Trump đang làm cách mạng ở HK-Bao giờ giới trẻ VN viết trang sử mới- July 25, 2017

Hoàng Lan Chi

TRUMP ĐANG LÀM CÁCH MẠNG TẠI HOA KỲ

BAO GIỜ GIỚI TRẺ VN VIẾT TRANG SỬ MỚI?

Ngày 22/7/2017 tại lễ bàn giao Hàng Không Mẫu Hạm USS Gerald R. Ford trị giá 13 tỷ, Trump đã gửi “Thông điệp 100.000 tấn”.

Nhiều người rất thích trước bài viết ngắn, thật ngắn của tôi vì câu nói của Trump “Ở bất cứ nơi nào mà chiếc tàu này đi ngang qua chân trời, đồng minh của chúng ta sẽ an tâm và kẻ thù của chúng ta sẽ run sợ vì mọi người đều biết rằng Mỹ đang tới và Mỹ đang tới một cách oai phong," Và chỉ có thể là “Thắng, Thắng và Thắng”!

Không chỉ công dân Mỹ thích mà nhiều công dân Úc, Pháp, Canada… cũng thích.

Tại sao vậy? Tại vì đó là sức mạnh của khối Tự Do, chống lại với Nga Cộng, Tàu Cộng và Hàn Cộng (ba tên đầu sỏ của khối cộng).

Sức mạnh ấy chỉ có thể có ở Hoa Kỳ. Không một quốc gia nào như Canada, hay Pháp, hay Đức có thể có được sức mạnh ấy. Giản dị là Thượng Đế đã đặt để trách nhiệm đó lên vai Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Không phải tự nhiên mà Thượng Đế đã đặt để những đầu óc vĩ đại được sinh ra ở Hoa Kỳ và các đầu óc này đã đặt nền móng cho dân chủ từ thuở lập quốc của Mỹ. Không phải tự nhiên mà những tài năng khắp thế giới có nguồn gốc Do Thái, Đức, Pháp, Anh, Canada, Nhật, Ấn độ v.v. đã di cư đến Hoa Kỳ để cùng đóng góp cho những tiến bộ khoa học vĩ đại.

Không phải tự nhiên mà quốc gia này có những tài nguyên phong phú.

Sức mạnh quân sự của Mỹ không chỉ là kết quả của người Mỹ da trắng mà còn là kết quả của những giòng máu Do Thái, Đức, Anh, Pháp, Canada, Nhật, Vietnam …làm nên khi những đôi chân này giong ruổi trên khắp các vùng đất Hoa Kỳ. Tôi phải kê cả Việt Nam vào đó vì tôi nhớ đến phát minh của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và nhóm của cô. Đó cũng là sự đóng góp của một giòng máu Việt vào “SỨC MẠNH CỦA HOA KỲ”.

Câu nói của Trump đẹp đẽ biết bao khi nhắc nhở rằng ở nơi nào mà Hàng Không Mẫu Hạm này đi qua thì các đồng minh sẽ yên tâm và kẻ thù phải run sợ. Mỹ đang tới và tới hết sức oai phong!

Vâng, ngược dòng lịch sử cùng nhớ lại Thế Chiến Thứ Hai để thấm thía câu nói ấy: Mỹ đang tới và đồng minh hãy yên tâm.

Hãy nghe hai mẩu chuyện nhỏ về lịch sử để nhận thức rõ Mỹ Tiến Tới Ra Sao

Một, vào đầu thập niên 60s, trong cuộc họp với các nhà lãnh đạo Châu Âu để thỏa hiệp sống chung hòa bình với các nước CS Đông Âu. Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle muốn lấy lòng CS nên đã đơn phương quyết định rút ra khỏi Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương ( NATO). De Gaule nói “Quân Đội Hoa Kỳ PHẢI RÚT RA KHỎI NƯỚC PHÁP CÀNG SỚM CÀNG TỐT”. Ngoại Trưởng Rusk nhìn thẳng vào mặt Tổng Thống De Gaulle từ tốn hỏi "Thưa Tổng Thống! lệnh này có bao gồm luôn cả các Quân Nhân Hoa Kỳ từng được chôn cất tại đây hay không?" (Ghi chú: lính Mỹ tử trận tại Pháp rất nhiều khi giúp Pháp chống Đức Quốc Xã). Im lặng bao phủ.

Hai, cụ già Người MỸ 84 tuổi , Robert Whiting tới Paris bằng phi cơ. Vì già cả chậm lụt, nên cụ phải mất thời gian lục tìm sổ thông hành. Nhân viên di trú cự và hỏi cụ có biết phải chuẩn bị sẵn passport không. Cụ nói «Trước đây khi đến Pháp, tôi không cần phải xuất trình Sổ Thông Hành gì hết cả". Nhân viên di trú nổi nóng cự «Chuyện vô lý, người Mỹ bao giờ cũng phải xuất trình Sổ Thông Hành khi tới Pháp". Cụ Whiting đưa mắt nhìn nhân viên Di Trú thật lâu rồi nhẹ nhàng giải thích "Thật vậy sao! Trước đây khi tôi đổ bộ lên bãi biển OMAHA nước Pháp trong ngày D Day năm 1944 để giải phóng nước Pháp thoát khỏi sự thống trị của Đức Quốc Xã, TÔI ĐÃ KHÔNG TÌM THẤY MỘT NGƯỜI PHÁP NÀO Ở ĐÓ ĐỂ MÀ TRÌNH SỔ THÔNG HÀNH CẢ". Im lặng bao phủ.

Chuyện xưa là thế đó.

Chiến lược toàn cầu sẽ thay đổi tùy giai đoạn và TT Mỹ luôn đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên hết. NHƯNG với những ai là đồng minh thì Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng TIẾN TỚI, TIẾN RẤT OAI PHONG VÀ SẼ CHIẾN THẮNG.

Nhật, Đài Loan, Đại Hàn, Úc đã mau chóng đưa bàn tay thân ái ngay sau khi Trump đắc cử tổng thống thứ 45.

Rồi tiếp theo là Saudi Arabia, là Do Thái, là Ba Lan.

Mới nhất là Macron với hình ảnh “chạy” lại đứng cạnh Trump ở G20, sự đón tiếp dành cho Trump trong Juillet 14th, cho thấy nước Pháp với nền kinh tế ấy, với khối dân chúng kiểu ấy, thì Macron đã rất khôn ngoan khi chọn Mỹ là đồng minh.

Nhiều năm xưa Mỹ đã đổ máu vì Pháp. Năm nay Hàng Không Mẫu Hạm xuất hiện là một bảo đảm cho nền độc lập của xứ sở từng một thời nổi danh là kinh đô thế giới.

Bà Merkel sẽ hành xử ra sao để bảo đảm cho nước Đức thân yêu của bà?

VNCS rất muốn chọn Mỹ nhưng khốn khổ thay, số phận VNCS đã không cho phép VN được quyền tự do chọn lựa đồng minh mạnh nhất. Cái “số phận” ấy là kết quả từ sự chọn lựa ngu xuẩn trước kia của Hồ Tặc. Muốn thay đổi “số phận” này, giới trẻ VN hãy mau chóng kết hợp cùng với công an, quân đội và làm lịch sử. Có như thế, các bạn và con cháu các bạn mới được sống trong một xã hội tự do-dân chủ như chúng tôi đang được hưởng ở Mỹ.

Chiếc bánh Tự Do- Dân Chủ đẹp đẽ vô ngần không từ trời rơi xuống. Nó phải được làm từ chính người Việt trong nước với sự hỗ trợ của người Việt tha hương.

Trump đang làm cách mạng cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Chần chờ gì nữa? Giới trẻ VN cũng hãy làm cách mạng cho quốc gia của mình!

Hoàng Lan Chi

7/2017

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Gọi Tên Các Giọng Hát- july 22, 2017

GỌI TÊN CÁC GIỌNG HÁT

Không biết ai là người đầu tiên ở VN gọi tên cho các giọng hát? Phải chăng là Mai Thảo gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Vượt Thời Gian. Sau đó là Con Chim Vàng Mỹ Tho (Hoàng Oanh), Nhạn trắng Gò Công ( Phương Dung) Tiếng Hát Học Trò ( Thanh Lan). Và còn ai nữa mà tôi không nhớ nhỉ?

Cá nhân tôi yêu thích tiếng hát Hà Thanh nhất là khi HT hát nhạc về Huế hay nhạc của Nguyễn Văn Đông. Trong các “nhạc lính” tôi yêu giòng nhạc Nguyễn Văn Đông nhất vì tính cách “sang cả” và “hào hùng”. Tiếp đó là giòng nhạc Trần Thiện Thanh vì tính chất tình tứ, lãng mạn. Vì yêu thế nên khi được tin chị Hà Thanh trên giường bệnh vào 2014, tôi đã viết “Hà Thanh, Tiếng Hát Hoa Đào”. Trong đó tôi cũng giải thích vì sao tôi đặt tên như thế cho giọng hát Hà Thanh.

THÁNG BẨY 2017

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa đăng lại bài viết về ca sĩ Quỳnh Giao nhân kỷ niệm ba năm ngày giỗ của hiền thê của ông.

Trong dịp này, một bạn, ô Marc Vũ, nhắc lại rằng Phạm Duy gọi QG là “tiếng hát thủy tinh”. Ô Nghĩa đính chính đó là cô Châu Hà. Ông Marc Vũ không chịu. Ông kể lại chuyện từ đâu mà Phạm Duy gọi QG như thế và cô Châu Hà chỉ là “nhắc lại” mà thôi. Tôi nghĩ có lẽ Marc Vũ đúng hơn.

Bàn về giọng hát Quỳnh Giao thì tôi cho rằng tôi nghiêng về Nguyễn Ngọc Sơn hơn khi Sơn gọi Qg là “Tiếng Hát Thiên Sứ”. Phạm Duy đặt “Tiếng hát thủy tinh” thì cũng hay nhưng theo tôi chưa lột tả được hết tinh hoa trong giọng hát QG.

Xuân Nhu thấy bàn luận thế thì “dè dặt” đề nghị gọi Khánh Ly là “Tiếng hát hoa Anh túc”. Ông Xuân Nhu đã quên rằng ông nên giải thích vài giòng vì sao ông đề nghị vậy. Còn cá nhân tôi thì tôi “trêu” ô Xuân Nhu vầy: tôi “không dè dặt” gì cả mà nói thẳng rằng vì TCS là tên phản bội nên tôi không nghe Khánh Ly nhiều. Với tôi, giọng Khánh Ly không có gì đặc biệt hay quyến rũ. Hơi thì ngắn. Giọng ngang phè phè. Không lên cao được ở những nốt cao. Chính vì cái hạn hẹp ấy của Khánh Ly mà KL chỉ có thể hát nhạc TCS.

Nhạc TCS là một loại nhạc không cao về nhạc thuật, rất dễ cho mọi người già trẻ lớn bé nghêu ngao. Trong khi đó thì vài bài của Phạm Duy chỉ có vài người là có thể hát hay như Thái Thanh, Hà Thanh, Quỳnh Giao (Đường Chiều Lá Rụng). Khánh Ly không bao giờ “với tới” được những nhạc phẩm “cao” như thế.

Tôi gọi Khánh Ly là “tiếng hát đoản mệnh”! ( vì cái hơi ngắn và thấp).

Để gọi tên cho một giọng hát có lẽ cần xem vài yếu tố sau: giọng hát đó khiến người nghe liên tưởng đến cái gì ( tiếng hót của loài chim nào, vẻ đẹp của loài hoa nào) ; hoặc giọng hát đó đặc biệt đến nỗi SẼ không bao giờ tàn phai với thời gian; hoặc tượng trưng cho nơi sinh quán của ca sĩ.

Cá nhân tôi thích hoa hơn chim nên tôi ưa thích ví von giọng hát nữ ca sĩ với các loài hoa.

Loài hoa nào xứng với giọng hát ngọt ngào như mật của Ngọc Lan nhỉ?

Hoàng Lan Chi

7/2017

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Nguyễn Khắc Phước- Tìm Hiểu về Các Loại Tiền của VN- July 19, 2017

LGT: bài khảo cứu về các loại tiền của VN xưa. Rất hay và có giá trị.

Đi Chợ Tính Tiền- TIỀN VN XƯA

anhtet-baophapluat_TLCQ.jpg.ashx?width=620

Hình internet

" Đi chợ tính tiền "là một bài ca dao lục bát. Bài đã được in làm Bài Học Thuộc Lòng cho học sinh lớp "sơ đẳng" (tức lớp 3) trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư năm 1948. Bài thơ kể chuyện một người phụ nữ đi chợ về, phải trình bày minh bạch, rõ ràng việc chi tiêu với chồng.

Ngày xưa khi học bài này thầy giáo chỉ nêu đại ý như rứa, đồng thời nêu bật tính đảm đang, vén khéo của người phụ nữ xưa… sau đó yêu cầu học sinh học thuộc. Thầy không giảng về bài toán ẩn trong bài thơ, có lẽ vì thời thế đã khác (Khoảng năm 1958, chưa được vào trường công lập, người viết học với Ông giáo… ở khoảng giữa cầu An Cựu và lăng Vạn Vạn, không biết có phải là thân sinh của nhà văn Hải Triều không?) đồng tiền cũng đã đổi thay, hoặc giải bài toán chắc chi những học trò nhỏ hiểu được.

Đã hơn năm mươi năm, bây giờ người học trò xưa đang ngồi ôm tóc trắng… một ngày mưa ngồi buồn chợt nhớ thầy đồ nơi xóm cũ ngày xưa chừ không còn, nhưng bài thơ vẫn còn đọng mãi trong đầu của bài Học thuộc lòng thưở ấy. Bèn tìm giấy giải thử. Ngay câu thơ đầu tiên đã gặp ngay vấn nạn.

"Một quan tiền tốt mang đi". Một quan là bao nhiêu? Quan là đồng tiền cổ, những người muôn năm cũ giờ không còn, biết hỏi ai đây? Chợt nghe vang vang trong đầu một bài nhạc của nhạc sĩ Văn Phụng:

Một quan là sáu trăm đồng.
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.

(Thơ của Nguyễn Bính) Vận dụng cả 4 phép tính cộng trừ nhân chia, đảo xuôi ngược, lên xuống… mãi vẫn không đủ 600 đồng cho một quan tiền!

Lại phải đi tìm trong lịch sử. Trong một ngàn năm Bắc thuộc, dân Việt không có đồng tiền riêng. Mãi đến sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dân Việt vẫn còn dùng đến đồng tiền của phương Bắc. Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế với đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, niên hiệu Thái Bình. Năm 970 nhà vua đã cho đúc những đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo. Đây chính là những đồng tiền đầu tiên của người Việt. Từ đó tiếp đến những triều đại sau đều theo.

Đơn vị để tính tiền xưa gồm có: quan, tiền, đồng. Mỗi quan có giá trị là 10 tiền, mỗi tiền bằng bao nhiêu đồng tùy theo quy định của mỗi thời đại. Theo sử sách giá trị đồng tiền các thời đại như sau:

1/ Năm 1225, vua Trần Thái Tông định phép dùng tiền. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 70 đồng.

2/ Năm 1428, vua Lê Thái Tổ cho đúc tiền Thuận Thiên. Một quan bằng 10 tiền. Một tiền bằng 50 đồng.

3/ Năm 1439, vua Lê Thái Tông quy định 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng. Như vậy 1 quan = 10 tiền = 600 đồng.

Từ đó các triều đại về sau, mỗi khi đúc một loại tiền mới đều theo tỷ lệ này, cho đến cuối triều Nguyễn năm 1945. Chỉ có tên đồng tiền là thay đổi theo tên hiệu.

Năm 1905, chính quyền bảo hộ Bắc kỳ cho phát hành loại tiền đúc bằng hợp kim kẽm. Loại tiền này mặt trước in chữ Pháp, mặt sau ghi chữ Hán, có giá trị tương đương các loại tiền đồng như Gia Long Thông Bảo, Minh Mệnh Thông Bảo, Thiệu Trị Thông Bảo và Tự Đức Thông Bảo. Trong những đời vua sau của nhà Nguyễn còn có thêm hai đồng tiền khác là Khải Định Thông Bảo và Bảo Đại Thông Bảo, hai loại tiền này không đúc như những đồng tiền xưa mà được dập bằng máy dập nhập từ nước Pháp.

Đến đây chắc chắn là bài toán ẩn bên trong bài ca dao đã giải được. Ghi lại như sau, bên phải là các phép tính đã giải.

ĐI CHỢ TÍNH TIỀN

Một quan tiền tốt mang đi, 600
Nàng mua những gì chàng tính chẳng ra.

Thoạt tiên mua ba tiền gà,

3×60 = 180

Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.
60+30+3 = 93

Trở lại mua sáu đồng cau, = 6

Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng.
(1,5×60)+10 = 100

Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi.

60+30+6 = 96

Ba mươi đồng rượu chàng ơi, = = 30
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.

30+20 = 50

Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn, kẻo chàng hồ nghi.

2×7 = 14

Hăm mốt (21) đồng bột nấu chè, = = 21

Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan. = Cộng 10

= 600 chẵn

hinh-12-1435374884.jpg

Hình internet

Trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, bên dưới bài học thuộc lòng này có 3 từ giải nghĩa, ghi nguyên văn như sau:

"GIẢI NGHĨA:
Tiền tốt = tiền tiêu được.
Vàng = đồ làm bằng giấy cúng rồi đốt đi.
Hồ nghi = ngờ vực, không biết rõ".

Những giải nghĩa này chỉ để giải thích cho lớp học trò tóc còn để chỏm, dễ hiểu, dễ nhớ. Đi chợ tất phải đem theo tiền, tiền phải có giá trị trong mua bán… là chuyện đương nhiên.

Nhưng sao gọi là tiền tốt? Một bài ca dao được lưu truyền, được in trong sách giáo khoa từ lúc ra đời (Bản in đầu tiên năm 1927) đến lúc cải tiến thay đổi, không lẽ vì bí vần mà viết vụng thế sao! Thế là người viết phải đi tìm tiếp.

Có một giai thoại trong văn học về Bà Chúa thơ Nôm. Chuyện kể rằng Hồ Xuân Hương thiếu tiền bèn hỏi mượn của Chiêu Hổ 5 quan để tiêu tạm.

Chiêu Hổ gởi tiền đến, đếm hoài vẫn chỉ thấy có 3 quan. Nữ sĩ bèn làm bài thơ trách người cho mượn tiền:

Sao nói rằng năm chỉ có ba.
Trách người quân tử hẹn sai ra.
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt.
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

Chiêu Hổ họa lại:

Rằng gián thì năm, quý có ba.
Bởi người thục nữ tính không ra.
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt.
Cho cả cành đa lẫn củ đa.

Trong bài hoạ của Chiêu Hổ có chữ gián và quý. Đây là cơ sở dẫn người viết đi tìm tiếp. Đã "có công tất… chồng không phụ", kết quả đã tìm được:

Khoảng thế kỷ 18, dưới triều vua Minh Mạng có hai loại tiền lưu hành. Đó là tiền quý và tiền gián, tỷ lệ như sau: 1 quan quý = 600đồng. 1 quan gián chỉ bằng 360 đồng. Khi hỏi mượn tiền, Hồ Xuân Hương chỉ nói mượn 5 quan, không nói là quan gì. Gặp lúc Chiêu Hổ chắc cũng đang thiếu nên chỉ cho mượn số tiền thấp xuống, nhưng vẫn đủ 5 quan:

Quan quý: 3×600 =1800 đồng
1800:360 = 5 quan gián

Giá trị của các loại tiền xưa như thế nào? Đây là những số liệu về lương tiền dưới triều vua Minh Mạng.

- Quan Nhất Phẩm lãnh mỗi năm 400 quan, 300 phương gạo, 70 quan tiền Xuân Phục, tức tiền áo quần.

- Quan Chánh ngũ phẩm, hàng tri phủ mỗi năm lương 40 quan, 43 phương gạo, 9 quan tiền Xuân Phục.

- Lính, thơ lại, phục dịch… lương mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo. Đồng quan ngày xưa nó to thế. Chẳng trách người ta bỏ… quan ra để mua phẩm hàm, chức tước… để được làm quan!

Chẳng trách người phụ nữ "thời xưa" (tên khác của bài thơ Trăng sáng vườn chè) quên cả thanh xuân, gác tạm những ẩn ức, dồn nén để một ngày chồng vinh quy về làng… cùng nhau trải trọn trong một đêm trăng!

Qua những số liệu vừa tìm được, ta có thể thấy rõ bài ca dao "Đi chợ tính tiền" xuất hiện sớm nhất phải từ thời Minh Mạng. Bởi từ lúc này mới có "Một quan tiền TỐT" mang đi. Tiền tốt chính là tiền quý, phân biệt với tiền gián có giá trị thấp hơn.

Cũng thấy được, người phụ nữ trong một buổi chợ quê đã tiêu số tiền bằng lương tháng một người lính. Nhà nàng chắc phải có chuyện quan hôn, kỵ giỗ chi đây!

Thật thú vị, để giải bài toán ẩn bên trong bài ca dao, đã phải đi loanh quanh, lòng vòng. Gặp những bài thơ hay, giai thoại đẹp, biết thêm vài điều về lịch sử… Nếu không có Internet chắc gì người viết đã giải được bài toán ẩn bên trong bài ca dao cổ? Chỉ nghĩ đến kho sách phải lục tìm, những thư viện phải đi đến… đã thấy chồn chân chẳng muốn trèo!

Ng Khắc Phước
-http://www.cuuhocsinhtranquycaphoian.com

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Phạm Duy nói về Thái Hằng

Hồi ký Phạm Duy nói về Thái Hằng :

Vào đầu năm 1949, sau khi tất cả mấy anh em Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung), Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Băng Thanh (tức Thái Thanh) đã gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên Khu IV rồi thì hai ông bà Thăng Long cũng rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hoá để được sống gần gũi các con.

Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, cách làng Ngò khoảng vài cây số, thuê lại căn nhà lá của một nông dân tên là Cò Mại và mở một quán phở vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Chợ Neo là một chợ quê rất bé, trước kia chỉ có lèo tèo vàigian nhà trống dùng làm nơi họp chợ của dân điạ phương, bây giờ thì có thêm khoảng trên hai chục cửa hàng là những túp nhà lá do dân di cư’ dựng lên. Quán Thăng Long nằm ở ngay trước mặt một ngôi chùa nhỏ, chung quanh chùa có đào nhiều hố tránh máy bay.

Vì cùng là đội viên của đoàn văn nghệ quân đội và vì không có ai là người quyến thuộc cho nên vào những ngày nghỉ, tôi thường hay theo Phạm Đình Viêm và Thái Hằng về chơi quán Thăng Long.

Đã quen biết hai ông bà từ ngày ở Chợ Đại cho nên tôi được ưu đãi. Tôi được ăn uống, nghỉ ngơi và ngủ luôn tại quán, giường ngủ là hai cái bàn trong quán ăn kê xát lại nhau. Cùng với Viêm, Chương, Thái Hằng, Băng Thanh, chúng tôi ngồi đàn hát với nhau suốt ngày hoặc cùng với đội viên của đoàn văn nghệ đóng quân ở gần đây, kéo nhau ra sông máng để tắm táp, bơi lội.
Khi nhìn thấy mấy cô trong đoàn mặc maillot de bain nhẩy plongeon xuống nông giang thì bộ đội đi hành quân trên bờ đê đã… điên lên.
. . .
Khi còn ở Chợ Đại, tôi cũng thoáng biết tới cô con gái lớn của Quán Thăng Long, được nghe cô đánh đàn guitare hawaiwenne và hát chung với mấy người anh, nhưng lúc đó tôi không năng tới quán ăn này để tán tỉnh nàng – như thường lệ mỗi khi gặp bất cứ người đẹp nào – bởi vì tôi còn đang quá bận bịu với những chuyện vui chơi của tôi.

Vả lại lúc bấy giờ cũng có khá nhiều cây si được trồng tại quán Thăng Long. Các chàng si này, nếu phải mài kiếm dưới trăng để so kiếm, lại toàn là những tình địch trong nghề như Đinh Hùng, Huyền Kiêu, Bùi Xuân Phái, Ngọc Bích…
Vào tới Khu IV, tuy cùng hoạt động chung với nhau trong đoàn văn nghệ, nhưng tôi và Thái Hằng chỉ là hai người bạn đồng đội và sống riêng biệt.

Mới đầu tôi chỉ thấy Thái Hằng là người hiền lành, xinh xắn, dễ thương nhưng ít vui và rất hà tiện trong sự biểu lộ tình cảm.
Nay được ở gần nàng luôn luôn và vì tôi là người lém lỉnh cho nên nàng không thể im hơi lặng tiếng được nữa. Thế là chuyện này chuyện nọ được trao đi đổi lại như giữa bất cứ một đôi trai gái nào.
Rồi sau khi những chuyện thông thường đã mòn, chúng tôi nói tới chuyện riêng. Tôi hiểu được vì sao nàng luôn luôn là một vẻ buồn.

… Vào năm 1945, Thái Hằng đã đính hôn với một sinh viên trường Luật tên là Trần Văn Nhung (bạn đồng học của TrầnThanh Hiệp). Anh Nhung này là bạn thân thiết của Nguyễn Thiện Giám, anh họ của Thái Hằng.

Anh Giám là con trai độc nhất của bà bác ruột, một goá phụ, và là người làm mối Trần Văn Nhung cho Thái Hằng. Trong gia đình Nhung có mấy người anh đi theo Việt Nam Quốc Dân Đảng, còn Nhung thì vào đầu thập niên 40, cũng như rất nhiều thanh niên khác, anh tin rằng Nhật Bản thực sự muốn giúp cho Việt Nam thoát ra khỏi ách thực dân Pháp.
Cảm tình của anh đối với Nhật Bản còn khiến cho anh được tặng một học bổng để đi du học nhưng anh chưa kịp đi thì xẩy ra vụ đảo chính ngày mùng 9 tháng 3, 1945.

Trước giờ đảo chính không lâu, một sĩ quan Nhật tới một buổi họp của sinh viên Hà Nội do họ triệu tập cấp bách để hỏi xem có ai là người xung phong cùng đi với lính Nhật vào hạ thành Hà Nội" Những người này sẽ được dành cho danh dự đặc biệt là tự tay giật lá cờ tam tài của Pháp xuống.

Mọi người còn đang im lặng vì do dự thì Trần Văn Nhung và một sinh viên đã đứng lên nhận lời mời của Quân Đội Nhật. Hai sinh viên này đi tiên phong trong đám lính Nhật và bị bắn chết ngay trên bờ tường thành Cửa Bắc trong phút đầu tiên của vụ đảo chính. Sau đó một hai ngày, Nguyễn Thiện Giám cũng bị thảm sát trong một trường hợp khác.

Cái chết của Giám đã làm cho mẹ anh phát điên. Ngày 11 tháng 3 năm 45, một buổi lễ truy điệu những người đã hi sinh cho nền thịnh vượng chung của Đại Đông Á được tổ chức rất long trọng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Thái Hằng đầu chít khăn trắng tới dự lễ truy điệu này. Mẹ nàng cũng tới, thay mặt cho bà bác đã phát điên.

Cái chết của vị hôn phu và của người anh họ đã ảnh hưởng rất lớn vào Thái Hằng.
Trong suốt một năm còn ở trong thành phố, kể từ ngày Nhung được chôn cất, Hằng tuần nàng mang hoa tới đặt trên mộ và ngồi khóc.
Đi theo gia đình ra vùng kháng chiến, nàng vẫn mang theo tấm ảnh và tập nhật ký của người đã chết.

Sau này, nàng sẽ cho tôi biết là trong ba năm ấy, đã có nhiều chàng trai đến với nàng nhưng nàng không thấy ai như Trần Văn Nhung cả. Những chàng trai đó – mà tôi cũng quen biết – đối với tôi, đều là những người đáng yêu, đáng kính nhưng tôi ngờ rằng họ không biết tới chuyện riêng của nàng hoặc nếu có biết đến thì chắc rằng cũng chỉ biết vậy mà thôi.

Tôi thì khác, tôi đóng luôn vai trò của một bác sĩ phân tâm học. Hằng ngày tôi gợi chuyện cũ cho nàng nói. Nói cho thật nhiều, nói cho vơi đi và chắc chắn sẽ có thể nói cho hết đi.
Và tôi cũng thật lòng xưng tụng thái độ anh hùng của Trần Văn Nhung, sự chung tình của Thái Hằng khi vẫn thờ hình ảnh của vị hôn phu trong lòng.

Khi nàng cho biết Trần Văn Nhung sinh ngày mùng 10 tháng 5 năm 1921 thì tôi bảo tôi cũng sinh năm 1921 và vào ngày mùng 5 tháng 10, gần giống y chang đó nhé. Khi nàng nói Trần Văn Nhung cận thị, người dong dỏng cao và có mang một biệt hiệu là Chung Tử Kỳ thì tôi bảo tôi đây cũng là Bá Nha, cũng đeo kính nhìn gần và dáng người của tôi thì có lùn gì đâu"

Nàng đã có lúc buột miệng nói rằng: trông tôi cũng hao hao giống Trần Văn Nhung, thế là khá rồi đấy. Để cho có thêm nhiều sự trùng hợp, tôi cho nàng biết tôi cũng có liên hệ với vụ Nhật đảo chính.

Chuyện tôi may cờ Nhật rồi bị Tây bắt ở Cà Mâu. Cũng trong một ngày, ở hai nơi xa lắc, hai người cùng tuổi, vóc dáng hơi giống nhau, cùng bị lùa vào tấn bi hùng kịch hay bi hài kịch chính trị. Cả hai đều được đẩy đưa một cách êm du vào một người con gái. Là phép lạ hay là số mệnh đây"

Cuối cùng, để cho nàng có cảm tưởng tôi là người có thể thay thế được Trần Văn Nhung, tôi cũng là một chàng trai cũng có nhiều can đảm lắm: tôi sẽ xung phong đi vào Bình-Trị-Thiên trong sáu tháng, khi trở về mới làm lễ cưới.

Ngoài ra, tôi cũng phác hoạ cho Thái Hằng – qua những truyện kể, qua những bản nhạc – thấy được sự lớn lao của cuộc chiến đấu hiện đang diễn ra Hằng ngày, hằng giờ, hằng phút… tại khắp mọi nơi trong nước, với vinh quang ngụt trời và đau khổ vô biên để cho nàng thấy rằng nỗi niềm của một cá nhân rất là bé bỏng trước sự vĩ đại của cuộc sống trước mặt.

Đến với Thái Hằng, tôi còn có một ưu điểm mà người khác có thể không có, đó là cái tài mọn của tôi trong âm nhạc. Tài nghệ nhỏ nhoi này cũng đã được nhiều người công nhận, từ Tướng Tư Lệnh Nguyễn Sơn rất giỏi về văn nghệ, qua những nhà văn hoá lão thành như Đặng Thái Mai, Nguyễn Đức Quỳnh… tới đông đảo quần chúng là bộ đội hay dân quê nhưng nó chỉ xuyên qua loại nhạc hùng có ích lợi cho kháng chiến mà thôi. Tôi gọi đó là cái tài hùng (!)

Riêng đối với Thái Hằng, bây giờ tôi trổ luôn cái tài hèn ra là việc soạn nhạc tình và soạn lời Việt cho nhạc cổ điển.

Thái Hằng có một giọng hát rất dịu dàng, hiền hoà, hợp với tính tình của nàng. Tôi đệm đàn cho Thái Hằng hát những bài hát tiền chiến trong đó có một bài hát của Lương Ngọc Châu nhan đề Ải Mai Pha rút ra từ một vở tiểu-ca-kịch nào đó của nhạc sĩ này. Đây là lời than khóc của một thiếu nữ trước cái chết của vị hôn phu mang tên là Đoàn Thăng.

Sau khi đẩy đưa cho nàng trút hết tâm sự ra qua bài hát ở nơi buồng hồng tang vắng và có lệ nồng khăn trắng này, tôi soạn Đêm Xuân cho Thái Hằng, để thay mặt cho đàn chim, báo tin cho nàng biết rằng: Xuân đã về trong giấc mộng… Em cứ việc yêu câu hát buồn đang lả lướt trong màn trăng…nhưng xin em hãy yêu luôn cả trời thanh vắng đã đón đưa em tới chàng…

Hồn em chùm đêm tối
Tình em còn chơi vơi
Lòng em yêu rồi xin đừng nhạt phai.
Đừng nhạt phai…

Trong những bài hát của tôi soạn ra từ trước tới nay, đây là lần thứ sáu tôi nói tới cây đàn. Khi trước là cây đàn bỏ quên côi cút, là tiếng đàn tôi, tiếng đàn chết chóc trên đường dương thế xa vời, là tiếng đàn trầm vô tư bên chiếc cầu biên giới, là cung đàn thờ ơ của tình kỹ nữ hay là cung đàn Nam Thương, Nam Ai thở than của khối tình Trương Chi. Bây giờ là tiếng đàn báo tin Xuân đã về và hạnh phúc đã tới.

Tiếng đàn đêm ấy sẽ ru trái tim này:
Chưa quen nhau lúc đầu
Em nghe theo tiếng sầu
Ôi khúc ca nuôi mối tình muôn sắc mầu.
Em phôi pha tháng ngày
Vì lúc trăng về đây có đàn đêm ấy
Đã ru trái tim này.
Hồn em tìm nương náu
Tình em chờ thương đau
Lòng em chưa tàn, xin đừng phụ nhau.
Đừng phụ nhau…

Trong kháng chiến – như tôi đã có dịp nói tới vấn đề này – cho tới lúc này, chúng tôi rảnh rỗi vô cùng. Không bao giờ chúng tôi phải làm nô lệ cho cái đồng hồ cả. Cuộc chiến cũng chẳng bao giờ trói tay chúng tôi vào nhiệm vụ.

Chúng tôi rất có tự do. Những ngày được về nghỉ ngơi tại Quán Thăng Long, vì nhu cầu của hai chị em tên là Thái và tên là Thanh, tôi soạn ra khá nhiều những lời ca tiếng Việt cho nhạc cổ điển Tây Phương. Lời lẽ trong những bài này cũng phản ánh ít nhiều mối tình của tôi đối với Thái Hằng.

Trong bài Dạ Khúc của Schubert, có những lời ca rất an ủi:

Chiều nay hát cho xanh câu yêu đời
Cho người thôi khóc thương ai
Cho niềm yêu đến bên tôi.
Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu
Ru người qua chốn thương đau
Cho làn nước mắt chìm sâu.

Sau gần sáu tháng đi chung với nhau trong đoàn văn nghệ cũng như ở chung với nhau tại Quán Thăng Long và sau khi đã ôm được nàng vào lòng rồi, tôi chính thức hỏi Thái Hằng làm vợ.
Chuyện tình của tôi và Thái Hằng cũng như chuyện tôi hỏi vợ được nhiều người ở chung quanh biết tới. Đặc biệt có hai người nhiệt liệt tán thành cuộc hôn phối của chúng tôi là Nguyễn Sơn và Nguyễn Đức Quỳnh.

Khi tôi còn đang gặp một chút lưỡng lự nơi hai ông bà Thăng Long thì hai cán bộ chính trị và văn nghệ này nói vào cho tôi. Hơn thế nữa, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) là người anh lớn trong gia đình cũng vận động dùm tôi và cuối cùng ông bà Thăng Long ưng thuận.

Trong đời tình ái của tôi, đây là lúc tôi không còn là con bướm nhởn nhơ trước những nụ hoa dọc đường và vui thú với những cuộc tình dễ dãi nữa.

Bây giờ, tôi phải vận dụng tất cả khả năng thuyết phục của lý trí, khả năng rung động của con tim, khả năng hấp dẫn của cây đàn và khả năng lôi cuốn của tình trai…. để đẩy được một vị thần hay một bóng ma ra khỏi đời một người con gái, rồi lấy nàng làm vợ.
Bắt buộc là phải có một cái lễ ăn hỏi chứ. Kẻ đãng tử xưa nay bất cần đời nay đầu hàng lễ nghi gia đình và xã hội rồi. Sau khi chọn được một ngày tốt lành, bà Thăng Long ra chợ ở ngay trước mặt Quán Thăng Long mua một nải chuối, một buồng cau, một gói trà… Ngày lễ hỏi, bên nhà trai không có ai ngoài tôi ra, đành phải nhờ người em của điêu khắc gia Lê Thị Kim là Bạch Bích tới bưng hộ khay trầu.

Hôm đó, từ trong Quán Thăng Long đi ra tôi còn là một kẻ độc thân rồi tức khắc từ ngoài cửa đi vào, sau khi ra đứng lễ ông bà ông vải xong, từ nay trở đi tôi trở thành người chồng chưa cưới của Phạm Thị Thái Hằng. Một cái lễ hỏi nhẹ tênh, so với sự nặng nhọc và kiên trì của sáu tháng khổ công vận động của tôi.
Và phải đợi sáu tháng sau, khi tôi từ Bình-Trị-Thiên trở về, lễ cưới của đôi vợ chồng quê này mới được cử hành dưới sự chủ hôn của Tướng Nguyễn Sơn.

PHẠM DUY

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Sài Gòn Với Người Tình Già Trên Đầu Non- 2003

Tôi là nguời khoa học và chỉ coi mọi cái dính líu đến Văn học nghệ thuật như Văn,Thơ,Nhạc,Hoạ …là son phấn ! Trang điểm cho tâm hồn thêm duyên. Do đó , từ xưa, tôi không chú ý đến tác giả .

Điều tôi quan tâm là tác phẩm ! Nhưng khi về già, tôi lại quen biết một số tác giả , hoàn toàn từ ngẫu nhiên .Tôi gọi đó là duyên văn nghệ ! Như một tối tháng sáu . Saigon mưa nhè nhẹ . Tôi đến cà phê DTG . Bất chợt một giọng hát cao vút –và một bài hát tôi yêu : Nghìn trùng xa cách Nguời đã đi rồi Còn gì đâu nữa Mà khóc với cuời Mời nguời lên xe Về miền quá khứ Mời nguời đem theo toàn vẹn thương yêu … Tôi hơi ngạc nhiên.Vì biết nhạc PhamDuy bị cấm. Nhưng kệ, cứ thuởng thức. Sau đó tôi làm quen nàng , viết bài về quán cà phê , nơi nàng –nguời cũng yêu thích nhạc họ Phạm như tôi -đến hát hàng đêm-cho bạn bè nghe.

Bài viết đã khiến Nguời tình già , dù trên đầu non nhưng vẫn dõi nhìn về quê mẹ – thấy lòng xao xuyến. Việt Nam , vẫn còn vang những tình tự của ta ư ? Ông bèn viết cho tôi. Duyên văn nghệ từ đó . Tháng 7, Saigon vẫn mưa , ông về vào một ngày cuối tháng . Ông đã chọn khách sạn nằm trên con đường nhỏ , yên tĩnh gần bệnh viện Grall ngày xưa . Để rồi hàng ngày , thật chân chất, giản dị , với bộ đồ ba ba xám, ngồi quán cà phê cóc trên lề đường đối diện khách sạn, ông tiếp bạn bè ! Tôi thích vậy. Dân Saigon chính cống , chỉ nên ngồi cà phê vỉa hè …. Trứớc đó , với những lá mail duyên dáng , ông cũng làm tôi vui vui. Có một câu , tôi thích nhất .

Về VN, nghe giọng nói ông qua điện thoại, tôi ngạc nhiên.Với số tuổi ngoài 80 mà giọng nói vẫn rất khoẻ và ấm vô cùng. Đây là giọng đàn ông ấm thứ hai mà tôi nghe đuợc qua điện thoại ! Tôi mỉm cuời thầm nghĩ “hèn chi chàng hát hay !” Tuy bình dị với bà ba nhưng khi xuất hiện truớc bạn bè hay công chúng, ông vẫn đỏm dáng như tuổi thanh niên. Hôm Lưu Trọng Văn mời ông cùng chúng tôi đến nhà chơi, ông diện áo khoác xanh lè ! Chụp hình thì ông nổi nhất với mầu xanh ấy. Át cả Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý với mầu ao nhu nhã . Trên xe ông tâm sự :-Tôi về VN chẳng vì một lý do chính trị nào cả . Tôi yêu quê hương.Tôi đã già , tôi mong nhìn lại nơi tôi sinh ra, lớn lên và cả một đời ca hát cho đồng bào nghe. tôi đã 83, lần này như đi dối già ! Lúc ấy, tôi chẳng nghĩ gì . Đơn giản vì tôi sống ở VN, mọi thông tin không phải dễ dàng tiếp cận .Do đó tôi không biết đến ba không của hải ngoại : không du lịch, không gửi tiền và không mua hàng VN.. Tôi đã tức tối khi viết bài kêu gọi từ thiện cho nguời già neo đơn mà có một nick trên net chụp cho tôi cái mũ CS ! Nghe chữ dối già, tôi thấy rưng rưng. Tôi không biết gì về sinh hoạt văn nghệ hải ngoại và tôi đã tuởng từ sau 75, ông không sáng tác nhiều –như họ Trịnh. Tôi đã thầm tiếc. Một tài năng âm nhạc như thế mà đành chôn vùi cảm hứng sao ? Nhưng không, tại nhà Văn, chúng tôi nghe Mộng Thuỷ hát Trăm năm bến cũ .Rất hay. Lại một lần nữa, tài nghệ phổ thơ của ông đuợc phô bày . Sau đó vài ngày, tôi đã “dựng cổ “ Văn từ 6 giờ sáng, chỉ để chép bài thơ . Tôi ngỡ ông phổ nhạc môt bài của Văn. Ai ngờ , khi Văn đọc mới biết ông đã xào nấu” hai bài thành một bản nhạc ! Ông nói rằng, sự xúc động khi đọc giòng thơ Về thôi, nguời tình già ơi Nào đâu có trăm năm mà chờ Nào đâu có kiếp sau mà đợi đã khiến ông quyết định , về thôi – năm 2000 ! Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý đã kể lại vài câu chuyện bên lề của thuở cùng nhau kháng chiến. Vài nguời bạn Văn đến vào phút chót , phỏng vấn ông về âm nhạc VN bây giờ . Ông cẩn trọng, nói ít . Truớc khi về VN, ông mail “ sẽ có ngày tôi mời Lan Chi đến DTG và chúng ta hát với nhau , hát những lời quê hương..” Nhưng truớc khi ông về VN chừng hai ngày , tôi mail nhắc lại thì ông tỉnh bơ “ Thế không biết tôi là Phạm Cuội à ? Từ khi cô Hằng mất đi ,chú Cuội bơ vơ !” Rồi ông làm thế thật ! không báo truớc, ông cùng các con bất thình lình ghé quán DTG .Cô chủ bân dự sinh nhật nguời bạn. Được nhân viên báo tin, cô vội vã gọi phone cho tôi rồi về quán ngay. Tôi trang điểm qua loa và không quên nhét cái máy ảnh digiatal vào bóp . Cả gia đinh ông chiếm một bàn dài .Lúc tôi đến, găp Duy Quang ngoài cổng và đi luôn, không quay lại . Chỉ có Duy Cuờng và Duy Minh . Thấy tôi, ông giơ tay vẫy chào . Đêm ấy , nhạc họ Phạm đã đuợc mọi nguời hát tưng bừng .

Trong số khách , có nguời vô tình , có nguời đuợc bạn báo tin và đến …Tôi nghĩ rằng, vinh quang thì ông hẳn đã có nhiều . Nhưng với đêm ấy, tại quê nhà, nơi mà nhạc ông vẫn còn bị cấm nhưng ông đã đuợc mọi nguời hát thì hẳn là ông cảm động lắm ? Chị bạn, đã bỏ sinh nhật chồng, cũng đến quán. Chị nói với tôi “ Bác Duy có bao nhiều bài, tôi thuộc hết “ Chị cũng đã lên hát một bản .Hay ! Chị xin tôi chụp cho chị môt tấm.Tôi đùa “ giá 100US nhé “ Một bạn khoảng chừng ngoài 30 , rụt rè đến cạnh ông : -Thưa bác, ngày xưa, môt lần cháu đuợc nghe bản Chiều về trên sông của bác. Cháu mê mẩn và từ đó tìm nghe những nhạc phẩm khác của bác … Bác như là thần tượng của cháu !Tôi vẫn chiếm vị trí sau lưng ông nên nghe hết . Tôi mỉm cuời . Thần tượng ? tôi chưa tôn ai làm thần tượng bao giờ ! Anh bạn lên hát và cũng..rụt rè xin tôi môt tấm chụp chung với ông. Sau này, tôi đuợc biết anh là Kiến Trúc Sư . Một em trẻ , rất mode ở y phục và tóc nhuộm hoe vàng hát Kiếp nào có yêu nhau . Giời ạ ? tôi kinh ngạc ? một cậu bé , hát nhạc Phạm Duy quá hay ! cậu cũng xin tôi một tấm. Sau này tôi phỏng vấn. Hoá ra, cậu nghe theo cha mẹ từ bé nên cũng thích dòng nhạc Phạm Duy ! Một cặp khác cũng đến xin một tấm.Tôi là phó nhòm bất đăc dĩ hôm ấy. Duy Cường đã phải đề nghị mọi nguời hát nhạc khác kẻo bị công an chú ý ! Nàng-nguời đàn bà hát nhạc PhạmDuy –có giọng hát hao hao Thái Thanh đã hát tăng ông Trăm năm bến cũ . Ông đã lên sân khấu nói đôi lời-chỉ với nguời phụ nữ này . Gần 11 giờ, cô bé xinh xăn, về từ Canada lên hát Ngừơi Về . Ông cảm động vì –con bé còn quá nhỏ -mà biết hát Người về – nên đã lên sân khấu lần thứ hai ôm con bé cảm tạ . Tôi đoán rằng đêm đó , chắc ông ngủ ngon. Bao tình cảm , bao yêu mến và trên hết …tình ca của ông vẫn đuợc hát cho dù có lịnh cấm ! Sau đó ông có đến vài phòng trà cũng như các quán cà phê hát với nhau. Lẽ ra ông ở lâu hơn nhưng một bài báo ở VN đã khiến ông bỏ về Mỹ sớm . Chúng tôi lại tiễn ông , cũng ở quán cà phê lề đường . Lần này có thêm Thu, môt Việt kiều Hà Lan. Nghe tin ông ở VN,anh bay về ngay dù vừa mới rời VN chừng mươi ngày trước ! Hai Tôi vô tình đọc bài viết về ông của BG trên web XXXX.

Tôi vẫn biết nghệ sỹ sống khá phóng túng. Từ bé, tôi đã nghe giai thoại “ăn chè” nhưng tôi không quan tâm đến đời sống riêng tư của ông .Tuy vậy, lời kết tội của BG làm tôi khá hoang mang ? Tôi hỏi trực tiếp . Ông mail “ Tôi không hề chơi thân với ông X đó. Tôi sáng tác nhạc cho đồng bào nghe. Do vậy tôi phải trân trọng thính giả là những nguời ưa thích nhạc tôi . “ Tiếp đó, ông gửi cho tôi xem –cái gọi là Hồ sơ Gió tanh mưa máu -của một số cây viết chuyên nghiệp hay tài tử – trả lời cho những gì mà nguời ta gán cho ông. Tôi không muốn phán xét điều chi hết . Vì không có điều kiện và cả tư cách để kiểm chứng rõ ràng từ cả hai phía ! Nhưng tôi tin -với những bản nhạc về quê hương tuyệt vời mà đỉnh cao nhất là nhạc phẩm Tình ca – không thể nào là một con nguời vô thần hay khinh miệt khán thính giả ! Nhưng để tin đuợc điều đó , chúng tôi cũng đã xung đột vài lần. Vì , có lẽ tôi khác xa ông nhiều quá chăng ? Thứ nhất tôi bị một nền giáo dục cổ xưa chi phối !do đó tôi không thể chấp nhận cuộc sống phóng túng của nghệ sỹ một cách dễ dàng . Thứ hai, tôi ít quan tâm đến giới nghệ sỹ nên không tìm hiểu đời sống cá nhân hay tâm tư của họ nhiều ..Tôi chỉ nghe hay xem tác phẩm .Chỉ bây giờ, tuổi già và tương đối rảnh rỗi , tôi mới tìm đến đôi chút ! Thứ ba, tôi chưa bao giờ tôn ai làm thần tượng ! Tôi mê nhạc ông nhất là tình ca quê hương. Tôi chưa thấy ai qua đuợc ông về phương diện này . Nhưng mê nhạc chứ không mê nguời ! Vì vậy, tôi –thời gian đầu –đã có chỉ trích ! Nhưng -với tâm tình dàn trải trong hồi ký và cả mail, tôi đã có cái nhìn khác về ông nói riêng và giới nghệ sỹ nói chung . Vâng, để có cảm hứng viết những nhạc phẩm hay bài thơ tuyệt, tác giả phải có một xúc cảm thật ! Và cảm xúc với nguời vợ hiền thì không còn sôi nổi như thuở ban đầu ! Cô Thái Hằng –mà ông xưng tụng là Á Thánh –đã hiểu điều đó nên đã để ông có cảm hứng mà sáng tác. Ngoài cái đam mê đó, ông không rượu chè, cờ bạc, hút sách hay bỏ bê vợ con ..

Ông tâm sự “đời tôi như cái kiềng ba chân . Chỉ vững khi có đủ ba. Đó là gia đinh, nguời tình và nghệ thuật ” Với gia đinh, ông lo trọn vẹn cho các con. Với nghệ thuật, ông tìm tòi, cống hiến những tình ca bất hủ . Với nguời tình, ông trọn niềm say đắm . Cả ba quyện vào nhau đem đến cho ông sự bình an . Bình an để ông ngắm cuộc đời , viết về nó với những xúc cảm rất thật . Ông đã hỏi , tôi dám đem chuyện của ông ra bạch hoá ? tôi mỉm cuời .Tôi không đủ khả năng, thì giờ để làm chuyện đó . Tôi chỉ biết môt điều giản dị, tôi yêu quê hương , yêu tình ca quê hương của ông và mong ước nhỏ bé, đem giòng nhạc quê hương của ông đến với giới trẻ trong nuớc ! Tôi không muốn họ bị ảnh hưởng bởi những đồn đãi vu vơ ..Tôi không có điều kiện nghe tiếng nói của cả đôi bên nhưng tôi tin, con nguời Phạm Duy không phải vô thần. Niềm mơ uớc đuợc nhìn lại quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và viết biết bao tình ca về nơi ấy là niềm khắc khoải lớn nhất ở cuối đời của ông. Hãy thông cảm với nguời già. Về để nhìn lại chứ không phải về là thoả hiệp. Nhưng tiếc thay, vì cái bóng quá lớn của ông nên việc Về của ông đã làm cho ông quằn vai . Tôi đã ví von, nguời tình già trên đầu non, nhìn về quê cũ để thảng thốt “nào có trăm năm mà chờ với đợi “ , rồi chuyến trở về cứ như vác thánh giá trên vai ! Tôi thông cảm với niềm mong ước nhìn lại quê hương truớc khi đi vào cõi xa xôi. Với số tuổi ngoài 80, nào còn thời gian mà chờ đợi ? Hãy để ông yên. Nguời nghệ sỹ không thể tách rời chính trị ? đúng. Vì nghệ sỹ nhất là nhạc sỹ góp phần không nhỏ trong lịch sử , do đó không thể trung lập mà phải có lựa chọn. Nhưng ..sự lựa chọn trở về chỉ là “dối già “ thì hãy thông cảm cho ông ! Thông cảm cho người là mong ước một thông cảm dành cho chính ta . Tôi tin thế . Ai cũng cần thông cảm, không chỉ một lần mà có khi cả một đời, phải thế không ?

Saigon 2003
Hòang Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Hình ảnh hiếm về đêm trao giải Văn học Nghệ thuật năm 1970 -June 18, 2017

Copy từ web trong nước. Nhiều hình ảnh về đêm trao giải này

HLC

***

Hình ảnh hiếm về đêm trao giải Văn học Nghệ thuật năm 1970 tại “Phủ TT ”

19/06/2017

Tuy là giải thưởng cho năm 1970 nhưng lại được trao tại Dinh Độc Lập (nơi đặt bộ máy của chính quyềnVNCH) vào ngày 19/1/1971 lúc 16h30. Quan khách được chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp đón.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân, giám đốc đài truyền hình Đỗ Tiến Đức, Đạo diễn Võ Doãn Châu, Nhà sản xuất Võ Doãn Đại, diễn viên Trần Quang trong ngày trao giải lúc 16h30

Giải Văn học Nghệ thuật Quốc gia hay Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc là giải thưởng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao tặng nên còn được gọi là Giải Tổng thống. Giải được chia thành ba phần chính: Văn học, Nghệ thuật trình diễn và Mỹ thuật.

Nữ tài tử Kim VuiAnh Lân, ca sĩ Mỹ Thể, Kim Vui, Túy Hồng, Đạo diễn Lê Hoàng HoaNam tài tử Huy Cường và Kim Vui đón phái đoàn nước ngoàiNam diễn viên Đoàn Châu Mậu và các văn nghệ sĩ khácMọi người chúc mừng nữ nghệ sĩ Kim Vui khi đoạt giải nhờ bộ phim “Chân trời tím”Nữ nghệ sĩ Túy HoaKim Vui và Kiều Chinh đón tiếp đòn điện ảnh Đài Loan

Hội đồng giám khảo tụ tập nhiều nghệ sĩ đại diện nhiều bộ môn khác của chế độ cũ như: điêu khắc gia Lê Văn Mậu, nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi, nhà văn Võ Phiến, nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Hà Thượng Nhân, nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu (Năm Châu)…Khách mời còn có các phái đoàn của Mỹ, Nam Hàn, Đài Loan, Pháp,…

Năm 1970, Giải thưởng mở ra nhiều ngành cho nhiều bộ môn. Về biên khảo có biên khảo về các vấn đề văn hóa, phê bình, lý luận văn học, triết học biên khảo, ca kịch, hôi họa, điêu khắc, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh…

Thanh Lan và Kim Vui

Bộ môn Biên khảo về các vấn đề văn hóa phê bình, lý luận văn học, triết học thì giải nhất, nhì, ba không có chỉ có giải khuyến khích với tác phẩm “Nguyên Thủy” của Lê Chí Thiện.

Thanh Nga và Kim Vui

Biên khảo Việt sử giải nhất tác phẩm “Lịch Sử Nội Chiến VN từ 1771 đến 1802” của Tạ Chí Đại Trường.

Bộ môn Văn học với giải nhất truyện dài “Những Sợi sắc Không” của Túy Hồng; giải nhì tác phẩm “Khung Rêu” của Nguyễn Thị Thụy Vũ; giải ba là hồi ký phản động “Giải Khăn Sô Cho Huế” của Nhã Ca.

Tổng Thống Ngụy Nguyễn Văn Thiệu (giữa) trao giải thưởng văn học nghệ thuật năm 1970 cho ông Lê Văn Khoa.

Bộ môn Thơ : giải nhất “Sầu Ở Lại” của Tạ Ký; giải nhì “Còn Gì Cho Anh” của Hà Huyền Chi; giải ba “Mưa Quê Hương” của Thế Viên ; giải khuyến khích: “Sương Giá Biên Thùy” Thần Liên Lê Văn Tất “Gởi Hồn Cho Đá” của Nguyễn Đăng Doanh; và “Trên Đường Gió Bụi” của Lê Xuân Giáo.

Kim Vui và Tổng thống chế độ cũ Nguyễn Văn Thiệu

Bộ môn Kịch Nói: không có giải nhất; giải nhì là vở “Hàn Mặc Tử” của Đinh Xuân Hòa; giải ba đồng hạng: “Người Cha” của Trần Minh Đại; “Mất Tiền Mua Đổi” của Đỗ Đức Tiến; “Ra Đi Vì Nước” của Lê Thị Minh.

Lê Quang Thanh Tâm

(hình ảnh trong kho tư liệu của Màn Ảnh Sân Khấu)

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Nhặt sạn- nên để túc từ ngay cạnh chủ từ chính-june 12, 2017

NHẶT SẠN

Xyz viết: „Để kết thúc loạt bài này, tôi xin cầu chúc quê hương tôi bỏ lại mọi điều tốt lành“

Hiểu: ai bỏ lại mọi điều tốt lành? Tôi hay quê hương tôi? Mới đọc sơ sẽ thấy lủng củng.

Nên viết:

1) Để kết thúc loạt bài này, tôi xin cầu chúc quê hương tôi bỏ lại, mọi điều tốt lành ( Thêm dấu Phẩy sau chữ Bỏ Lại)

2) Để kết thúc loạt bài này, tôi xin cầu chúc quê hương MÀ tôi bỏ lại , mọi điều tốt lành ( Thêm chữ Mà và Dấu Phẩy)

3) HoẶc: Để kết thúc loạt bài này, tôi xin cầu chúc mọi điều tốt lành cho quê hương MÀ tôi đã bỏ lại ( đặt túc từ ngay sau chủ từ)

Hoàng Ngọc An

Posted in Tạp Ghi | Comments Off

Hào Phạm- Tư cách ô Trần Mộng Lâm khi viết “Mỹ giấ y”- June 7, 2017

LGT: Tôi gửi rộng rãi vì cần thiết cho “kiến thức và tư cách của mọi người”. Quý vị nên xem để nhận định được đâu là môt nhân cách đứng đăn và nên viết thế nào để không bị giảm tư cách. Tuần trước, BS Lâm (Canada) viết bài chỉ trích việc Trump rút khỏi Thỏa ước Paris. Cá nhân tôi ngán ngẩm nhưng không nói vì bận và không đọc được nhiều. Tôi nhờ bà Thảo An dịch, tôi hy vọng diễn văn của Trump sẽ giúp 2 ông Bác Sĩ ( Lâm, Tôn Thất Sơn) HIỂU ĐƯỢC vì sao Trump phải quyết định như vậy. Tôi mong trong tương lai khi ô Lâm viết thì ô nên có bằng cớ dẫn chứng thì hay hơn. Cá nhân tôi cũng chú ý “ Mỹ giấy” do BS Lâm viết. Hôm nay, nick Hào Phạm viết về việc này. Tôi đồng ý với nick Hào Phạm. Cũng mong trong tương lai, khi viêt, BS Lâm nên có tư cách Bác Sĩ hơn, và chỉ nói vào vấn đề. Việc mỉa mai, xiên xỏ mà không đúng chỉ khiến tư cách bị giảm mà thôi ạ. Hào Phạm dịch “ám sát tư cách” còn cá nhân tôi đề nghị dịch là “hủy hoại tư cách”.

Hoàng Ngọc An

***********************

From: ‘Hao Pham’ via DiendanTuoiHac <xomnhala_yamaha@googlegroups.com>

Subject: Bác sĩ Trần Mông Lâm phát ngôn bừa bãi…. làm bài viết của mình kém giá trị.

Thưa quí vi hữu

Tôi xin có đôi điều nhận xét về bài viết của tác giả ký tên “BS Trần Mộng Lâm” dưới đây. Khoan hãy nói về bênh hay chống Paris Pact, mà hãy nói về cách thức trình bày, tôi thấy bài này không có mấy giá trị vì những lý do sau đây:

1. Mặc dầu là một nhà khoa học (bác sĩ mà!), tác giả lại không đưa ra được nhiều chứng cứ khoa học thuyết phục để bảo vệ lập trường của mình, và phản bác lại lập trường đối nghịch. Vì thế, chấm điểm về nội dung, tôi xin phép cho điểm: 3/10.

2. Trái lại, mặc dầu chỉ là một bài viết ngắn, tác giả lại làm nổi bật việc “ám sát tư cách” (character assassination) qua việc phân biệt “Mỹ thật và Mỹ giấy”. Tôi nghĩ rằng, bàn luận về tiến trình biến đổi khí hậu thì ai chẳng nói được, miễn là có một chút dữ kiện về môi trường, hoặc cụ thể hơn, hiểu biết đôi chút về nội dung của Paris Pact. Tác giả không cần, đúng ra không được phép, chống đối những người khác lập trường với mình bằng cách mỉa mai “Mỹ giấy”. Nếu có một thành phần thực sự là “Mỹ giấy” thì chẳng lẽ họ không được quyền có ý kiến về đề tài này sao? Hay tác giả vẫn in trí rằng Mỹ giấy thì dứt khoát ý kiến phải thấp kém hơn “mỹ thật” ? Vậy những người “mỹ thật” mà không có lập trường giống tác giả thì bị tác giả gọi là Mỹ gì? Sự ám sát tư cách vốn dĩ lạc đề, nếu có nói lên điều gì, thì chỉ là thể hiện trình độ và tư cách của tác giả mà thôi. Dĩ nhiên, sự lạc đề làm bài viết kém giá trị hơn, kéo điểm số bài viết xuống, còn lại: 1.5/10.

3. Nếu tác giả ở Mỹ thì với thái độ phân biệt “Mỹ giấy, Mỹ thật” như vậy, tác giả có thể bị đưa ra tòa vì hành động vi hiến. Bởi vì, theo hiến pháp nước Mỹ, mọi người đều bình đẳng, chỉ có một nước Mỹ “melting pot”, chứ không ai có thể bị khinh bỉ, coi thường, hoặc xếp hạng một cách bất công.

4. Từ cái lối ám sát tư cách, tôi nghe được sự hằn học, ghen tương của tác giả, đành phải đi đến kết luận: Phải chăng tác giả cũng từng có thời mơ làm “mỹ giấy” mà không được? Nên phải ngụy trang dưới lập luận "mỹ giấy" không giá trị bằng "mỹ thật". Giống như con cáo trong ngụ ngôn của Aesop, nhảy mãi không vồ được chùm nho, bèn xổ một câu: Nho vườn này không ngon!

Hào Phạm

********

Trích câu viết của Bs Lâm:

Tôi viết bài này với tư cách một Công Dân Thế Giới (citoyen du Monde).

Là người điều khiển bộ máy hành pháp Hoa Kỳ, ông Donald Trump vừa có quyết định rút khỏi hiệp ứớc về thời tiết Paris (Accord de Paris sur le climat). Tôi biết rằng hành động này của ông đang làm những cử tri Mỹ đã bầu cho ông thích chí vì ông Trump nói là làm. Tôi không muốn bàn về chính sự Hoa Kỳ và những người ủng hộ Donald Trump (Mỹ thiệt cũng như Mỹ giấy) trong bài viết này.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off