Thư Ngỏ

 Hoàng Lan Chi trân trọng chào quý thân hữu ghé thăm.

Xin xem Menu chính ở banner của web site với các mục Văn Học Nghệ Thuật,  Âm nhạc và Truyền Hình , Thân Hữu..Click vào mỗi mục, sẽ có các mục phụ.

Tiểu sử: click vào  đây: Tiểu Sử

Hình Ảnh từ 1954 đến nay: click vào đây:   Giòng Thời Gian Từ 1954

Click vào mỗi mục dưới đây, ở bên phải, để xem nội dung của mục đó và chọn bài để xem:

Ngoài ra còn có: Các bài mới, Các bài được đọc nhiều nhất, các youtube (HLC phỏng vấn).

Liên lạc:  hoanglanchi@gmail.com

Posted in LanChiYesterday | Comments Off on Thư Ngỏ

Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Làm Blog Với WordPress

Lời mở đầu:

Tôi là người dốt computer vì đã lớn tuổi, không có điều kiện để học “tử tế” từ đầu, nghĩa là “mất căn bản”. Những gì tôi biết là tôi tự tìm tòi, quá lắm thì hỏi “đệ tử”.

Làm 1 blog với wordpres cũng vậy. Tôi đọc tiếng Việt ở cộng đồng WordPress Việt Nam, muốn đâu cái điền ( điên cái đầu) vì bọn trẻ viết cho người khá giỏi computer chứ không phải cho người ngu như tôi.

Continue reading

Posted in Hướng Dẫn Làm Blog | Comments Off on Hướng Dẫn Tạo Blog với WordPress

Michael Bùi- Mẹ tôi , nữ văn sĩ Đỗ Phương Khanh- Sep 2020

MẸ TÔI

Gia đình tôi là gia đình di cư.Năm 1954, đồng 18 tuổi, Bố Mẹ tôi nắm tay nhau xuống tàu Há Mồm xuôi Nam chạy trốn chế độ CS. Vào đến Sài Gòn, Bố Mẹ tôi khởi nghiệp bằng cách hành nghề viết Sách làm Báo. Năm tôi còn học Tiểu Học, Mẹ tôi dùng tư gia để thành lập Cơ Sỡ Ấn Loát Huyền Trân. Căn nhà này được cái sâu và rộng nên tôi thấy có đến cả trăm nhân viên nhà in làm việc suốt ngày. Chỗ thì chứa các máy in, chỗ thì đễ những hộc chữ bằng chì, phòng này đặt máy sén, cắt giấy, phòng kia cho giai đoạn khâu sách bằng chỉ của các cô các dì..v…v….Trong giờ làm việc thì ôi thôi vui lắm. Tiếng máy in chạy rầm rầm xen lẩn tiếng nói, tiếng cười đùa, tiếng ca vọng cỗ….nó tạo nên một không khí rất sinh động.

Công nhân của nhà in thì rất quý Mẹ tôi qua cách cư xữ và đối đãi với họ rất tận tình chu đáo như đại gia đình. Tôi nghe bà thường nói, ngày thứ 6 là ngày vui nhất của Mẹ trong tuần đó con, vì ngày đó là ngày phát lương cho thợ.Nghĩ đến cãnh họ có tiền chạy về nhà dẫn vợ con đi chơi cuối tuần là Mẹ thấy vui rồi.Cái chân lý ấy đã thấm nhuần tôi cho đến mấy chục năm về sau này, tốt với nhân viên thì họ sẽ đối xử với mình y như vậy thôi.

Có thể nói là Mẹ tôi rất thương tôi, chưa bao giờ Mẹ tôi la rầy gì hết cho mặc tôi có phá phách kiểu gì đi nữa,Mẹ tôi chỉ nhìn và khuyên tôi thôi đừng làm vậy nữa nhe con. Hồi xưa kỷ thuật in ấn còn thô sơ chứ không viết bằng computer rồi in ra như bây giờ. Bài viết được thợ sắp chữ nhìn vào rồi bốc từng chữ chì cho vào cái khay, ABCD – sắc huyền hỏi ngã nặng, sắp được vài hàng là họ phải bỏ qua một bên rồi sắp tiếp, một trang bài có là thợ giỏi cũng mất khoảng 1/2 tiếng, khi đầy trang rồi thì lấy dây cói cột lại, xong họ cà mực lên chì rồi lăn qua giấy trắng, chữ chì ngược khi in qua tờ giấy sẽ hiện ra chử xuôi.

Dĩ nhiên là khi bốc từng chữ như vậy chắc chắn họ sẽ bốc lộn, Mẹ tôi sẽ coi lại những chỗ sai gọi là sửa Morát, bà lấy bút lôi ra sửa từng chữ rồi trả về cho thợ sắp chữ, họ chỉ việc lấy cái nhíp gắp từng chữ sai ra rồi thay vào đó bằng chữ khác cho đúng. Bản chì đã sửa đủ thành trang, họ chồng lên nhau đễ chờ đưa vào máy in.

Thế mà ban đêm bọn con nít chúng tôi kéo nhau vô chạy nhảy trong nhà in làm lộn tùng phèo hết đống chữ ấy, kéo theo những chồng giấy in khổ báo lớn chất cao tới trần nhà xập xuống đổ ngổn ngang. Thế là sáng hôm sau những người thợ phải làm lại từ đầu.Họ báo cáo lên thì Mẹ tôi cũng không nói gì, bà chỉ yên lặng khi nhìn ra thủ phạm chính là tôi, rồi hiền từ nói, các con muốn chạy nhảy thì ra sân mà chơi nhé, đừng làm công việc nhà in của Mẹ bị chậm trễ.

Có những buổi trưa khi Mẹ tôi còn làm quản lý cho nhà in Hồng Lam trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm của Linh Mục Cao Văn Luận. Cha Luận từng là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, sau bị chính quyền nhà Ngô thất sủng qua vụ Biến Động Miền Trung,cha có viết một cuốn Hồi Ký lẩy lừng tựa"Bên Giòng Lịch Sử 1940-1965". Mẹ tôi cho tôi đi theo chơi quanh quẩn trong nhà in. Mổi lần được gặp mặt, cha Luận lại dúi cho tôi nay thì vài cái kẹo, dăm bửa thì cái bánh giò, nghĩ lại thật là hân hạnh cũng nhờ Mẹ tôi.

Rồi cũng có những lần, Mẹ tôi dắt tôi đi khám bệnh hay đi làm răng ngoài Sài Gòn, tôi rất ghét cái cha Nha Sĩ này ở gần VP Beer BGI cạnh hảng làm Nước Đá trên đường Hai Bà Trưng, khi xe xích lô ngừng trước cửa là tôi biết ngay, sợ lắm nhất định không dám vào, Mẹ tôi lại phải dụ ngọt mãi.Bù lại,cứ mổi lần như thế là Mẹ tôi lại dắt tôi đi xem Ciné ở các Rạp như Eden, Đại Nam, Rex…., xong bà còn thưởng cho một chầu ở quán Kem Bạch Đằng đối diện Casino Sài Gòn vì tôi đã anh dũng hy sinh cái răng bị hư. Thiệt, răng bị sâu tôi còn không biết thế mà Mẹ tôi đã biết tỏng rồi…

Khoảng đầu thập niên 70′ Mẹ tôi vừa làm nhà in, vừa mở thêm Vườn Trẻ Anh Vũ theo phương pháp giáo dục Montessori, bà mướn trọn cái nhà lầu 2 tầng kế bên có cái sân rất rộng,rồi đập luôn cái tường cho thông qua nhau. Ban ngày phụ huynh gửi trẻ, tối về hết thế là bọn chúng tôi lại có thêm đất đễ chạy nhảy bắn súng chơi 5-10.Hò hét vui thật là vui, lũ con nít trong xóm thòm thèm muốn vô chơi phải xin vào à nhe,nên tôi rất có thớ,đứa nào cà chớn tôi tống cổ ra nên tụi nó một phép. Ỷ Mẹ mà,có quyền vênh váo chút chứ.

Ngoài 2 Cơ Sỡ nêu trên, Mẹ tôi còn phụ trách trang Nhi Đồng trong Báo Hòa Bình của Linh Mục Trần Du trên đường Phạm Ngũ Lão, trang Phụ Nữ trong Báo Dân Chủ thuộc Đảng Dân Chủ của ông Thiệu trên đường Hiền Vương.Đồng thời vào năm 1971, Báo Thiếu Nhi cũng ra đời, bà là Tổng Quản Trị và đồng phụ trách trang Vườn Hồng mà chủ nhiệm là ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí và chủ bút là nhà văn Nhật Tiến. Thời gian này nhà tôi còn đông hơn nữa,khách khứa ra vào nườm nượp, Mẹ tôi tận dụng luôn mấy phòng trên đễ làm Tòa Soạn. Hàng ngày thì các cô chú trong Ban Biên Tập tới làm việc, cuối tuần thì mở cửa đón các thiếu niên vào Thư Viện Báo Thiếu Nhi đọc sách,sinh hoạt Gia Đình Thiếu Nhi. Báo Thiếu Nhi còn mở lớp dạy ORIGAMI – Nghệ Thuật Gấp Giấy của Nhật Bản nữa chứ. Nói chung Mẹ tôi đầu tắt mặt tối, nhưng hình như càng thấy đông con nít lại càng làm cho bà vui, chẳng bao giờ thấy Mẹ tôi kêu ca phiền hà gì.

Năm tôi lên lớp 6, chắc phá quá nên Mẹ tôi cho tôi vào trường nội trú Don Bosco ở Thủ Đức.Cuối tuần thứ 7 có xe Bus chỡ về, ngày chủ nhật họ lại đón đi. Dĩ nhiên là bị bắt vào khuôn khổ kỷ luật của các Linh Mục người Hòa Lan thì làm sao tôi thích được. Thế là tôi dùng 500$ mà cứ mổi tuần Mẹ tôi dúi vào tay khi ra đi ngày chủ nhật, tôi mua kẹo Cam kẹo Dâu trong cái hộp sắt ở Căn Tin rồi chờ thứ 7 đem về tặng Mẹ như là quà hối lộ. Năn nỉ ỉ ôi riết qua năm lớp 7 vì thương tôi nên Mẹ tôi cho tôi về học Lasan Hiền Vương-Sài Gòn.

Vì trong giới Nhà Văn Nhà Báo, Bố Mẹ tôi có rất đông thân hữu.Từ nhà văn Duyên Anh, Mai Thảo, Nguyễn Hiến Lê, Cung Tích Biền, Sơn Nam..v…v… cho tới Nguyễn Thị Vinh, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân,Tuệ Mai….Riêng nhà văn Nguyễn Thị Vinh còn nhận tôi là con nuôi, mà tôi xưng lại là Me Vinh (Nhà Văn Nguyễn Thị Vinh cũng đã mãn phần vào tháng 1/2020 tại Oslo,Na Uy, hưởng dương 97 tuổi).Hầu như gần hết các Văn Nghệ Sĩ ở Sài Gòn thường xuyên lui tới thăm viếng ông bà cụ và nhiệm vụ của tôi là bưng nước. Còn đãi tiệc thì có thể nói là thường xuyên. Cứ mổi lần đi học về xuống nhà bếp là thấy Mẹ tôi và 3 bà người làm tất bật lo chuẩn bị, thường thì Mẹ tôi đãi khách bằng các món Miền Bắc như Bánh Tôm Cổ Ngư, Chạo Tôm, Nem Rán Cua Bễ, Giả Cầy hay Bún Thang, Bún Ốc..v..v…Thế là tôi lại có dịp được uống nước Xá Xị,nước Cam thả giàn.Chai ướp lạnh khui ra cứ vậy mà nốc.

Ngày 30/4/75 đại họa ụp xuống thế là Mẹ tôi bi mất hết. Nhà in dẹp tiệm, Vườn Trẻ giải tán, toàn bộ Báo Chí của Miền Nam Tự Do bị cấm đoán, chỉ có Nhật Báo Tin Sáng của Dân Biểu đối lập Ngô Công Đức là được tái bản vào tháng 7/1975 vì Võ Văn Kiệt đang cần một tờ báo của chế cũ đễ tuyên truyền. Đã thế vào tháng 9/1975, Ủy Ban Quân Quản còn ra lệnh đổi tiền, cứ 500$ tiền VNCH đổi được 1$ tiền mới. Mổi gia đình được phép đổi 100,000$ VNCH tức là chỉ được 200$ tiền Việt Cộng. Gia đình nào có trên 100,000$ VNCH thì kể như mất sạch. Cú này là đòn chí tử đánh vào những gia đình trung lưu ở Miền Nam.Mẹ tôi kể như trắng tay sau 20 năm tích lũy.

Miền Nam sau ngày Sài Gòn tắt bóng, người dân sống trong cãnh lo âu sợ hãi. Không biết đêm nào Công An sẽ gõ sữa bắt đi vì lý do nào đó. Tuy vậy, ở một khóa học tập gọi là "Khóa Bồi dưỡng Chính Trị dành cho Văn Nghệ Sĩ", Mẹ tôi đã đứng lên chỉ mặt vào một Cán Bộ Miền Bắc tên Mai Quốc Liên, khi ông ta dám tuyên bố rằng "Các anh các chị làm đừng trông mong vào việc cầm bút trở lại. Bởi vì miền Nam các anh các chị làm gì có văn hóa!" Mẹ tôi hỏi:Anh vào trong Nam được bao lâu rồi, và anh đã đọc được bao nhiêu tác phẩm của miền Nam rồi mà anh dám nói miền Nam không có văn hóa? Làm hắn cứng họng.

Là con người đầy nghị lực,Mẹ tôi lại lăn ra đường kiếm sống cũng như hàng triệu người Miền Nam khác, bằng cách mở Quán bán Bánh Tôm Cỗ Ngư tại Hồ Con Rùa trước cữa Viện Đại Học Sài Gòn(tôi có bài viết kỷ niệm về Quán Bánh Tôm này, link đính kèm), Một thời gian sau cũng không xong phải dẹp tiệm vì bị Công An rình rập, về nhà bà đi vay mượn rồi lại mở Cơ Sỡ Sản Xuất Nước Đá cây, hàng ngày bà giao cho tôi đi bỏ mối. Thấy có vẻ xôm trò,thế là Ủy Ban Nhân Dân Phường bắt phải đưa vào Hợp Tác Xã, tức mình Mẹ tôi dẹp luôn,nhất định không dây dưa gì đến chúng nó.

Trong thời gian này, một hôm tôi thấy có Ký Giả – Phóng Viên Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên tới nhà sầm sì gì với Mẹ tôi chuyện gì đó. Vài ngày sau thì tôi thấy có một người đàn ông lạ mặt tới ở tuốt đàng sau nhà, căn phòng này xưa là cái kho nhỏ cạnh nhà tắm.. Ông ta không bao giờ ra đường, tôi cũng không rõ ông ta ăn uống thế nào. Rồi mãi sau này tôi mới biết ông ta tên Nguyễn Phúc Vĩnh Tung, là sỹ quan QLVNCH, chồng cô Kiều Mỹ Duyên trốn tù cãi tạo về TP. Thế mà Mẹ tôi ra tay giúp đỡ bao che cho. Thiệt, chúng mà bắt được thì Mẹ tôi có môn rũ tù, nhưng bà vẫn tĩnh bơ làm như không có chuyện gì xảy ra.. Ông Vĩnh Tung sau cũng tìm ra đường đi vượt biên và đã đến được bến bờ tự do vào năm 1979.

Thời gian sau Mẹ tôi nhờ quen biết nên được ông Lý Thái Thuận một người Việt gốc Hoa, Giám Đốc nhà in Alpha mời về làm xếp khâu sửa Morát có biên chế nhà nước. Mừng quá bà nhận lời ngay. Thế là ngày qua ngày Mẹ tôi lại đạp xe đạp từ Cỗng Xe Lữa Số 6 đi làm Công Nhân Viên ở đường Phạm Ngũ Lão gần chợ Thái Bình.Có lần mãi đến tối mịt mới thấy Mẹ tôi về, mồ hôi nhễ nhãi, trời ơi Mẹ tôi phải dắt xe đạp bị đứt Dây Sên từ đường Kỳ Đồng về tới nhà vì không đủ tiền sửa.Dây Sên phải thay mới. Nhưng bà vẩn hớn hở, vì trong giỏ hôm đó là ngày Mẹ tôi được mua Nhu Yếu Phẩm có 1 ký thịt heo. Nhìn Mẹ mà tôi chảy nước mắt nhưng không làm gì được cho Mẹ.

Nhưng cũng nhờ sự quen biết này mà Mẹ tôi mới vay được tiền ông Lý Thái Thuận đễ lo cho 2 anh em tôi đi vượt biên.Ngày chia tay xuống bãi vào cuối Hè năm 1979, Mẹ tôi dúi vào tay tôi một chĩ vàng rồi ôm tôi khóc, Mẹ không biết con sẽ đi về đâu, nhưng nếu có thoát được ráng cho Mẹ biết đễ Mẹ khỏi lo, tôi biết chắc rằng Mẹ tôi sẽ không ngủ được. May sao, rời Ngọc Hà ghe của tôi lênh đênh trên Biển Đông khoảng 1 tuần thì được tàu của Hoàng Gia Na Uy vớt lên đem vào Singapore. Nhập trại xong là tôi mò ra Sembawang đánh điện cấp tốc ngay về cho Mẹ chỉ với 1 hàng chữ "Cam on co chu Thuan", cho khỏi lộ chuyện gia đình có thân nhân đã đào tẩu ra nước ngoài với bọn Công An khu vực.

Lại nữa,không có Mẹ tôi lo cho đi thì ở lại cũng đi đạp Xích Lô chứ khá gì nổi ở cái xứ Xếp Hàng Cả Ngày ấy.

Mẹ tôi chia ra cho cả gia đình đi vượt biên thành 3 chuyến. May sao cả 3 đều trót lọt và cùng gặp nhau tại California. Năm 1981 qua tới, bà lại làm lại từ đầu. Bố mẹ tôi chỡ nhau đi học điện cho thực tế, hồi xưa có trường Control Data Institute ở Anaheim, không biết bây giờ còn không.Sau đó cả 2 ông bà đều ra trường với tấm bằng Technician điện. Sau Hảng Verifone chuyên sản xuất máy cà credit card, nhận cả 2 vào làm Electronic Technician cho tới ngày Bố Mẹ tôi nghĩ hưu, tính ra Mẹ tôi làm cho Verifone cũng được 20 năm.

Sau khi nghĩ hưu có thời giờ rãnh rỗi, Mẹ tôi bắt đầu dồn nỗ lực vào việc nghiên cứu kinh kệ. Bà phụ trách và biên soạn cho chương trình về Phật Pháp Tuệ Đăng hàng tuần trên đài Hồn Việt TV phát đi khắp 50 TB và Canada.Ngoài ra Mẹ tôi còn dịch sách của Triết Gia Krishnamurti sang Việt Ngữ, cũng như phụ trách điều hành trang website khaiphong chấm net cho dân mạng mở mang kiến thức về các vần đề Khoa Học Xã Hội.

Nói thật, Mẹ tôi sinh tôi ra, lo lắng cho tôi từng li từng tí, cái gì tôi thích bà cũng chiều. Muốn đi chơi, Mẹ cho tiền. Muốn xe đạp có xe đạp, muốn giầy mới, đồ mới, mẹ tôi trước sau gì cũng xì tiền cho tôi mua. Chẳng bao giờ thấy Mẹ lôi la mắng gì cả. Ngay đến cái Sổ Học Bạ hồi xưa, tháng nào mà tôi bị xuống hạng.Tôi cũng cầu cứu Mẹ tôi đưa Bố tôi ký cho xong chuyện còn đem đi nộp..

Ngày Mẹ tôi nghĩ hưu, bà có tiền hưu, tiền già, chẳng khi nào bà cần gì từ anh chị em chúng tôi . Nói đúng ra thì tôi chưa lo cho Mẹ tôi được ngày nào, thứ vô cùng vô dụng đối với Mẹ tôi. Nhưng đôi khi tôi cũng có chút an ủi làm cho Mẹ tôi vui,số là thế này. Cách đây 10 năm sau khi giá Địa Ốc bị sụp đổ. Tôi xoay qua nghề nhập các loại máy về Massage vô Mỹ bán,máy thì ôi thôi tôi có đủ. Massage bụng, cổ, vai, lưng, tay,chân,đầu,mặt.. nói chung là các loại các kiểu đủ hết.. Mà Mẹ tôi sau này lại hay bị đau nhức vì hồi xưa trước 1975, có lần bà bị Xe Lửa đụng. Đúng vậy, Xe Lửa đụng nát chiếc xe hơi bà đang đi tại Cổng Xe Lửa Số 6 đâm ra Bệnh đau nhức nó cứ theo bà từ dạo đó. Thế là tôi mang đủ loại Massage qua cho Mẹ tôi trị bệnh, mang nhiều đến nỗi bạn bè của Mẹ tôi đến chơi họ còn nói dỡn, cứ tưởng như đang lạc vào GYM. Nhờ vậy mà bệnh đau nhức của Mẹ tôi cũng bớt nhiều, lại còn không phải mổ chân theo lời súi bậy của một ông BS kia.

Có cái đưa máy mới thì lúc nào Mẹ tôi cũng áy náy vì sợ tôi cần hàng đễ bán cho khách. Tôi phải năn nĩ, Mẹ ơi, máy con có cả kho Mẹ cứ sài đồ mới đi…mãi bà mới chịu nhận. Đấy, đến cuối đời Mẹ tôi vẫn lo cho tôi chẳng khác gì ngày tôi còn bé.

Mẹ tôi là người ăn chay trường từ 30 năm nay. Bà sống rất đạm bạc, vui vẽ, lạc quan, yêu đời. Cách đây vài tuần, BS phát giác ra Mẹ tôi trở bạo bệnh vào thời kỳ cuối. Không than van, không rên siết, không làm phiền tới ai. Mẹ tôi đã ra đi thanh thản vào trưa ngày hôm qua Aug 26th,2020 với đầy đủ con cháu chung quanh.

Mẹ ơi, tối hôm qua lúc xe Nhà Quàn tới đưa Mẹ đi, tụi con tiển Mẹ cho tới giờ xe lăn bánh.Kỷ niệm của những năm tháng thời thơ ấu lại trở về đầy ắp trong tâm trí.Bao nhiêu âu yếm ân cần mà Mẹ cho tụi con nay đã trỡ thành dĩ vảng.Ước gì Mẹ ráng ở lại thêm được ngày nào hay ngày đó thì vui biết mấy, hay là Mẹ quay luôn về sống lại những ngày xưa ấu thơ của tụi con thì càng tốt.Con sẽ chạy quanh Mẹ đễ Mẹ xoa đầu gọi "Trụ của Mẹ", Mẹ phải đền cho con khi con bị té, Mẹ phải đền từng mủi chích, từng cái răng khi con bị nhỗ, nhất là phải có Mẹ con mới lên mặt được với chúng nó.

Nhưng ước gì thì ước vậy thôi chứ Mẹ đã ra đi thật rồi thì con xin kính chúc Mẹ được thảnh thơi trên cõi Vĩnh Hằng.Đời Mẹ đã hy sinh cho tụi con như thế là quá đủ, Mẹ đừng bận tâm nữa Mẹ nhé.

Con của Mẹ.

Michael Trụ Bùi
Aug 27th,2020

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Michael Bùi- Mẹ tôi , nữ văn sĩ Đỗ Phương Khanh- Sep 2020

Đông Kha- Nhìn lại chặng đường của ban “Hợp Ca Thăng Long’- Sep 13, 20202

Đông Kha

Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long”

Ban nhạc đã trở thành huyền thoại

Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).

Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)

Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.

Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc.

Đại gia đình Thăng Long:

hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung,

hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.

Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.

Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu

Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:

“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”

Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long.

Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm),

Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ.

Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh

Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.

Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh

Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt.. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.

Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long

Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.

Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.

Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.

Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm)

và Thái Hằng (áo trắng)

Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).

Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974

Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”

Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.

Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc

Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.

Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.

Hotel Catinat

Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10…

Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.

Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh

Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62

Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83

Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.

Bài: Đông Kha

Bản quyền bài viết của nhacxua.vn

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Đông Kha- Nhìn lại chặng đường của ban “Hợp Ca Thăng Long’- Sep 13, 20202

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975

Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975
Cùng nhìn lại những hình ảnh so sánh “xưa và nay” của các ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước năm 1975. Đến nay, thời gian đã qua hơn nửa thế kỷ, không ai có thể tránh khỏi được quy luật của thời gian. Tuy nhiên cũng có một số ca sĩ vẫn còn mang phảng phất nét đẹp quý phái của một thời vàng son.

altCa sĩ Thanh Lan

Thanh Lan sinh năm 1948, là ca sĩ, diễn viên của Việt Nam. Bà là một trong những nghệ sĩ hiếm hoi thành công trên cả ba lĩnh vực âm nhạc, điện ảnh và sân khấu. Ca sĩ Thanh Lan nổi tiếng với các ca khúc Pháp, là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thời kỳ đầu của nhạc trẻ ở Sài Gòn.

altCa sĩ Phương Hồng Quế

Ca sĩ Phương Hồng Quế sinh năm 1953, là một trong những giọng hát tiêu biểu thuộc thế hệ sau cùng của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Cô được báo chí Sài Gòn gọi danh hiệu là “Tivi chi bảo”.

altCa sĩ Kim Loan

Ca sĩ Kim Loan sinh năm 1948, nổi tiếng khắp làng nhạc miền Nam xưa với nhan sắc khả ái với ca khúc được mến mộ nhất là Căn Nhà Ngoại Ô của nhạc sĩ Anh Bằng

altCa sĩ Trúc Mai

Ca sĩ Trúc Mai sinh năm 1942, thuộc thế hệ đầu tiên của nhạc vàng miền Nam. Cô không chỉ có giọng hát ngọt ngào, ấm áp mà còn chinh phục khán giả với vẻ đẹp yêu kiều, quý phái. Giọng hát Trúc Mai gắn liền với bài hát “Hàn Mặc Tử” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.

altCa sĩ Anh Khoa

Ca sĩ Anh Khoa sinh năm 1948, là một trong những nam ca sĩ nổi tiếng nhất của miền Nam trước 1975 ở dòng nhạc trữ tình. Giọng hát truyền cảm và nhẹ nhàng của ông đã gây ấn tượng với khán giả cho đến ngày nay.

altCa sĩ Phương Dung

Ca sĩ Phương Dung sinh năm 1946 (có thông tin cho rằng năm sinh thật của cô là 1942), là ca sĩ thuộc thế hệ đầu của dòng nhạc vàng, được khán giả mến mộ trong suốt 60 năm qua. Cô được đặt biệt danh là “Nhạn Trắng Gò Công”, rất thành công với những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng như Nỗi Buồn Gác Trọ, Tạ Từ Trong Đêm, Những Đồi Hoa Sim… Cho đến nay Phương Dung vẫn còn đi hát ở Việt Nam

altCa sĩ Thiên Trang

Ca sĩ Thiên Trang sinh năm 1951, là một trong những ca sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng. Cô có giọng hát ngọt ngào và gương mặt rất hiền từ, dễ gây thiện cảm với khán giả.

altCa sĩ Hương Lan

Ca sĩ Hương Lan sinh năm 1956, được xem là 1 trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của nhạc vàng trước và sau năm 1975. Giọng hát của Hương Lan nổi tiếng với sự ngọt ngào đặc trưng, đặc biệt là khi hát nhạc quê hương âm hưởng dân ca Nam Bộ. Hương Lan cũng là 1 trong những ca sĩ có nhiều bản thu âm nhất với hàng ngàn ca khúc được phát hành trong hơn 50 năm ca hát.

altCa sĩ Ngọc Đan Thanh

Ca sĩ Ngọc Đan Thanh sinh năm 1952, là nghệ sĩ thành công trong cả 3 lĩnh vực là cải lương, nhạc vàng và MC của chương trình Asia. Sau khi sang định cư tại Mỹ năm 1990, cô còn tham gia lồng tiếng một số bộ phim Hong Kong, Hàn Quốc.

altCa sĩ Thái Châu

Ca sĩ Thái Châu sinh năm 1951, nổi tiếng với dòng nhạc vàng, trữ tình với giọng hát ấm áp nhưng cũng rất ngọt ngào.

altCa sĩ Giáng Thu

Ca sĩ Giáng Thu là học trò của nhóm tác giả Lê Minh Bằng (Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng). Người bạn đồng môn của cô trong lớp nhạc Lê Minh Bằng còn có ca – nhạc sĩ Mạnh Quỳnh, người đã song ca ăn ý với Giáng Thu, đặc biệt là với bài hát Tuyết Lạnh, Hai Đứa Giận Nhau…

altCa sĩ Bạch Yến

Danh ca Bạch Yến sinh năm 1942, là 1 trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn từ cuối thập niên 1950. Cô là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965, là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất trình diễn cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Pat Boone, Frankie Avalon… và là ca sĩ Việt đầu tiên và duy nhất hát nhạc phim Hollywood The Green Berets (Mũ nồi xanh).

altCa sĩ Thanh Thúy

Ca sĩ Thanh Thúy sinh năm 1943, là một trong những nữ ca sĩ có ảnh hưởng lớn nhất đến nền Tân nhạc Việt Nam trước năm 1975, là thế hệ ca sĩ đầu tiên của dòng nhạc vàng miền nam. Tên tuổi của cô đã gắn liền với nhạc sĩ Trúc Phương và những tình khúc tiền chiến. Cô cũng là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, đạo diễn truyền hình nổi tiếng… ca ngợi hết lòng với rất nhiều mỹ danh, trong đó nổi tiếng nhất là Tiếng hát liêu traiTiếng hát lúc 0 giờ.

altCa sĩ Băng Châu

Ca sĩ Băng Châu sinh năm 1950, ngoài sở hữu giọng hát ngọt ngào, cô còn là một trong những ca sĩ có nhan sắc khả ái nhất trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 1975

altCa sĩ Thanh Mai

Ca sĩ Thanh Mai sinh năm 1955. Trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, dù Thanh Mai không phải là ca sĩ thuộc hàng nổi danh nhất, nhưng tên tuổi của cô vẫn được rất nhiều người biết đến, đặc biệt trong dòng nhạc trẻ.

altCa sĩ Khánh Ngọc

Ca sĩ Khánh Ngọc sinh năm 1937, là minh tinh điện ảnh Sài Gòn thuộc thế hệ đầu tiên. Trong lĩnh vực âm nhạc, bà sở hữu giọng hát nhiều nội lực, từng là thành viên của ban Thăng Long danh tiếng, và cũng là vợ cũ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

altCa sĩ Lệ Thu

Ca sĩ Lệ Thu sinh năm 1943, thường được nhắc đến như là 1 trong 3 nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, cùng với Khánh Ly và Thái Thanh

altCa sĩ Giao Linh

Ca sĩ Giao Linh sinh năm 1949, là một trong những ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trước năm 1975. Cô thường được báo chí Việt Nam gọi là “Nữ hoàng sầu muộn” do tiếng ca và phong cách biểu diễn trầm buồn trong các ca khúc nhạc vàng.

altCa sĩ Thanh Tuyền

Ca sĩ Thanh Tuyền sinh năm 1947, là một trong những nữ ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng nhất trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.

altCa sĩ Khánh Hà

Ca sĩ Khánh Hà sinh năm 1952. Cô đã đi hát trước năm 1975, nhưng chủ yếu là hát nhạc trẻ. Từ sau khi sang hải ngoại, Khánh Hà được yêu mến với dòng nhạc trữ tình từ thập niên 1980 với giọng hát rất điêu luyện và được so sánh với các diva nước ngoài.

altCa sĩ Elvis Phương

Ca sĩ Elvis Phương sinh năm 1945, là ca sĩ nổi danh với nhiều thế loại nhạc: nhạc trẻ, tiền chiến, nhạc vàng, trữ tình, rock Việt. Sự nghiệp của ông trải dài trên 50 năm và thường được nhắc đến cùng với tên tuổi của ban Phượng Hoàng trước năm 1975.

altCa sĩ Khánh Ly

Ca sĩ Khánh Ly sinh năm 1945, được đánh giá là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Tên tuổi của cô thường được xếp bên cạnh 2 nữ danh ca khác là Thái Thanh và Lệ Thu.

altCa sĩ Hoàng Oanh

Ca sĩ Hoàng Oanh sinh năm 1946, là một trong những ca sĩ tiên phong hát dòng nhạc vàng từ thập niên 1960. Số lượng bài hát nhạc vàng gắn liền với tên tuổi Hoàng Oanh rất nhiều, có thể liệt kê những bài nổi tiếng nhất là Ai Ra Xứ Huế (Duy Khánh), Chuyến Đò Vỹ Tuyến (Lam Phương), Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao (Lê Dinh), Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy (Trầm Tử Thiêng), Về Đâu Mái Tóc Người Thương (Hoài Linh), Câu Chuyện Đầu Năm (Hoài An), Một Người Đi (Mai Châu), Mưa Trên Phố Huế (Minh Kỳ & Tôn Nữ Thụy Khương), Sao Chưa Thấy Hồi Âm (Châu Kỳ)… Hoàng Oanh cũng là ca sĩ hiếm hoi của dòng nhạc vàng học lên đến đại học thời đó. Cô tốt nghiệp Cử nhân (Ban Sử Địa) ở Đại Học Văn Khoa.

altCa sĩ Phương Đại (tam ca Sao Băng)

Ca sĩ Phương Đại được biết nhiều nhất trong ban tam ca Sao Băng. Ngoài ra ông cũng thường song ca với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế

altCa sĩ Phương Hoài Tâm

Ca sĩ Phương Hoài Tâm thường được gọi là “tiếng hát học trò”, được biết đến tên tuổi thật sự không phải nhờ giọng hát xuất sắc, mà là ở khuôn mặt xinh tươi khả ái với đôi má lúm đồng tiền và một mái tóc cắt úp, một thời đã được nhiều nữ sinh coi như kiểu tóc thời trang.

altCa sĩ Trung Chỉnh

Ca sĩ Trung Chỉnh sinh năm 1943, là ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước năm 1975 và thường song ca với Hoàng Oanh, Phương Dung. Nghề nghiệp chính của ông là bác sĩ quân y

altCa sĩ Chế Linh

Ca sĩ Chế Linh sinh năm 1942, là một huyền thoại của dòng nhạc vàng. Ông vừa là ca sĩ, vừa là nhạc sĩ với bút danh Tú Nhi, được công chúng xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng. Hiện nay ở tuổi gần 80, ông vẫn còn đi hát, là giọng hát bền bỉ nhất của nhạc Việt mọi thời đại.

altCa sĩ Mạnh Quỳnh

Ca sĩ Mạnh Quỳnh sinh năm 1951, là học trò của nhóm Lê Minh Bằng. Ông thường song ca với ca sĩ Giáng Thu, và được biết đến với ca khúc Gõ Cửa.

altCa sĩ Mai Lệ Huyền

Ca sĩ Mai Lệ Huyền sinh năm 1946, được xem là một ca sĩ huyền thoại của Sài Gòn trước năm 1975, trở thành hiện tượng chưa từng có trong dòng nhạc kích động khi kết hợp cùng Hùng Cường. Mai Lệ Huyền sở hữu vẻ đẹp lạ, giúp cô luôn nổi bật trong đám đông. Cô có đôi mắt to và sâu thăm thẳm, khuôn mặt tròn như búp bê. Ở thời đỉnh cao của mình, cô đã đốt cháy các sân khấu và vũ trường bằng giọng ca đầy ma lực và vẻ bề ngoài quyến rũ, trở thành cái tên có độ phủ sóng rộng rãi trong công chúng miền Nam.

altCa sĩ Họa Mi

Ca sĩ Họa Mi sinh năm 1955, là cô học trò nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ca sĩ Họa Mi được nhận xét có “giọng hát trong và thánh thót ở những nốt cao, ấm áp và tình cảm ở những nốt trầm”.

Sau đây là hình ảnh xưa và ảnh sau này của các ca sĩ đã về khuất núi:

altDanh ca Thái Thanh

Danh ca Thái Thanh sinh năm 1934 và qua đời năm 2020. Bà được mọi tầng lớp khán giả, các nghệ sĩ và giới nghiên cứu âm nhạc xưng tụng là tên tuổi lớn nhất trong số những ca sĩ của tân nhạc Việt Nam. Bà được nhà văn Mai Thảo gọi là “Tiếng hát vượt thời gian”, và danh hiệu này đã đi liền với cuộc đời và sự nghiệp của bà. Nhiều người cũng gọi Thái Thanh là “đệ nhất danh ca” của âm nhạc Việt Nam.

altCa sĩ Duy Quang

Ca sĩ Duy Quang sinh năm 1950, là con trai đầu của nhạc sĩ Phạm Duy và danh ca Thái Hằng. Ông được coi là một trong những ca sĩ nổi bật của tân nhạc Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai, với chất giọng ngọt ngào, tình cảm.

altCa sĩ Hà Thanh

Ca sĩ Hà Thanh sinh năm 1937 và đã qua đời năm 2014. Bà là giọng nữ trung thành danh ở Sài Gòn từ đầu thập niên 1960, sở trường hát nhạc thính phòng cổ điển, nhạc tiền chiến, và cả nhạc vàng.

altCa sĩ Duy Khánh

Cố ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh sinh năm 1936 và qua đời năm 2003, ông được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng, và có thể xem là “cánh chim đầu đàn” của dòng nhạc vàng được khai sinh vào thập niên 1950-1960 ở miền Nam.

altNhật Trường Trần Thiện Thanh

Ca sĩ Nhật Trường, cũng là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 và qua đời năm 2005. Hiếm có người nào lên đến đỉnh vinh quang với cả 2 lĩnh vực ca sĩ và nhạc sĩ như ông. Nhật Trường Trần Thiện Thanh cũng được xưng tụng là 1 trong tứ trụ nhạc vàng.

altCa sĩ Hùng Cường

Ca sĩ Hùng Cường sinh năm 1936, qua đời năm 1996, được công chúng yêu nhạc xưng tụng là một trong tứ trụ nhạc vàng cùng với Duy Khánh, Chế Linh và Nhật Trường. Đó là 4 danh ca vừa có khả năng hát, vừa có khả năng sáng tác nhạc vàng, và là những nam danh ca nổi tiếng nhất của làng nhạc miền Nam vào thập niên 1960 – nửa đầu thập niên 1970. Nếu chỉ xét riêng trong dòng nhạc vàng thì tên tuổi của Hùng Cường có phần yếu thế nhất trong 4 cây “đại trụ” này, nhưng nếu xét về sự đa tài, mức độ tài hoa thì Hùng Cường lại nổi trội hơn cả, vì ông không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc, mà còn là tài tử điện ảnh nổi tiếng, một kép chính cải lương lừng danh và là một trong những nghệ sĩ kịch đầu tiên của miền Nam.

Đông Kha

(Ghi rõ nguồn nhacxua.vn khi copy bài viết)

stime=1598305862
fpc.pl?ywarid=515FB27823A7407E&a=10001310322279&js=no&resp=img __,_._,___

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Hình ảnh “xưa và nay” của các ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng trước 1975

Những bài Hoàng Lan Chi viết về Nguyễn Văn Đông

PHỤ LỤC BÀI ÂM NHẠC VỀ NGUYỄN VĂN ĐÔNG

§ Anh Ra Đi Mùa Thu- March 2018

§ Kỷ Niệm với Nguyễn Văn Đông kỳ 5- March 14, 2018

§ Kỷ Niệm với Nguyễn Văn Đông kỳ 4- Vụ Thúy Nga- Kim Cương và Khán h Ngọc- Trường Sa Lương Tri Thế Giới- March 10, 2018

§ Kỷ Niệm với Nguyễn Văn Đông kỳ 3-Nỗi lòng người ở lại-Tiền bản q uyền ngày xưa-NVD, một người hào hoa lịch lãm- March 7, 2018

§ Kỷ Niệm với Nguyễn Văn Đông kỳ 2- Ns Trường Sa, Hãng dĩa VN và Sóng Thần, Thúy Nga mờ i NVĐ vào 2006- March 5, 2018

§ Kỷ Niệm với Nguyễn Văn Đông- Kỳ 1- Mấy Dặm Sơn Khê- March 4, 201 8

Tưởng Nhớ Ns Nguyễn Văn Đông – Feb 26, 2018

§ Ca Sĩ Tâm Đoan với chương trình live stream tưởng nhớ nhạc sĩ Ng uyễn Văn Đông- March 3, 2018

§ Thúy Vy: Nói về người anh khả kính: Nguyễn Văn Đông- March 4, 2018

§ Phan Nhật Nam -Tưởng nhớ Nguyễn Văn Đông – Mưa vẫn bay g iăng trên chiều quê hương -March 6, 2018

§ Nguyễn Quốc Đống- Tưởng Niệm Nguyễn Văn Đông -March 5, 2018

§ Bài cũ- Du Tử Lê- Binh Nghiệp và Nhạc Nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông -March 2, 2018

§ Thúy Nga- Những tình khúc bất hủ Nguyễn Văn Đông -Volume 3-M arch 1,2018

§ Nghe Nguyễn Văn Đông kể về Hà Thanh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Phiên Gác Đêm Xuân cho Câu Chuyện Âm Nhạc của Hoàng La n Chi vào khoảng 2007- Feb 28, 2018

§ Vũ Khanh-Chút Lòng Tưởng Nhớ- Feb 28, 2018

§ Live stream Thanh Tuyền tưởng nhớ Nguyễn Văn Đông -Thú y Nga ( Những tình khúc bất hủ Nguyễn Văn Đông ) Feb 2 8, 2018

§ Tưởng Nhớ Ns Nguyễn Văn Đông – Feb 26, 2018

§ Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông với Hà Thanh, Thanh Tuyền, Giao Linh

( http://hoanglanchi.com/?p=674 )

§ Hà Thanh với Nguyễn Văn Đông – Phần 1 ( http://hoanglanchi.com/?p=158 )

§ Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông

§ Hai Người Tôi Muốn Gặp Bây Giờ ( http://hoanglanchi.com/?p=7802)

§ Nghe Sắc Hoa Mầu Nhớ -Lệ Thanh-ThanhThuý-PhượngVũ DuyTrác-TâmĐoanPhươngDungDuyKhánhMạnhHùng

§ Youtube Phiên Gác Đêm Xuân với lời cảm tạ của gia đình Hà Thanh về gói quà tết Mậu Thân từ Ns Nguyễn Văn Đông

§ Cô Nữ Sinh Gia Long của Nhạc Sĩ Phượng Linh

§

§ Nhạc Nguyễn Văn Đông -Cô NữSinh Gia Long -Diệu Thanh và Chế Linh ca

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Những bài Hoàng Lan Chi viết về Nguyễn Văn Đông

Những bài Hoàng Lan Chi viết về Chu Văn An -Nguyễn Trãi-Khoa Học

§ Những Người Tình “Chu Văn An”-2010

§ Một Chút Tâm Tình Gửi Những Nguời Tình Chu Văn An-2002

§ Hỡi “Người Tình Nguyễn Trãi”

https://youtu.be/gV6tJQ_L0XM

§ Nhóm Khoa Học Hải Ngoại

§

§ Họp Mặt Khoa Học năm 2003

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Những bài Hoàng Lan Chi viết về Chu Văn An -Nguyễn Trãi-Khoa Học

Những bài Hoàng Lan Chi viết về Gia Long

Các bài viết về Gia Long:

Lần đầu Hoàng Lan Chi đi xin tiền. August 10, 2018

§ Nếp Nhà Gia Long -July 11, 2018

§ Người Gia Long với “tinh thần Lục Vân Tiên”-Dec 8, 201 7

§

§ Hoàng Oanh-Vài Giòng Kỷ Niệm Về Danh Ca Ánh Tuyết- Julu 27, 2017

§

§ Hoàng Lan Chi nhận xét về bài của GL Bích Vi ( Gia Long – Mi nh Khai Tuy Một Mà Hai) Dec 26, 2016

§

§ Gia Long Brisbane với CT Văn Nghệ Gây Quỹ Đền Thờ Tổ và TT Sinh Hoạt 11/2016

§

§ Nói với người Gia Long Brisbane-Oct 2016

§ Gs Phạm Thị Nhung- Diễn văn tại ĐHTG 2013-Vinh danh trường G ia Long

§ Hoa Mai Vàng Gia Long

§ Danh Sách Hoa Mai Vàng Gia Long

§

§ Hoàng Lan Chi -Gia Long 60-67

§ Hoàng Lan Chi với Gia Long Brisbane- August 2016

§ Sự việc sách Áo Tím GL của Bích Vi (Võ Thị Hai)- Feb 20 16

§ Tài Liệu về GLMK Huệ Ngô và Cờ Vàng trên hình t rường Gia Long -March 12, 2016

§ Sự khác biệt giữa hai người Gia Long

§

§ Báo Xuân ngày xưa và Em gái Gia Long -Kỷ niệm Sài Gòn cũ-Sep 201 6

§ Hoàng Lan Chi -Gia Long 60-67

§ Hoàng Lan Chi với Gia Long Brisbane- August 2016

§ Sự việc sách Áo Tím GL của Bích Vi (Trần T Hai)- Feb 20 16

§ Sự khác biệt giữa hai người Gia Long

§ Kỷ Niệm 2 Năm Thành Lập Bạn Hữu Tình Thâm ( Gia Long và Thân Hữu ) ngày 2/11/2014 tại hội trường Việt Báo

§ Người Chu Văn An với người Gia Long

§ Nhạc Nguyễn Văn Đông -Cô NữSinh Gia Long -Diệu Thanh và Chế Linh ca

§ Tuý Hương- Những tấm lòng GIA LONG

§ Danh sách các Gia Long đồng ý bảo vệ chính danh của Hộ i ái hữu cựu nữ sinh GIA LONG

§ Nguyễn Phương Thuý (GL 66-73)-Có Mấy Gia Long

§ Đỗ Anh Tài-Lá vàng rơi trên những trái tim hồng của Mùa Thu Áo Tím Gia Long

§ Một ngày 75 mất tên Gia Long- Một ngày 2013, một cựu GS Gia Lon g đòi cho Minh Khai nhập vào Gia Long

§ Tuý Hương- Thư Kêu Gọi về việc bảo vệ chính danh hội ái hữu CNS GIA LONG

§ Sự Khác Biệt Giữa Gia Long Thuần Tuý với GL Không Trọn Vẹn

§ Đại Hội Gia Long TG Kỳ 6: Văn Nghệ Truyền Thống Dân Tộc Đặc Sắc

§ Các Hội Ái Hữu GL nên cư xử thế nào với nhóm GL-MK đang ở hải ngoại và đang ở trong nước VNCS?

§ Ai biểu, ai biểu và ai biểu!

§ Hỏng phải dân Gia Long đâu à ngheo!

§ Chuyện Gia Long và chuyện Đại Việt Đảng

§ Thư trả lời của Ban Tổ Chức ĐH Gia Long Thế Giới K ỳ 6-Nhận xét của GL Hoàng Lan Chi

§ Chủ Nhật tìm Ngũ Cung để thơm ngát Hương Ngọc Lan

§ Một ngày Gia Long, một đời Gia Long

§ Họp mặt 2004 với nhóm Gia Long và thân hữu tại Nam Cali

§ Trường Xưa Thầy Cũ

§ Gia Long và chỉ Gia Long

§ Chút tâm tình về Đại Hội Gia Long Thế Giới tại San Jose 2011

§ “Kiến Tường” xe lăn của Gia Long Hơn

§ Gia Long trường tôi

§ Hậu “Gia Long và chỉ Gia Long”

§ “Người Tình 36 Năm Của Lan Chi”

§ Gia Long ngày ấy

§ Tình sử của tôi với cô Phạm Thị Nhung

§

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Những bài Hoàng Lan Chi viết về Gia Long

Những bài viết về Phạm Duy

Những bài viết về Phạm Duy

§ “Xuân Vũ: Đường Đi Không Đến” by Phan Quang Trọng

§ Phạm Duy- Tình Hoài Hương

§ Phạm Duy-Tình Ca

§ Quê Nghèo-Phạm Duy

§ Phạm Duy- Tình Hoài Hương

§ Phạm Duy- Forgive or Forget

§ Phạm Duy Trong Mắt Tôi

§ Châu Đình An-Phạm Duy: Còn Gì Đâu Trong Cuộc Được Thua

§ Chuyện Làng Cỏ với bảng “Kẻ Cưỡng Hiếp Xác Chết” ở đầu làng-(Ngu yễn Hữu Nghĩa-Phạm Duy) Feb 2013

§ Bài của Nguyễn Hữu Nghĩa-Bài Châu Đình An (Kẻ cưỡng hiếp xác chế t) -Vài ý kiến ( Phạm Duy chết)- Feb 2013

http://hoanglanchi.com/hoanglanchi/dao/3hungson.html

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Những bài viết về Phạm Duy

Tháng Tám Mùa Đông. Chuẩn bị hành trang giã từ cõi nh ân gian -Aug 9, 2020

Hoàng Lan Chi

Tháng Tám Mùa Đông. Chuẩn bị hành trang giã từ cõi nhân gian

Bây giờ là tháng Tám. Tháng Tám là mùa Thu với hoa cúc vàng, với lá đỏ, với gió heo may và với trời se lạnh.

Tháng Tám ở đây bây giờ cũng y như thế dù rằng không phải mùa Thu. Nắng đang trải đường đi. Vàng óng và ấm áp.

Đây này, em ngồi bên cửa sổ (nhưng không có ai dựa tường hoa vì anh và vài người em yêu mến thì đã đi xa mất rồi) và ngắm nắng vàng trải đường đi này. Em vẫn có cái thú ngồi bên cửa sổ viết lách và ngắm cảnh bên ngoài vì con đường của em rất thanh bình và yên tĩnh anh ạ. Vào mùa hè, con đường rợp hoa phượng tím nữa cơ

Nắng trải đường đi, gió hôn bờ tóc

Mùa Thu vàng, anh còn nhớ không anh

Trong tiết trời ấy không dưng em nhớ đến anh, đến những kỷ niệm xưa cũ của một thời mới lớn. Thì em vẫn thích khuôn mặt đẹp trai ngày ấy của anh, tính nết ngang tàng rất đàn ông và cả cái lời tỏ tình dễ thương mà em vẫn nhớ đến bây giờ. Em chỉ muốn nhớ đến anh của thời chúng ta mới lớn ấy mà thôi. Họa chăng nếu có thêm chút đỉnh nữa thì là khi anh lái xe mấy giờ đường xa đến thành phố tình yêu của thủ đô Hoa Thịnh Đốn để đưa em đi xem lễ hội hoa anh đào.

Anh này, lâu lắm rồi không nhớ mùa Thu Sài Gòn ngày ấy ra sao nhỉ. Có lẽ cũng vẫn có cúc vàng trước ngõ. Có lẽ cũng có chút se lạnh vào sáng sớm. Anh còn nhớ không, con đường đến trường của chúng ta, em vẫn cho là đẹp nhất vì rất yên tĩnh, rất thanh bình, rộng rãi thênh thang và hai hàng cây còng me tây với tán lá xòe rộng làm con đường rợp bóng mát. Đường đến trường Văn Khoa-Dược Khoa cũng đẹp nhưng ồn ào xe cộ quá. Đường của Luật Khoa thì bé nhỏ, bờ hẹp , nhiều gốc cây già trồi lên khúc khuỷu đường đi bộ .Em đã phản đối với Phạm Duy "Chú cứ vẽ vời chứ con đường tình ta đi của chú chả đẹp tí nào”. Ông cụ ấy có thể kiêu hãnh với ai chứ với em thì lúc nào cũng kiên nhẫn, nhẹ nhàng.

Tháng Tám chúng ta sẽ không còn những ngày hè nữa anh nhỉ. Hè của anh thường là Đà Lạt vì anh mê cảnh Đà Lạt, mê con gái Đà Lạt. Hè của em là ngấu nghiến đủ mọi truyện vì em mê đọc sách. Nhưng có một mùa tựu trường khi Tháng Tám chưa đi hẳn, sân trường còn vắng vẻ và đôi ta quen nhau ngày ấy, ngày chúng ta cùng ghi danh cho chứng chỉ Hóa Hữu Cơ. Ô cửa sổ ghi danh nhỏ chỉ có anh và em. Chúng ta không được ghi vì muộn. Em năn nỉ và đã được. Khi ra thấy anh tần ngần thì em hỏi và ”cô bé” xí xọn lại vào phòng Tổng Thư Ký Thái để năn nỉ giúp anh. Rồi anh bắt hộ con sâu trên tay em. Bữa đầu tiên của thuở quen nhau- thời mới lớn là như thế đó. Chả có thơ mộng gì hết cả. Em không phải là Hoàng Thị Ngọ với tóc dài tà áo vờn bay. Em là Quỳnh Giao tròn trĩnh mũm mĩm với tóc ngắn và cúp. Chỉ có tà áo dài trắng là giống nhau. Thế nhưng sau đó thì Quỳnh Giao được biến thành Phượng Quỳnh của vài tờ báo Sài Gòn mà nhiều nhất là ở Tiếng Vang đã làm anh mê mẩn.

Cũng chưa bao giờ em hỏi cảm tưởng của anh khi gặp em lần đầu ra sao vì ngày ấy em thấy em quá tầm thường. Vẻ ngoài rất tầm thường vì luôn áo trắng học trò và có lẽ cả cái nhan sắc cũng rất là ngố.

Đây cái cô bé bị cả họ hàng gọi là ”Giao Tồ" vì quá ngố, quá tồ, có gì đặc biệt đâu ngoài vẻ mủm mĩm như búp bê và đôi mắt to đẹp như tây lai.

Em mười tám, mắt xoe tròn thật ngố

Nhan sắc này chưa phải lúc trổ hoa!

Còn em nghĩ gì về anh? Chả nghĩ gì cả vì ngày đó vẫn chăm học và cũng vì anh chỉ được cái đẹp trai chứ chiều cao thì không phải là người để em có thể tựa bờ vai.

Tháng Tám ở đây em vẫn có cúc vàng, hồng đỏ và mầu lá thì rực rỡ vô cùng. Anh xem này, khu vườn hồng be bé của em có hồng vàng, hồng đỏ, hồng tỷ muội và hồng phớt mùi rất thơm anh ạ

Mỗi buổi sáng ngắm hồng qua cửa sổ

Tìm niềm vui thật bé nhỏ cho một ngày

Anh thấy chưa, Tháng Tám mùa đông Brisbane của em mà cây cối xinh tươi đẹp quá chứ, phải không nào. Chỉ còn thiếu một người bạn tri kỷ để cùng nhau thưởng thức tách cà phê trong khu vườn bé ngát hương hồng, thơm mùi ngọc lan.

Anh ơi, anh có còn nhớ một ngày của cuối tháng Tám, anh vừa từ Đà Lạt hạ san về thành phố, anh đến Khoa Học tìm em không? Hôm ấy giờ thực tập Hóa Hữu Cơ. Anh tỉnh bơ đi vào chỗ em và cũng tỉnh bơ nói "Tôi mới đến nhà Quỳnh Giao đấy. Ba QG nói QG đi học nên tôi đến đây". Em tròn xoe mắt. Vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi. Ngạc nhiên vì con bé ngốc, khờ như em tự hỏi vì sao anh biết được địa chỉ nhà em. Đã nói ngày xưa ”con bé” ngốc mà lị. Có gì đâu, chỉ cần cầm cái phiếu thực tập liếc vào là biết ngay địa chỉ. Sợ hãi vì ba vẫn tuyên bố "Đậu Trung Học, trả ¼ tự do. Đậu Tú Tài 1: trả tiếp ¼. Đậu Tú Tài 2: trả tiếp ¼ nưã. Đậu xong đại học: trả nốt ¼ cuối cùng. Còn bây giờ là CẤM. Không được có bạn trai. Không cho bạn trai tới nhà”.

Thế nhưng chắc số trời nên khi về nhà, em run muốn chết tưởng bị chửi hay ăn chổi chà thì bố chỉ nói "Hồi nãy có thằng nào tên T đến kiếm cô đấy”.

Coi như anh là người bạn trai đầu tiên đến nhà. Anh là người bạn trai duy nhất chở em đi xem cine. Anh là người bạn trai đầu tiên đã hôn em. Anh là người bạn trai đã tỏ tình với em thật dễ thương "Quỳnh Giao ơi, anh dặn cái này nhé. Từ nay, em chỉ được chơi với anh thôi. Không được chơi với tên con trai nào hết nhé".

Anh là người con trai đầu tiên cài cho em một đóa hoa ngọc lan trên tóc để cả đời sau này em say đắm hương ngọc lan.

Anh xem này, cây ngọc lan của em bây giờ chỉ khoảng 30 cm mà đã ra mấy đợt hoa. Có đợt cả 10 hoa. Hương ngọc lan bao giờ cũng thơm ngát, thanh khiết anh nhỉ

Ngọc Lan thật bé nhỏ mà mỗi năm hoa không nhỏ tí nào

Em cũng là một đóa ngọc lan của cô Phạm Thị Nhung đó anh

Mấy chục năm sau, anh cũng là người đầu tiên đưa em đi xem Lễ Hội Hoa Đào ở Hoa Thịnh Đốn. Hoa anh đào cũng thật đẹp, thanh khiết. Anh đào trắng, hồng rũ bóng bên giòng Potomac là kỷ niệm và cũng là hình ảnh đẹp nhất của Virginia, của thời gian em mới đến vùng trời Hoa Kỳ từng mơ ước. Đây là hình ảnh của em bên giòng Potomac, với Lễ Hội Hoa Anh Đào mà anh đã chụp cho em ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Bây giờ là Tháng Tám. Tháng Tám Mùa Thu bên này và mùa Đông bên kia. Thế hệ chúng ta đang ở vào mùa Đông. Thế hệ chúng ta đã nhiều người lên chuyến tầu trước rồi. Anh cũng đã lên. Vài người em yêu mến cũng đã lên.

Mong sao em cũng sẽ lên chuyến tầu ấy vào Tháng Tám để có nắng thu vàng óng, có hoa cúc vàng tươi, có hồng phớt nhẹ, có heo may se lạnh, để em được những người em yêu mến đón em bằng những tình ca nồng nàn, những bi hùng ca đã một thời làm em say đắm ở chốn ”nhân gian” đầy sóng gió. Chắc chắn sẽ có hai nhạc sĩ lừng danh của một thời Việt Nam lộng lẫy mở rộng vòng tay đón em, ‘’cô bé Gia Long, con người Khoa Học’’ mà yêu tình ca quê hương nồng nàn, yêu bi hùng ca Việt Nam đắm đuối.

Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp: https://youtu.be/JioNW4vI7C8

Tình Ca, Ngày Xưa Hoàng Thị: https://youtu.be/ixPaDvubffU

Hoàng Lan Chi

8/2020

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Tháng Tám Mùa Đông. Chuẩn bị hành trang giã từ cõi nh ân gian -Aug 9, 2020