bỏ về Mỹ sớm . Chúng tôi lại tiễn ông , cũng ở quán cà phê lề đường . Lần này có thêm Thu, môt Việt kiều Hà Lan. Nghe tin ông ở VN,anh bay về ngay dù vừa mới rời VN chừng mươi ngày trước ! Hai Tôi vô tình đọc bài viết về ông của BG trên web XXXX.

Tôi vẫn biết nghệ sỹ sống khá phóng túng. Từ bé, tôi đã nghe giai thoại “ăn chè” nhưng tôi không quan tâm đến đời sống riêng tư của ông .Tuy vậy, lời kết tội của BG làm tôi khá hoang mang ? Tôi hỏi trực tiếp . Ông mail “ Tôi không hề chơi thân với ông X đó. Tôi sáng tác nhạc cho đồng bào nghe. Do vậy tôi phải trân trọng thính giả là những nguời ưa thích nhạc tôi . “ Tiếp đó, ông gửi cho tôi xem –cái gọi là Hồ sơ Gió tanh mưa máu -của một số cây viết chuyên nghiệp hay tài tử – trả lời cho những gì mà nguời ta gán cho ông. Tôi không muốn phán xét điều chi hết . Vì không có điều kiện và cả tư cách để kiểm chứng rõ ràng từ cả hai phía ! Nhưng tôi tin -với những bản nhạc về quê hương tuyệt vời mà đỉnh cao nhất là nhạc phẩm Tình ca – không thể nào là một con nguời vô thần hay khinh miệt khán thính giả ! Nhưng để tin đuợc điều đó , chúng tôi cũng đã xung đột vài lần. Vì , có lẽ tôi khác xa ông nhiều quá chăng ? Thứ nhất tôi bị một nền giáo dục cổ xưa chi phối !do đó tôi không thể chấp nhận cuộc sống phóng túng của nghệ sỹ một cách dễ dàng . Thứ hai, tôi ít quan tâm đến giới nghệ sỹ nên không tìm hiểu đời sống cá nhân hay tâm tư của họ nhiều ..Tôi chỉ nghe hay xem tác phẩm .Chỉ bây giờ, tuổi già và tương đối rảnh rỗi , tôi mới tìm đến đôi chút ! Thứ ba, tôi chưa bao giờ tôn ai làm thần tượng ! Tôi mê nhạc ông nhất là tình ca quê hương. Tôi chưa thấy ai qua đuợc ông về phương diện này . Nhưng mê nhạc chứ không mê nguời ! Vì vậy, tôi –thời gian đầu –đã có chỉ trích ! Nhưng -với tâm tình dàn trải trong hồi ký và cả mail, tôi đã có cái nhìn khác về ông nói riêng và giới nghệ sỹ nói chung . Vâng, để có cảm hứng viết những nhạc phẩm hay bài thơ tuyệt, tác giả phải có một xúc cảm thật ! Và cảm xúc với nguời vợ hiền thì không còn sôi nổi như thuở ban đầu ! Cô Thái Hằng –mà ông xưng tụng là Á Thánh –đã hiểu điều đó nên đã để ông có cảm hứng mà sáng tác. Ngoài cái đam mê đó, ông không rượu chè, cờ bạc, hút sách hay bỏ bê vợ con ..

Ông tâm sự “đời tôi như cái kiềng ba chân . Chỉ vững khi có đủ ba. Đó là gia đinh, nguời tình và nghệ thuật ” Với gia đinh, ông lo trọn vẹn cho các con. Với nghệ thuật, ông tìm tòi, cống hiến những tình ca bất hủ . Với nguời tình, ông trọn niềm say đắm . Cả ba quyện vào nhau đem đến cho ông sự bình an . Bình an để ông ngắm cuộc đời , viết về nó với những xúc cảm rất thật . Ông đã hỏi , tôi dám đem chuyện của ông ra bạch hoá ? tôi mỉm cuời .Tôi không đủ khả năng, thì giờ để làm chuyện đó . Tôi chỉ biết môt điều giản dị, tôi yêu quê hương , yêu tình ca quê hương của ông và mong ước nhỏ bé, đem giòng nhạc quê hương của ông đến với giới trẻ trong nuớc ! Tôi không muốn họ bị ảnh hưởng bởi những đồn đãi vu vơ ..Tôi không có điều kiện nghe tiếng nói của cả đôi bên nhưng tôi tin, con nguời Phạm Duy không phải vô thần. Niềm mơ uớc đuợc nhìn lại quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và viết biết bao tình ca về nơi ấy là niềm khắc khoải lớn nhất ở cuối đời của ông. Hãy thông cảm với nguời già. Về để nhìn lại chứ không phải về là thoả hiệp. Nhưng tiếc thay, vì cái bóng quá lớn của ông nên việc Về của ông đã làm cho ông quằn vai . Tôi đã ví von, nguời tình già trên đầu non, nhìn về quê cũ để thảng thốt “nào có trăm năm mà chờ với đợi “ , rồi chuyến trở về cứ như vác thánh giá trên vai ! Tôi thông cảm với niềm mong ước nhìn lại quê hương truớc khi đi vào cõi xa xôi. Với số tuổi ngoài 80, nào còn thời gian mà chờ đợi ? Hãy để ông yên. Nguời nghệ sỹ không thể tách rời chính trị ? đúng. Vì nghệ sỹ nhất là nhạc sỹ góp phần không nhỏ trong lịch sử , do đó không thể trung lập mà phải có lựa chọn. Nhưng ..sự lựa chọn trở về chỉ là “dối già “ thì hãy thông cảm cho ông ! Thông cảm cho người là mong ước một thông cảm dành cho chính ta . Tôi tin thế . Ai cũng cần thông cảm, không chỉ một lần mà có khi cả một đời, phải thế không ?

Saigon 2003
Hòang Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off