“Người Michigan” và Tôi

Người Michigan" và Tôi

Đương kim Chủ tịch Tổ chức cộng đồng Michigan, Trương Thế Hải, là một người Michigan, một vị chủ tịch trẻ mà tôi vừa kết thân.

Gọi là “trẻ” vì đây là thế hệ 1,5 chớ trên thực tế với số tuổi ấy, địa vị ấy trong gia đình và xã hội thì không còn “trẻ”. Thế hệ này năm nay cũng ngoài năm mươi. So sánh với các vị chủ tịch của năm 2000 thì họ được coi là “trẻ” vì các ông chủ tịch cũ giờ này ngoài bẩy mươi.

Michigan có ba vị chủ tịch thì tôi biết cả ba. Người chủ tịch lớn nhất, Phạm Văn Thanh, tôi quen đã lâu. Thật tình tôi không nhớ nổi vì sao quen. Chỉ biết, Thanh cũng như vài người tôi giao thiệp, nghĩa là sau khi biết tuổi thì …tôi bắt làm em cho dù Thanh chỉ thua “bà chị” có một tuổi. Năm 2010, "chị em" lai rai cãi nhau qua mail vì Thanh đứng về phía ô Nguyễn Văn Tánh còn tôi thì đứng ở phía ông Nguyễn Văn Tần. Tuy cãi nhau nhưng không lớn chuyện, không dùng ngôn ngữ nặng nề với nhau. Sau vụ đó ít lâu, Thanh có việc ở CA và hai chị em lần đầu gặp nhau. Khi gặp mặt, tôi trêu Thanh là bên ngoài, coi Thanh “già hơn bà chị là cái chắc!”.

Người thứ hai là Dương Đức Vĩnh. Tôi quen Vĩnh cũng từ vụ Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ mà ra. Tôi viết bài vạch âm mưu của nhóm ô Tánh dựa trên youtube thu hình buổi bầu cử. Vĩnh rất cương trực, thẳng thắn và có phần nóng tính. Hôm đó qua youtube, tôi chứng kiến Vĩnh to tiếng đả kích nhóm ô Nguyễn Văn Tánh đã hành xử phi dân chủ. Tôi thấy mến Vĩnh. Tình chị em hình thành từ đó.

Trong nhiệm kỳ của Vĩnh ở Michigan có hai vụ và tôi đều nhúng tay vào. Vụ thứ nhất là một cựu quân nhân chỉ trích nhóm kia và cả tổ chức cộng đồng. Chính ông A đó là người gửi mail đến tôi, trình bày sự việc. Tôi đã ngắn gọn là ông không nên xé to vì không phải thế. Lôi kéo tôi không được, A bèn viết bài tung net. A sử dụng thủ thuật thông thường ở một số người không tử tế là bẻ quẹo vấn đề để gạt những người ở xa. A đã khiến vài netters “lên tiếng”. Tôi bực mình, gọi cho Vĩnh và hỏi chuyện. Sau khi nghe tường tận, tôi mail cho A. Tôi yêu cầu ông A hãy đối chất với hội cựu quân nhân kia ngay tại Michigan, không việc gì lại phải kéo lên CA và nhờ SBTN phân xử. Nhờ tôi, vụ đó êm.

Vụ thứ hai liên quan đến một cao niên. Xin lỗi hương hồn ông khi nhắc lại chuyện này. Là lão làng nên khi ông mắng oan hay nói “à uôm” thì thế hệ 1,5 nín thinh hết. Tôi là một phụ nữ, lại ở xa, nên có thể đối thoại có phần thẳng thắn với ông. Đương nhiên là ông không tranh luận lại được tôi và chỉ cãi chày cãi cối. Trong lá mail cuối (vì không muốn phí thì giờ với một ông già), tôi hỏi ý kiến người Michigan. Ai đồng ý thì mail riêng cho tôi. Trong nhiều người đồng ý và bày tỏ “sự cảm ơn nghĩa sĩ phương xa” là Trương Thế Hải.

Đã gần hai năm trôi qua, sự việc đã là “dĩ vãng” nhưng lá thư của Trương Thế Hải là một “món quà tinh thần” cho tôi. Lá thư đó tiêu biểu cho “những người thầm lặng”, không dám viết, không dám nói vì nhiều lý do chớ không hẳn vì “hèn”, gửi cho người viết hộ cho họ đem bình an về cho cộng đồng. Tôi giữ lá thư đó đến tận bây giờ.

Tôi đã xin phép và xin gửi lá thư này:

Kính gởi chị Lan Chi

Tôi là một cư dân Michigan, nằm trong email list qua lại và tôi cũng đóng góp sinh hoạt cộng đồng qua trách vụ phó chủ tịch nội vụ CDNVQG Michigan liên tục 2 nhiệm kỳ, từ ngày cộng đồng thành lập đến nay, kể như là người nằm trong Ban Đại Diện CD lâu nhất ở đây. Nói như thế để biết tôi cũng trải qua những kinh nghiệm thăng trầm và đã gặp các “nhân vật cộng đồng”.

Gởi chị vài suy nghĩ về sinh hoạt, kể như tiếng nói của một “trung niên” không trẻ và không lão mấy ở vùng Michigan này:

1. Nếu cư dân bất đồng ý kiến về đường hướng sinh hoạt cộng đồng, người có thiện chí “xây dựng thật sự” sẽ phải biết cư xữ đúng cách: lắng nghe tìm hiểu hai chiều rồi đóng góp ý kiến riêng trong vòng nội bộ trước với ban đại diện hay ban ngành có trách nhiệm. Khi không được lắng nghe hay giải đáp thỏa mãn thì mới đem ra “tâm sự hòa nhã” rộng rãi trong cộng đồng.

Tôi đã thấy vài “nhân vật cộng đồng”, chuyện trước tiên bất đồng quan điểm là gởi email đi khắp thế giới, diễn đàn với các phán xét kết luận vội vã do suy đoán thiếu căn cớ của mình.. ngõ hầu có người nào trong email list, xa hay gần, nhào vô bênh vực rồi đổ dầu vào lữa, cho sự việc ngày càng thêm rối rấm. Thật ra, họ hy vọng những người ở xa nhào vô nhiều hơn, vì các người đó không hiểu hết được tình hình địa phương và chỉ nghe được một chiều.

Email .. trở thành một phương tiện hết sức nguy hiểm cho việc xây dựng cộng đồng nếu bị lạm dụng như vậy, vi mỗi người điều có thể làm “nhà báo” nhưng hoàn toàn thiếu trách nhiệm của người viết báo. Người bị đọc không thích nhưng cũng chẳng màn lên tiếng vì không có thời gian và chỉ thêm rắc rối. Các email làm rối ren cộng đồng như vậy dần dần sẽ “turn off” các người có thiện chí muốn tới sinh hoạt với cộng đồng.

2. Với “thiện chí xây dựng thật sự” thì việc nhìn nhận các lỗi lầm nho nhỏ không gì là khó khăn lắm. Con người mà không ai không sơ sót vì hoàn cảnh cá nhân riêng. Ngược lại, thiết tưởng những người đã hy sinh thời gian, bỏ công sức phục vụ không thù lao cho cộng đồng, đáng được sự thông cảm, bỏ qua nếu các lỗi lầm nho nhỏ không cố ý.

3. Dấn thân sinh hoạt cộng đồng là khởi sự với quan niệm thân thiện muốn “thương nhau trước”. Kẹt nổi có khi cùng đi chung một khoảng đường sinh hoạt thì cái “riêng tư” trổi dậy hơn cái “của chung”, rồi có thể dẫn đến chỗ ghét nhau .. rồi cái gì “cũng méo” hết. Rồi không nói chuyện được với nhau, không cộng tác được với nhau, nhưng vẫn canh chừng từng sơ hở .. các “email lên tiếng” vẫn còn có thể gởi cùng khắp thế giới bất cứ lúc nào.

Đại đa số người đọc đều có nhận xét trong các email qua lại, nhưng đâu ai có đủ điều kiện để lên tiếng. Cũng vì lẽ đó các “nhân vật cộng đồng” cho là ngon lành và cứ làm tới, làm khủng hoảng các đường dây email. Lâu lâu bất ngờ cũng có một nghĩa sĩ ra tay lên tiếng đưa ra lẽ phải để người viết email tấn công người khác phải suy nghĩ. Nghĩa sĩ ở xa tình cờ đến ra tay một vài lần rồi đi nhưng cũng làm các “nhân vật cộng đồng” còn lại tại địa phương dù muốn tung hoành ngang dọc mai sau cũng phải chùn bước.

Tôi xin đại diện một số thân hữu riêng ở Michigan, cám ơn người nghĩa sĩ trong các email qua lại vừa qua.

Thân chào chị Lan Chi

Trương Thế Hải

Bây giờ, Trương Thế Hải là đương kim chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng Michigan.

Khi coi facebook của Dương Đức Vĩnh, tôi rất thích thú khi nhìn thấy phái đoàn Michigan rất đẹp với nhiều tà áo dài. Tôi gọi cho Dương Đức Vĩnh hỏi chuyện. Vĩnh cười khì “Chị ơi, em không còn là chủ tịch nữa. Chị hỏi Hải đi”.

"Hải" ư? “Bà chị” nhớ mà! Tôi tìm Hải trong ngăn kỷ niệm cũ và gửi mail cho “em tôi” trên lá thư ngày cũ của em. Trong lá thư ngày mới, tôi chỉ vỏn vẹn “Em gọi cho chị nhé. Số cell chị đây.”

Sau buổi trò chuyện, bài phỏng vấn Trương Thế Hải về phái đoàn Michigan gần 40 người đến DC tham gia cuộc Tổng Vận Động Quốc Hội cho Nhân Quyền tại VN, được gửi ra. Trong bài này, tôi đề cập đến sự “biết nghe từ thế hệ Một và biết tôn trọng của thế hệ Một Rưỡi” là vì tôi nhớ đến chuyện cũ. Đó là thế hệ 1,5 của tôi ở Michigan đã từng "khốn khổ" với các vị cao niên như thế nào! Thế nhưng họ có ngồi đó than thở và “chán chuyện cộng đồng quá” để rút về đời sống cá nhân? Thưa không! Họ vẫn tiến tới dù biết rằng “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại Chụp e Vu”. (Đó là “ranh ngôn" mới của Hoàng Lan Chi đấy). Chụp là Chụp Mũ, Vu là Vu Khống!

Người thế hệ bản lề Michigan không chùn bước rồi trùm chăn mà đứng vững. Cơn sóng gió của 2013 qua đi. Năm 2015, sáu tháng trước ngày 18/6, họ, hai thế hệ, đã đứng cùng nhau, trong một “team”. Phân chia công việc, phân chia “leader” cho từng khối, rồi thì họ, người Michigan đã cùng nhau lên đường trên chuyến xe Van. Đích nhắm : thủ đô Hoa Kỳ. Đối tượng nhắm: các dân cử của tiểu bang Michigan. Mục tiêu nhắm: yêu cầu TT Obma cài đặt nhân quyền cho TPP. Họ, một “team Michigan, tin rằng “Mục đích của chúng ta không phải là loại trừ Việt Nam ra khỏi TPP mà là đặt điều kiện cho Việt Nam tham gia TPP. Những điều kiện ấy bảo đảm rằng tăng mậu dịch với thế giới tự do sẽ đem lại phúc lợi cho người dân, phát huy nhân quyền và dân chủ hoá đất nước.” Tôi tôn trọng niềm tin của họ vì bây giờ là 2015, không phải 1985 hay 1995.

Tôi, một người già, rất cảm động khi thấy người trẻ Michigan làm được điều mà tôi hằng mong: thế hệ Một Rưỡi biết tôn trọng thế hệ Một, cả hai cùng kết hợp chung để cùng làm việc hữu ích.

Hình ảnh này từ “Michigan Team” không đẹp hay sao? Không cảm động hay sao? Không xứng đáng để những nơi khác cũng sẽ làm theo hay sao?

Cuối cùng tôi muốn nhắc đến hai người Michigan khác: Một, hoạt động công khai trong lãnh vực media và là người dàn dựng khá nhiều video cho BPSOS trong ngày 19/6: Việt Hải Michigan. Và Một, không hoạt động công khai nhưng thái độ chính trị, tư tưởng chính trị, lập trường chính trị thì rất vững: Phạm Đức Nghĩa.

*******

Tôi “thương” hai vị chủ tịch tổ chức cộng đồng vì sự dấn thân vào công việc cộng đồng rất phức tạp: Dương Đức VĩnhTrương Thế Hải.

Trương Thế Hải tại Quốc Hội HK ngày 18/6/2015

Tôi “quýViệt Hải Michigan vì sự chọn lựa đứng bên cạnh người có lòng để hỗ trợ cho việc chung.

Và tôi “yêu” Phạm Đức Nghĩa vì “giọng ca đất”. Bài đầu tiên làm tôi hết sức xúc động là bài “Một ngày 54-75”. Tôi không tìm ra bài này, nghe Nghĩa hát bài khác vậy:

Phạm Đức Nghĩa hát Khi Tôi Trở Về

Hôm nay, thứ Bảy, Lễ Độc Lập Hoa Kỳ, July 4th 2015, tôi, một người thế hệ Một từ CA, xin gửi lời cảm ơn đến những người Michigan, thế hệ bản lề với mong ước các vị sẽ truyền ngọn lửa đến thế hệ Hai.

Hoàng Lan Chi

7/2015

Bài liên quan:

§ Phái đoàn Michigan -gần 40 người – Với cuộc tổng vận động ở Quốc Hội 18/6/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on “Người Michigan” và Tôi

Tình Không Phai Là Tình Chẳng Lai Rai

Tháng qua, dọn dẹp computer. Tôi nhặt ra một số ngày tháng cũ.

Hôm nay tôi gửi cho một nhóm nhỏ Gia Long của tôi vài hình cũ của mười năm trước. Đó là hình tôi chụp chung với vài cựu nữ sinh Gia Long (tất cả đều là muội vì nhỏ hơn hai ba năm gì đó) vào năm 2014 khi tôi đến Nam CA. Năm đó, nhóm Gia Long và thân hữu của forum Việt Báo tổ chức gặp GL Hoàng Lan Chi.

4 Gia Long: Quế Hương-Hoàng Lan Chi –Ngọc Anh-Hoàng Mỹ Hương-2004

Muội Lê Ngọc Túy Hương của tôi viết vầy sau khi xem hình:

10 năm không gặp ….tưởng tình đã cũ ( hay thật là tình đã cũ ?)
hahaha
cám ơn chị LC cho coi ké!

Tôi bèn trả lời:

Cưng Túy Hương à:

có tình cũ và có tình không cũ

có tình phai và cũng có không phai

tình sẽ cũ nếu như tình đã mới

tình không phai nếu tình chẳng … lai rai!!! (cười)

Tình không cũ: Quế Hương

Tình phai liền: Ngọc Anh (cười) vì tính nết chị Lan Chi và Hoàng Mỹ Hương thì cổ, Ngọc Anh thì lãng mạn. ( bí xị).

Tình chẳng phai vì chẳng có lai rai: Vì không “lai rai” mí nhau nên không phai. Hoàng Mỹ Hương (đang là đương kim hội trưởng am CA). Lý do: HMH hiền, ít nói. Mỹ Hương, tuy học cùng khoa học nhưng không chơi. Ngày đó chị Lan Chi biết Mỹ Hương vì là bồ của Phạm Ngọc Hiền mà Hiền thì cùng Khoa lý..

Túy Hương đáp:

[tình không phai nếu tình chẳng … lai rai!!!]

quá đã! Em chịu câu này quá.

Tôi lại Mao tôn cương:

có hợp mới có tan. Có đói mới có no !

hổng có lai rai thì nàm thao mà phai.

Do đó, em thề…chẳng yêu ai. Em thề, em chả lai rai. (hong biết năm ni, “em” nì bao nhiêu tuổi hỉ! )

hí hí.

Một ngày giữa tuần, vui với bạn cũ. Nhớ lại thuở đi học.

Nhưng đúng là:

Tình không cũ bởi vì tình chưa mới

Áo không mầu nên áo chẳng hề phai

Phải vậy không?

Hoàng Lan Chi

8/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Tình Không Phai Là Tình Chẳng Lai Rai

Nguyễn Xuân Phước-Người Việt đã thắng KKK trong cuộc chiến kỳ th ị ở TX như thế nào-1979-được làm thành phim Alamo Bay

LGT: đây là một tài liệu hay. Mô tả lại sự việc người Việt ( hành nghề chài tôm) đã bị kỳ thị, đã bị KKK tuyên chiến và họ đã dũng cảm đương đầu ra sao để đạt đến kết quả ngày hôm nay. Cũng cần ghi ơn cả chính quyền liên bang vào lúc đó và cả giới chức tôn giáo, Tổng giám mục Philip Harman; hay bà Gabrielle Kirk McDonald, vị quan tòa liên bang đầu tiên của người da đen quyết định thuận lợi cho người Việt Nam và ra lệnh cấm chỉ hoạt động của KKK tại vùng vịnh. Chính nhờ sự giúp đỡ này mà người Việt chống trả được với khủng bố KKK. Có thể coi đây là một trang sử “hùng” của thế hệ di dân đầu tiên, trốn chạy cs đến vùng đất tự do nhất thế giới. Kinh nghiệm cuộc chiến chống kỳ thị tại vùng vịnh Galveston, Texas đã được làm thành phim Alamo Bay.

Xin trân trọng cảm ơn LS Nguyễn Xuân Phước về tài liệu này.

Hoàng Lan Chi

*******************

Ls Nguyễn Xuân Phước

Kỳ thị – Kinh nghiệm của Người Việt Tỵ Nạn Cọng Sản

Khi người Việt tỵ nạn Cộng Sản đến Mỹ năm 1975 thì xã hội Mỹ vừa mới được ổn định sau thời kỳ tranh đấu đòi dân quyền của người Mỹ gốc Phi châu, mà ta thường gọi là người da đen. Nhờ công cuộc đấu tranh dân quyền đó ở thập niên 1960s mà người Việt đến Mỹ được đối xử bình đẳng, ít ra trên pháp luật. Người Việt không phải đi toilet riêng dành cho người da màu ở nơi công cộng; đi xe bus không phải ngồi băng ghế sau để nhường ghế trước cho người da trắng; đi ăn nhà hàng không phải đi cửa dành cho người da màu; và đi học cũng được nâng đỡ với những tiêu chuẩn thấp hơn người da trắng v.v…

Thế nhưng sau khi ở Mỹ một thời gian nhiều người vẫn cảm thấy bị kỳ thị. Có người than phiền ông hàng xóm Mỹ trắng hay làm khó dễ, hay gọi cảnh sát than phiền chuyện nầy chuyện nọ gây rắc rối. Hoặc ở hãng hay bị supervisor đì, cho làm việc nặng nhọc, cho nghỉ việc cách vô lý, thiên vị người da trắng v.v…

Có một số vấn đề gây cho người Việt cảm giác bị kỳ thị. Khi người Việt mới đến sống ở nước Mỹ vẫn chưa quen tập tục mới như vẫn mặc bộ đồ ngủ (pajama) đi ngoài đường trong khu xóm, ăn to nói lớn, nhậu nhẹt tưng bừng ồn ào vào buổi tối, làm cho hàng xóm khó chịu. Tuy nhiên khi sống chung đụng lối xóm, có những người hàng xóm lúc nào cũng khó chịu với tất cả mọi người bất kể màu da, làm cho chúng ta có cảm giác bị kỳ thị. Những cảm giác bị kỳ thị vơi dần khi chúng ta làm quen được với lối sống và hòa nhập được vào chính mạch của cộng đồng Hoa Kỳ.

Cảm giác kỳ thị đó khi so sánh với cuộc chiến đấu chống kỳ thị thật sự của người Việt tỵ nạn khi mới đến Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy một số cảm giác bị kỳ thị là do sự mâu thuẫn cá tính giữa người với người nhiều hơn là kỳ thị thật sự vì lý do màu da.

Lịch sử tỵ nạn đã ghi nhận cuộc đấu tranh chống kỳ thị kinh hoàng nhất của người Việt đánh tôm vùng vịnh Galveston, Texas.

Sau năm 1975, một số người tỵ nạn Việt Nam đã tìm đến vịnh Galveston để làm nghề đánh tôm. Tôm lúc bấy giờ là mặt hàng hải sản có giá trị cao. Những người đánh tôm thành công và trở nên giàu có. Nhiều người Việt, nhất là những người có nghề tôm tại Việt Nam trước đây, kéo nhau về vịnh Galveston để làm ăn khiến cho con số tàu đánh tôm gia tăng nhanh chóng. Những người da trắng làm nghề đánh tôm lâu năm cảm thấy nồi cơm của họ bị đám lưu dân lấy mất và mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh.

Vào tháng 8 năm 1979, ông Nguyễn Văn Sáu, 21 tuổi, hớt hải chạy đến bót cảnh sát ở thành phố Port Arthur thú tội: “Tôi vừa mới giết người.” Ông Sáu nói với cảnh sát là ông vừa mới giết Billy Joe Aplin, 35 tuổi. Sáu và Billy Joe đều đánh tôm cua ở Seadrift, một thành phố nhỏ ở vịnh Galveston, Texas có dân số khoảng 1,250 người. Cả hai có những mâu thuẫn gay gắt vì tranh giành vùng đánh tôm, cua.

Billy Joe cao 6ft1, nổi tiếng ưa đánh lộn và gây hấn với người khác, và lúc nào cũng mang súng trong xe. Từ 2 năm trước, người Việt đánh tôm cua ở đây than phiền bị Billy Joe và những người da trắng khác sách nhiễu. Họ bị đe doạ, tấn công, đánh đập, và họ bị trộm bẫy cua thường xuyên. Tàu đánh tôm của họ cũng bị phá hại. Họ biết Billy Joe là đầu sỏ. Họ thưa cảnh sát, nhưng cảnh sát không làm gì để bảo vệ họ.

Trong khi đó, những người da trắng than phiền là vùng đánh tôm cua của họ bị người Việt xâm chiếm. Và người Việt cũng đe dọa Billy Joe và vợ ông ta.

Vào ngày 3 tháng 8 năm 1979, khi Sáu sửa soạn kéo tàu mới mua ra khỏi nước thì Billy Joe xuất hiện. Billy Joe đạp lên tay của Sáu khi Sáu đang để tay ở chỗ móc trailer. Billy Joe nói với Sáu: “Nếu đám người Việt chúng mầy không đi ra khỏi Seadrift thì tao sẽ cắt cổ mầy.” Sáu, đang ở trần, bỏ chạy và bị Billy Joe rượt theo chém hai nhát dao vào ngực. Sáu và người em là Chinh chạy vào nhà người bạn mượn khẩu súng. Sau đó Sáu và Chinh trở lại bến tàu. Billy Joe vẫn còn đó. Vừa thấy Sáu, Billy Joe nhảy bổ đến tấn công và vật Sáu ngã xuống đất. Sáu rút súng trong quần lảy cò. Một viên đạn bắn trúng vào ngực Billy Joe, Billy Joe chới với kêu lên “No, man”, rồi rơi xuống nước, và một viên khác bắn trúng vào người khi Billy Joe ở dưới nước. Billy Joe chết liền tại chỗ.

Sau khi Billy Joe bị giết, mâu thuẫn giữa người Việt và người da trắng gia tăng. Trong khoảng thời gian ngắn sau đó, 4 tàu đánh tôm của người Việt bị đốt cháy. Một căn nhà của người Việt bị đánh bom.

Daniel Aplin, em trai của Billy Joe, tuyên bố “Seadrift đang biến thành nồi thuốc súng.”

Thành phố Seadrift phải ban hành lệnh giới nghiêm từ 9:00 giờ tối. Vì cảnh sát không giải quyết những khiếu nại của người Việt nên người Việt cho rằng khi mâu thuẫn với người da trắng bộc phát, người Việt sẽ bị tàn sát. Hàng trăm người Việt sinh sống tại Seadrift bỏ chạy qua Houston hay Louisiana. Thiếu nhân viên làm việc, hãng đóng cua hộp ở Seadrift phải đóng cửa.

Tuần sau đó, 3 người Mỹ trắng bị bắt ở một motel thuộc thành phố Seadrift vì mang thuốc nổ dùng để đánh bom nhà người Việt. Người mật báo cho cảnh sát để bắt khủng bố là B.T. Aplin, em của Billy Joe. Sự thể em trai Billy Joe làm việc với cảnh sát để bảo vệ người Việt làm cho tình hình lắng dịu và người Việt dần dần trở lại Seadrift.

Tuy nhiên người Việt vẫn tiếp tục bị kỳ thị. Các bến tàu ở Seadrift không cho người Việt đậu bến. Các nhà buôn sỉ không mua tôm của người Việt. Những nhà buôn sỉ mà mua tôm của người Việt bị những người da trắng khác tẩy chay.

Chính quyền liên bang và giáo hội Công Giáo phải nhảy vào can thiệp.

Trước đấy, tại Louisiana người Việt đánh tôm cũng bị kỳ thị. Nhờ công đức của Tổng giám mục Philip Harman, hàng ngàn người Việt được yên ổn làm ăn. Đức Tổng giám mục phạt vạ tuyệt thông một người đầu sỏ kỳ thị tại Louisiana không cho người Việt đậu bến. Tinh thần trợ giúp của Đức Tổng giám mục Harman làm cho người da trắng phải chấp nhận người Việt. Và hoà bình đã vãn hồi để người Việt được định cư và làm ăn.

Khi đại diện bộ tư pháp Hoa Kỳ đến Seadrift thì biết là mâu thuẫn giữa người Việt và người da trắng là do thiếu người phiên dịch để tạo sự hiểu biết nhau. Giáo hội Công Giáo liền cung cấp một người thông dịch viên. Tòa giám mục sau đó cử một linh mục và một phụ tá đến Seadrift để hòa giải giữa người Việt và người da trắng. Tình hình tưởng như đã lắng dịu. Nhưng không…

Ngày 2 tháng 11 năm 1979, Nguyễn Văn Sáu được toà án tha bổng về tội giết người vì toà cho rằng hành vi giết người của ông là sự tự vệ chính đáng. Nguyễn Văn Chinh, em ông Sáu, cũng được tha bổng về tội tòng phạm. Cả hai sau đó rời khỏi Seadrift.

Sáu và Chinh đã ra đi. Nhưng kết thúc phiên toà xử Nguyễn Văn Sáu gây nên làn sóng bất mãn nơi người da trắng. Cuối tháng 11 năm 1979, tổ chức kỳ thị nổi tiếng của Mỹ là KKK nhảy vào vòng chiến và bắt đầu một cuộc chiến kỳ thị chủng tộc đầu tiên giữa người Việt tỵ nạn và tổ chức KKK.

Đối Phó với KKK

1.

KKK là viết tắt chữ Ku Klux Klan, là một tổ chức kỳ thị chủng tộc cực hữu bí mật của người Mỹ gốc da trắng được thành lập trong thời Chiến Tranh Nam Bắc (1860-1865). Theo giải thích của tự điển mạng, chữ Ku Klux trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là vòng tròn, và chữ Klan có nghĩa là bộ tộc, ý nghĩa thông thường KKK có nghĩa là một tổ chức huynh đệ của người da trắng.

KKK chủ trương chủng tộc da trắng ưu việt và coi người da màu là thấp hèn. Khi Tổng Thống Lincoln tuyên bố giải phóng nô lệ sau cuộc chiến Nam Bắc, những người chủ trương nô lệ miền Nam Hoa Kỳ đã thành lập tổ chức KKK để bảo vệ dòng máu ưu việt của người da trắng. KKK chủ trương dùng bạo lực để hạn chế sự tiến thân của người da màu trong xã hội. Họ cho rằng Hoa Kỳ là một đất nước được Chúa Trời ban cho người da trắng và họ có nhiệm vụ bảo vệ đất nước nầy trước những làn sóng di cư của người Châu Phi và Châu Á.

Trong thời kỳ đấu tranh dân quyền của mục sư Martin Luther King ở thập niên 1960s, KKK đã tổ chức những lễ đốt thánh giá như là một dấu hiệu của sự tuyên chiến, và đánh bom vào nhà của các lãnh tụ dân quyền da đen. Một số lãnh tụ da đen, kể cả MS King, đã bị ám sát trong thời kỳ nầy. Hầu như những vụ ám sát nầy đều có bàn tay của KKK đứng đàng sau.

Từ năm 1871, KKK đã được chính quyền liên bang liệt danh sách các tổ chức khủng bố. Tuy nhiên họ vẫn tồn tại tại các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ. Sự phát triển của KKK cũng rất thăng trầm. Đầu Thế kỷ thứ 20 KKK có khoảng 6 triệu hội viên. Nhưng đến ngày hôm nay con số hội viên xuống còn khoảng 6000 trên toàn nưóc Mỹ.

Cách tổ chức của KKK là một hội kín như Thiên Địa Hội trong tiểu thuyết Kim Dung. Người đứng đầu là một Hội Chủ (Grand Dragon – Đại Long) và họ có những thuộc hạ tay chân đặc trách từng vùng, từng miền tương tự như những hương chủ hay đàn chủ của Thiên Địa Hội.

2.

Ngày 2 tháng 11 năm 1979, Nguyễn Văn Sáu và Nguyễn Văn Chính được toà tha bổng vì lý do giết người để tự vệ chính đáng. Sau đó cả Sáu và Chính đều dọn ra khỏi Seadrift.

Cuối tháng 11 năm 1979, tổ chức KKK nạp đơn với thành phố xin phép cho 600 người biểu tình chống người Việt tỵ nạn tại thành phố nhỏ bé nầy. Con số 600 hội viên KKK dự định tham gia biểu tình bằng 1/2 dân số của thành phố Seadrift. Hội đồng thành phố họp và ý kiến phản đối KKK được thành phố hoan nghinh. Kết quả là thành phố đã bác đơn xin biểu tình của KKK.

Sau đó, cha của Billy Joe Aplin, người bị Nguyễn Văn Chính bắn chết, tuyên bố là ông ta không mời KKK đến Seadrift. Tuy nhiên ông nói… “Tôi sẽ rất hãnh diện nếu họ vì chúng tôi mà đến để chận đứng làn sóng người Á Châu đến thành phố nầy.”

Những người da màu tại Seadrift, gồm người Việt và người Mễ, nghe sự xuất hiện của KKK bắt đầu cảm thấy tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng hơn và bắt đầu di cư ra khỏi Seadrift.

Sau khi bị từ chối cuộc biểu tình tại Seadrift, KKK bắt đầu kế hoạch xâm nhập vùng biển Galveston. Sau 18 tháng KKK đã thiết lập được đường dây hoạt động tại đây. Tháng 2 năm 1981, nhân ngày lễ Valentine, KKK đã tổ chức buổi meeting tại thành phố Santa Fe, là một thành phố toàn người da trắng ở vùng Galveston với hơn 150 hội viên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em mặc đồng phục KKK với áo choàng trắng đội mũ vải có chóp. Thủ lĩnh KKK tại Texas, ông Louis Beam tuyên bố: “Thời điểm đã đến để chúng ta giành lại đất nước nầy cho người da trắng”. Ông nói tiếp: “Nếu chúng ta muốn, chúng ta sẽ giành lại đất nước nầy bằng phương cách các tổ phụ chúng ta đã làm: đó là máu máu và máu”.

Beam tuyên bố là sẽ cho chính phủ Hoa Kỳ 90 ngày để cưỡng chế người Việt không được đánh tôm ở vùng Vịnh Galveston. Nếu không KKK và những người đánh tôm da trắng sẽ tự thi hành việc cưỡng chế nầy. Beam nói tiếp là sẽ cho thành lập lực lượng dân quân được huấn luyện chiến đấu tại trại huấn luyện dân quân của KKK. Sau đó, Beam tự tay đốt một tàu đánh cá điển hình mà ông đặt tên là “USS Vietcong” và nói “đây là cách đốt tàu đánh cá đúng nhất”.

Những tuần lễ tiếp theo KKK bắt đầu rải truyền đơn kêu gọi chống người Việt đánh tôm ở vùng vịnh Galveston và bắt đầu giai đoạn khủng bố. Hiện tượng đốt thánh giá như là dấu hiệu khai chiến của KKK tại nhà người Việt trong khu vực xuất hiện khắp nơi. Hai tàu đánh cá của người Việt bị đốt tại thành phố Seabrook. Ngày 15 tháng 3 lực lượng dân quân KKK diễn hành trên tàu đánh cá với hình nộm người Việt bị treo cổ để cho mọi người được thấy.

“They Cannot Mess With Vietnamese…”

Khẩu hiệu của tiểu bang Texas là “Don’t Mess with Texas” như một lời khuyến cáo khách du lịch đừng lộn xộn với tiểu bang Texas vì hậu quả không lường được. Qua kinh nghiệm của người Việt đấu tranh chống KKK tại vùng Vịnh Galveston thì người Mỹ cũng có câu nói tương tự để nhắn với tổ chức KKK… Đừng lộn xộn với người Việt Nam.

Trong thời gian KKK bắt đầu gây sự và gây chiến thì cộng đồng người Việt cũng không ngồi yên. Khi một người đàn bà làm việc cho nhà hàng Mỹ nghe hội viên KKK bàn kế hoạch đánh bom tàu đánh cá của người Việt thì bà đã báo cho chồng, và chồng báo cho cộng đồng người Việt. Họ bắt đầu tổ chức vũ trang chống lại sự uy hiếp của KKK và cộng đồng đánh tôm người da trắng. Khi KKK bao vây một trailer park của người Việt thì người Việt đã chống trả quyết liệt.

Một thành viên của KKK từng tham chiến ở Việt Nam nói với lãnh đạo KKK rằng “Đừng lộn xộn với người Việt vì họ sẽ bắn và giết quý vị”. Và do đó, KKK bắt đầu rút lui.

Theo một giáo sư tại Texas nghiên cứu tình hình lúc bấy giờ, một người đánh tôm da trắng tham gia vụ đốt tàu của người Việt đã bị người Việt đó đến nhà đòi quyết tử với ông ta. Người đánh tôm da trắng đó cuối cùng phải dọn đi nơi khác vì sợ hãi.

Ông Khang Bùi, một cư dân tại vùng vịnh Galveston, nói với phóng viên báo chí rằng KKK đã không hiểu được người Việt là những người đã sống trong chiến tranh, họ biết dùng súng đạn để đối phó và bắn trả lại KKK. Ông ta nói tiếp… sau khi KKK nhận thức được việc dùng bạo lực để khủng bố tinh thần người Việt là vô ích, họ đã âm thầm ra đi và không còn người da trắng nào lộn xộn với người Việt.

Cuộc Chiến Pháp Lý

Tháng 4 năm 1981 Hội Ngư Phủ Người Việt cùng với Southern Poverty Law Center tại Montgomery Alabama nạp đơn kiện KKK vì cạnh tranh thương mãi không công bằng. Tháng 5 năm 1981 bà Gabrielle Kirk McDonald, vị quan tòa liên bang đầu tiên của người da đen quyết định thuận lợi cho người Việt Nam và ra lệnh cấm chỉ hoạt động của KKK tại vùng vịnh; và đóng cửa trung tâm huấn luyện dân quân và các tổ chức võ trang của họ.

Được đánh tôm với sự bảo vệ của chính quyền liên bang, người Việt dần dần ổn định và thành công. Từ những căn nhà trong khu trailer chật hẹp tối tăm, ngày nay người Việt dọn vào những biệt thự nguy nga đồ sộ. Người Việt làm chủ hầu hết các bến tàu tại Galveston; và tại Port Arthur, Texas ngày nay 95% ngư dân đánh tôm là người Việt.

Kinh nghiệm cuộc chiến chống kỳ thị tại vùng vịnh Galveston, Texas đã được làm thành phim Alamo Bay.

Ls Nguyễn Xuân Phước

 

Posted in Thân Hữu | Comments Off on Nguyễn Xuân Phước-Người Việt đã thắng KKK trong cuộc chiến kỳ th ị ở TX như thế nào-1979-được làm thành phim Alamo Bay

“Hào Kiệt” Với Con Đường Việt Nam

Một

Thuở bé tôi thích giờ lịch sử. Giờ này cũng vậy. Khi học lịch sử Hoa Kỳ, tôi ứa nước mắt nhiều lần. Tôi tin rằng có một Thượng Đế quyền năng nào đó đã khiến một đất nước “hợp chủng” bỗng có những con người tuyệt vời với những tư tưởng đi trước thế kỷ như thế. Những con người ấy đã đặt nền tảng cho nhân quyền. Life, liberty, persuit of happiness. Đó là ba điều cơ bản của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ vào năm 1776 được viết bởi Thomas Jefferson. Mọi người cũng tri ân khái niệm của một nền “cộng hòa” với “A governmet of the people, for the people, and by the people”. Toàn nhân loại cũng tri ân mười tu chính án đầu tiên của nước Mỹ mà người Mỹ gọi là Bill of Rights (Luật Dân Quyền). Trong mười tu chánh án đầu tiên, các quyền căn bản làm nên một xứ Mỹ dân chủ nhất thế giới: speech, religion, assembly, press, petition the gorverment. (Tự do ngôn luận, tôn giáo, hội họp, báo chí, thỉnh nguyện chính phủ).

Tôi xòe bàn tay trái, thử kết nối những điều trên của lịch sử Hoa Kỳ với quê hương của tôi.

Hai

1975 Sài Gòn thất thủ.

1980 làn sóng vượt biển dâng cao.

Cũng 1980, tình quê hương, nghĩa đồng bào đã thúc đẩy họ ngồi với nhau. Họ là ai? Đó là những Nguyễn hữu Xương, Phạm quang Tuấn, Nguyên hữu Giá, Lê phục Thuỷ, Phan lạc Tiếp và Vũ minh Trân. Một Ủy ban báo nguy giúp người vượt biển thành hình. Với năm chiến dịch từ 1985, họ đã cứu hơn 3.000 thuyền nhân.

1990, chi nhánh tại DC, với bà Trương Anh Thụy, nhận trách vụ “tiếp nối tinh thần”. Một tên mới, giấy phép mới ra đời: BPSOS, Ủy ban cứu người vượt biển.

Ngay từ thuở đó, một sinh viên mới vượt biên đến Mỹ khoảng 1980, đã tham gia với chi nhánh DC và từ 1990, là Giám Đốc Điều Hành. CT Hội Đồng Quản Trị là bà Trương Anh Thụy, rồi GS Nguyễn Ngọc Bích.

Người sinh viên thuở 1985 đã tham gia Ủy ban báo nguy cứu người vượt biển rồi 1990 Ủy ban cứu người vượt biển, Nguyễn Đình Thắng. (Xem lịch sử BPSOS ở cuối bài (1) )

Ba

2010, một thời gian quá dài. 35 năm. Những con người của một thuở nào chiến đấu cho quê hương, nay tóc bạc, da mồi, chân yếu, trí không còn mẫn. Tuy thế, với sự đóng góp của họ, cộng đồng đã làm được nhiều thứ.

Cục diện thế giới cũng thay đổi nhiều. Internet làm ranh giới quốc gia mờ dần, những tàn khốc sau bức màn sắt của loài cộng đỏ cũng không dễ dàng bưng bít.

Giải pháp nào cho quê hương tôi? Sau 35 năm? Khi Việt Nam vô cùng nhỏ bé và phải tùy thuộc vào một quốc gia mà hiện giờ rất nhiều người trong chúng tôi đã nhận xứ sở đó làm quê hương?

Bốn

2012, những người của thế hệ một rưỡi, những người đang dấn thân đã đến với nhau. Trong tinh thần “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt thời nào cũng có”, họ ngồi lại với nhau.

Hào kiệt: tâm huyết, đạo đức, có chiều sâu, không đảng phái.

Tôi mỉm cười khi đọc thấy những tiêu chuẩn của một “hào kiệt”. Có cái gì giản dị trong tư tưởng của thế hệ bản lề nhưng cũng có cái kiêu ngạo của những người thụ hưởng nền dân chủ Mỹ. Cái kiêu ngạo đó là không đảng phái. Họ muốn họ không phải là di sản của một đảng phái nào và họ tin tưởng họ sẽ thành công khi họ có tâm huyết, có đạo đức.

Năm 2012: 15 hào kiệt đóng góp 120.000 Mỹ kim để khởi đầu kế hoạch.

Họ đã âm thầm làm việc.

Cá nhân tôi chỉ chứng kiến vào năm 2012, nhóm Hào Kiệt này, gồm toàn những người đang thành đạt, đang có địa vị nào đó trong xã hội Hoa Kỳ, đã ký ngay vào Thỉnh Nguyện Thư do Trúc Hồ và Nguyễn Đình Thắng khởi xướng. Chính nhờ nhóm hào kiệt này, bản TNT chỉ trong vài giờ đồng hồ đã đạt được túc số tối thiểu để xuất hiện trên trang web We The People. Sau đó, ba tổ chức đồng loạt phát động gây nên một làn sóng háo hức cho cộng đồng hải ngoại. Thật đáng tiếc, Trúc Hồ với Đỗ Phủ (đảng Dân chủ) đã phá hỏng sự thành công này. Và sau đó, Trúc Hồ chính thức bắt tay với VT.

Cá nhân tôi chứng kiến năm nay 2015, nhóm Hào Kiệt đã vận động được hơn 700 người từ nhiều quốc gia, nhiều tiểu bang tề tựu về DC. Họ gặp các dân cử của Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 18/6 để đệ đạt nguyện vọng: yêu cầu VC phải nới rộng nhân quyền nếu muốn có TPP. 700 người, trong đó rất nhiều người của thế hệ bản lề, đang thành đạt trong xã hội Hoa Kỳ, đã phối hợp với nhóm Hào Kiệt để có tổng chiến dịch đó.

Nhóm Hào Kiệt này gồm khoảng 50 người, sinh hoạt trong một tổ chức kín đáo vì chưa đúng thời điểm để công khai hoạt động.

120.000 Mỹ Kim do 15 hào kiệt đóng góp ban đầu đã được dùng để có một nhân viên thường trực ở DC, ở Quốc Hội và hướng dẫn hàng trăm người ở khắp nơi biết con đường hợp pháp để đi: vđó là vận động quốc hội để Việt Nam có quyền tự do tôn giáoquyền lao động. Họ nghĩ rằng chỉ con đường đó là có thể rút ngắn được tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

40 năm. Tôi nhìn lên bàn thờ Phật Bà. Dường như Ngài đang nói với tôi “Người trẻ của con đi đúng đấy”.

Kết

1789, Bill of Right của Hoa Kỳ.

2015, Những người trẻ của tôi đang vận dụng Nhân Quyền cho một giải pháp cho con đường Việt Nam.

Nhóm Hào Kiệt đang đóng góp phần của họ vào trang lịch sử cho quê hương mẹ của họ. Họ có quyền tin vì ngày xưa Do Thái cũng lập quốc sau bao năm phiêu bạt.

Chọn con đường đi chung hay vỗ tay: là quyền của mỗi người.

Trong một khoảnh khắc của một đoạn đời nào đó, dường như mình tự cho phép mình được quyền chơi xổ số với một quyết định quan trọng ngoài lý luận, dữ kiện thường tình.

Tôi đang xổ số. Không biết tôi trúng hay thua. Nhưng dù thua thì cũng hãy hiểu, canh bạc đó không phải tôi đánh cho tôi mà cho tình yêu của tôi dành cho Việt Nam, lòng tin của tôi dành cho thế hệ “bản lề”.

Tôi khép bàn tay trái. Bàn tay phải đưa lên. Dấu hiệu tôi “vỗ tay” cho Nhóm Hào Kiệt dù tôi không hòa nhập vào nhóm.

Hoàng Lan Chi

7/2015

*******************

Phụ Lục

Lịch Sử BPSOS

(1) Trích: Hoàng Lan Chi phỏng vấn ngắn ô Phan Lạc Tiếp và bà Trương Anh Thụy:

2-Trương Anh Thụy (VA)

Thân gửi chị Hoàng Lan Chi,

Tôi sẽ cố gắng vắn tắt trả lời câu hỏi của chị. Tuy nhiên dù vắn tắt đến đâu tôi cũng thấy cần phải nhắc đến, dù chỉ sơ qua, liên hệ giữa Boat People SOS/Virginia (UB Cứu Người Vượt Biển/Virginia) với Boat People S.O.S. Committee/San Diego (UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển/San Diego):

Ủ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển/San Diego thành lập năm 1980. Đến năm 1987, công việc vớt người trên biển không còn thực hiện được nữa, trong khi đó nhu cầu định cư đồng bào đến các đệ tam quốc gia và nhất là vào Mỹ thì vẫn còn nhiều vô kể nên Ủy Ban San Diego đã cấp thời chuyển hướng hoạt động sang tập trung vào việc vận động hành lang ở Quốc Hội Hoa Kỳ và ở Bộ Ngoại Giao. Để thực hiện được việc này, UB San Diego đã rất thực tế nghĩ đến việc thành lập một chi nhánh ở Washington, DC. Được nhà văn Nhật Tiến giới thiệu, Giáo sư Nguyễn Hữu Xương đã tìm đến gặp tôi tại tư gia để đề nghị ý nguyện này.

Không mấy khó cho tôi quyết định nhận lời Tiến Sĩ Xương ngay hôm đó, là vì trước đó không khí Hoa Thịnh Đốn cũng đã sôi sục biểu tình liên miên, lên tiếng phản đối những khổ nạn xẩy ra cho đồng bào thuyền nhân tại các trại tạm cư, tôi thấy nhu cầu có thêm một Ủy Ban tranh đấu cho thuyền nhân ở đây lúc này là rất cần thiết. Hai nữa hội thiện nguyện Vietnam Refugee Fund, Inc. của một số anh chị em chúng tôi ở vùng Hoa Thịnh Đốn cũng vừa mới hoàn thành công việc đi quyên góp hàng tấn đồ dùng thiết thân như quần áo, nồi niêu, bàn ghế cũ… phân phát cho gần 5600 đồng bào thuyền nhân mới đến định cư ở trong vùng, cho nên cũng đang rảnh tay. Thứ ba, quan trọng không kém là tôi đã từng biết tiếng UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển ở San Diego và rất cảm kích trước việc làm của hai người đứng đầu UB này: Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương, người du học Pháp từ thuở nhỏ, rồi sang Mỹ ông vừa dạy tại đại học Caltech rồi UCSD (University of California at San Diego) vừa làm việc nghiên cứu. Công trình nghiên cứu của ông đã cống hiến cho khoa học một công trình được đặt tên là “Xương Machine” để phân tích máu nhanh gấp bội những máy móc có trước đó. Người thứ hai là nhà văn Phan Lạc Tiếp, một cựu sĩ quan Hải quân VNCH là thuyền nhân vừa chân ướt chân ráo đến định cư tại San Diego nhưng không thể ngồi yên trước tiếng kêu cứu của nhà văn Nhật Tiến và cặp vợ chồng nhà báo Dương Phục-Vũ Thanh Thủy trước thảm họa hải tặc trong các trại tạm cư Thái Lan, ông bèn cùng với tiến sĩ Xương lập ra Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, San Diego.

Nhận lời Giáo sư Nguyễn Hữu Xương rồi tôi mời một số các anh chị em từ lâu năm từng hoạt động xã hội với tôi, đến họp bàn để thành lập UB Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển-Chi Nhánh Hoa Thịnh Đốn. Trong buổi họp đó ai cũng nhận thấy cần phải có sự tiếp tay của thanh niên, sinh viên trong vùng. Một trong những người chúng tôi quyết định mời là anh Nguyễn Đình Thắng.

Sau nhiều buổi họp, cuối cùng chúng tôi cũng bầu ra được một ban chấp hành gồm có tôi là chủ tịch, anh Nguyễn Ngọc Bích là phó chủ tịch, anh Nguyễn Đình Thắng là tổng thư ký. Văn Phòng Chi Nhánh Virginia này bắt đầu hoạt động tháng 11 năm 1987, được đặt tại một góc khiêm tốn trên căn gác của gia đình tôi. Chúng tôi làm việc dưới cái dù của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (UB San Diego), nhận một khoản tiền chu cấp khiêm tốn hàng tháng, còn các máy móc như computer, máy in, máy fax… thì đều dùng tạm “của nhà.” Chiều chiều khi tan học về, một số khá đông sinh viên, thay phiên nhau ghé nhà tôi làm việc cho Ủy Ban đến khuya rồi mới về nhà họ.

Đến năm 1990, UB San Diego quyết định đóng cửa vì những lý do mà nhà văn Phan Lạc Tiếp đã giải thích, ngoài ra theo tôi, các ông không muốn có hai văn phòng gây tốn kém, trong khi đó Chi Nhánh Virginia đã và đang làm việc rất hữu hiệu. Được tin báo, chúng tôi ở Chi Nhánh Virginia bàn nhau quyết định tiếp tục vì chủ yếu là vẫn còn các vấn đề cấp bách như vận động hành lang để cứu những thành phần đang bị đe dọa cưỡng bách hồi hương (nhiều người bị đánh đập, có người tự thiêu, tự tử trong các trại). Ngày 22 tháng 9, năm 1990, tôi bay qua San Jose để tham dự Đại Hội Tình Thương Dưới Ánh Mặt Trời 6, ở đó tôi chứng kiến sự ngưng hoạt của UB San Diego và nhận trách vụ “tiếp nối tinh thần” công việc của Ủy Ban tại Washington DC.

Về Washington, chúng tôi lập tức thành lập UB mới lấy tên Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển/Boat People SOS, Inc., xin giấy phép hoạt động và sau đó xin được quy chế bất vụ lợi (non profit organization status) rồi được cả miễn trừ thuế (tax-exempt status). Chúng tôi bắt đầu thuê văn phòng riêng, một căn phòng chật hẹp trong một bin đinh cũ kỹ, chúng tôi hoạt động bằng món tiền cuối cùng của UB San Diego giao cho, cũng được một thời gian trước khi có thể tự lập!

Ủy Ban Virginia chia ra thành Ban Quản Trị và Ban Điều Hành. Tôi làm chủ tịch Ban Quản Trị cho đến năm 1993. Sau tôi thì đến anh Nguyễn Ngọc Bích. Sau anh Bích là luật sư Tuyết Dương, sau Tuyết Dương có những ai nữa thì tôi không biết. Trong suốt thời gian kể trên anh Nguyễn Đình Thắng vẫn là giám đốc Ban Điều Hành.

 

Trương Anh Thụy

15/7/2015

 

***********

1- Phan Lạc Tiếp (San Diego)

Thưa chị Hoàng Lan Chi,

Phúc đáp những câu hỏi của chi, tôi xin vắn tắt như sau :

1-BPSOS/SD được chính thức thành lâp ngàỳ 27/1/1980 tại tư gia GS Nguyên hữu Xương, ở San Diego, gồm 7 người có tên sau đây :Nguyễn hữu Xương, Phạm quang Tuấn, Nguyên hữu Giá, Lê phục Thuỷ, Phan lạc Tiếp và Vũ minh Trân. Sau này vì sự bành trướng của Uỷ Ban, có thêm nhiểu người khác tham gia và một sô trong 7 người người trên cũng không còn liên tục hoạt động.

Mục đính lúc đầu là đem tham nạn Thuyển Nhân ( qua các lá thư kêu cứu của nhà văn Nhật Tiến, Vũ thanh Thuỷ, Dương Phục ) phổ biến rộng rãi trên diễn đàn quôc tê, gửi tới nhưng cơ quan, nhân vật có uy tín thế giới để làm sao chấm dứt tê nạn hải tặc.

2-Việc thuê mươn, điều hành các con tàu đi vớt BP do các tổ chức nhân đạo như Medecins du monde, Cap Anamur…lo. Họ có sẵn ngân khoản, nhưng không nhiều. Những hoạt đông của họ, cộng đồng người Viêt chưa biêt, không đóng góp. Khi BPSOS?SD của chúng ta hơp tác mới có sư đóng góp của ngươi Viêt khăp nơi như ở Mỹ, Úc, Canada….

3- Trong 5 chiến dịch Vơt Người Biển Đông, bắt đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1985, có sự đóng góp tiền bạc, điều hành, săn sóc y tế… của Uỷ Ban chúng ta, có 3103 thuyền nhân đã được vớt từ biển Đông và đưa đi điịh cư tại các quôc gia đê tam đã câp chiêu khán hay đoàn tụ với thân nhân tại Mỹ, Canada, Úc.Vì không đủ chiêu khán,các con tàu đi vơt thuyền nhân cũng giúp đỡ, hướng dẫn nhiều ghe tỵ nạn, có tới hàng ngàn người đến đuợc các trại tỵ nạn toàn.Uỷ Ban cũng can thiêp để hàng ngàn đồng bào ở quá lâu trong các trại tỵ nạn đươc đi đinh cư.

4- Anh Nguyễn đình Thắng là môt trong rât đông sinh viên tiếp tay với Bà Trương anh Thụỵ, chủ tịch chi nhánh của Uỷ Ban tại vùng Hoa thịh Đốn. Anh Thắng không phải là thành viên của BPSOS/San Diego. Anh Thắng sinh hoạt dươi sự đièu hành của Bà Thuỵ, nên chúng tôi không rõ nhiêm vụ của anh Thắng ra sao.

5-BPSOS/SD ngưng hoạt đông vào cuối năm 1990 và trao trách vụ và tiền bạc cho chi nhánh của Uỷ Ban do bà Thuỵ điều hành, đăt văn phòng tại vùng Hoa thịnh Đôn. Những sinh hoạt sau này khởi đi từ Bà Trương anh Thuỵ và những ngươi kê tục, BPSOS/SD chúng tôi không có trách nhiêm và ý kiên.

Như chúng tôi đã trình bày, BPSOS/SD xét thấy không nên sinh hoạt nữa, vì dư luân thế giới đã mỏi mệt, và hâu như tât cả Thuyên Nhân, ai cũng chỉ muôn đi định cư ở Mỹ mà không muốn đi định cư tại những quôc gia đã câp chiêu khán cho họ. Vì thê không quốc gia nào muôn cấp chiêu khán cho Thuyền Nhân nữa, nên việc đem tàu đi vớt Thuyền Nhân không thực hiện đươc. Đó là nguyên nhân chính khiên BPSOS/SD phải ngưng hoạt động, Trên đây chỉ là nhưng câu trả lơi vắn tắt. Chúng tôi đang hoàn tất cuôn sách mang tên Vớt Người Biên Đông.

Thân quý,

Phan Lạc Tiếp

7/7/15

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on “Hào Kiệt” Với Con Đường Việt Nam

“Xuân Vũ: Đường Đi Không Đến” by Phan Quang Trọng

LGT: hôm nay chủ nhật đẹp. Tôi có món quà đẹp: Ts Phan Quang Trọng, Chủ tịch Tổ Chức Cộng Đồng San Antonio, gửi qua mail cho tôi, bài viết về cố nhà văn Xuân Vũ. Lần đầu tiên tôi đọc "Trọng viết". Sau khi đọc xong, tôi mừng bát ngát. Văn giản dị, trong sáng. Đó là điều kiện tối cần hiện nay cho người cầm bút với một sứ mạng rõ ràng cho quê hương dân tộc. Đến bây giờ thì tôi không lạ khi thấy một người thế hệ một rưỡi, đang thành đạt ở xã hội HK như Ts Phan Quang Trọng, ( Ts Trọng đang là manager cho một công ty trực thuộc Bộ Quốc Phòng). Đây là video nói về công việc của Trọng cho Không Quân Hoa Kỳ: http://afciviliancareers.com/careers/career-fields/scientist-and-engineer

lại vẫn dành thời gian khá nhiều cho cộng đồng, có can đảm gánh vác chuyện cộng đồng (vốn nhiều phức tạp). Xuất phát từ lòng yêu văn thơ rồi bị ảnh hưởng văn chương là chuyện bình thường. Trong đã say mê Đường Đi Không Đến từ thuở xưa thì một Phan Quang Trọng ngày này đang dấn thân cộng đồng không phải là lạ.

Về Xuân Vũ, quả là một nhà văn hồi chánh tuyệt vời với tác phẩm "Đường đi không đến". Đó là một trong những người tôi không hề quen biết nhưng cảm thấy buồn vô cùng kể khi ông ra đi sớm như thế. Những nhà văn "hồi chánh thật sự" là một vốn quý cho kho tàng văn học VN. Họ là chứng nhân lịch sử nhất là nhân chứng cho xã hội cộng sản thì càng quý vô ngần. Đọc đến cuối, tôi chảy nước mắt với những câu thơ của Xuân Vũ.

Và lòng tôi chợt nhói đau khi nhớ đến một nhà báo hồi chánh khác. Tôi đã hy vọng đó là hồi chánh thật sự để giúp cộng đồng nhưng có lẽ không phải rồi…

Hoàng Lan Chi

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on “Xuân Vũ: Đường Đi Không Đến” by Phan Quang Trọng

Tôi là phụ nữ…

Tôi là phụ nữ nhưng không có tính đố kị, ghen tị. Ngược lại, phụ nữ đẹp mà tài giỏi thì tôi càng ngưỡng mộ. Nói có sách, mách có chứng: tôi rất ngưỡng mộ nhan sắc, tài ba của hai vị: Dương Nguyệt Ánh và Dương Như Nguyện. Trong web Hoàng Lan Chi, có đến mấy bài nói về hai người này.

Tôi là phụ nữ nhưng không tẹp nhẹp, nhỏ mọn. Tôi bỏ qua vài cái lặt vặt, chấp nhận “nhân vô thập toàn” và chấp nhận “ làm chính trị đôi khi phải hơi …ác”. Nói có sách: đó là trường hợp tôi áp dụng cho Ts Nguyễn Đình Thắng. Tôi từng viết, có hai người của BPSOS mà tôi ghét vì lý do cá nhân là Nguyễn Đình Thắng và Trần Trang Khanh, nhưng tôi “mắt nhắm, mắt mở”, nhìn vào cái lớn, để quyết định hỗ trợ họ, bảo vệ họ khi họ bị chụp mũ, vu oan.

Tôi là phụ nữ nhưng không thù dai lắm (cười) . Nói có sách: tôi chỉ trích Đỗ Hồng Anh khi ông này binh vực vợ chồng Dương Văn Hiệp-Lưu Lệ Ngọc (vụ án hai vị giám đốc này của Đài Việt Nam Hải Ngọai giao du với Đệ tam tham tá của Tòa Đại Sứ VC, bị tố cáo bởi ký giả Hồng Phúc), chậm trễ trong vụ VTV4 phát hình ở DC, lại còn dùng nick Trần Văn Dư để vu cáo tôi bậy bạ, nhưng khi Đỗ Hồng Anh tổ chức biểu tình tốt ở VA: tôi khen ngợi ông ta. Tương tự, tôi chỉ trích ông Đoàn Hữu Định khi ông làm sai (lúc ông giữ Liên Hội Cựu CS) nhưng khen ngợi khi ông dẹp được vụ Đàm Vĩnh Hưng ở DC.

Tôi là phụ nữ nhưng tính giống …Lục Vân Tiên. Sáng nay tôi mail la lối “lão gà” của tôi. Lão “gà” là Lão Gà Tre, chủ báo Thế Giới Mới-TX. Tôi la lối là “lão là đàn ông mà lười biếng không chịu quét nhà. Khi công nương quét lại cản là sao?”. Vấn đề là vầy: trong khi tào lao, lão nói lão đọc trên net là ai đó nói HLC can thiệp vụ Dương Nguyệt Ánh rồi bây giờ lại vụ Nguyễn Đình Thắng. Thôi lo văn học đi. Tôi ong óng miệng la lão “Lão nói thế mà nghe được hử? Tui là giữa đường thấy việc bất bằng không tha. Tui can thiệp nhiều vụ rồi, lão quên hử? Vùng Dallas của lão có tay Hưng và vài lính kiêu binh quậy, có tui và chị họ tui từ xa lên tiếng. Còn vụ Montreal, họ làm bậy, ngày 30/4 là 30/4, đâu phải là ngày thảo luận về S-219 mà họ gạt hai "cô bé" của tui. Tui phải can thiệp cho họ chừa. Còn Nguyễn Đình Thắng, khi không tay Hữu Nguyên cứ đi theo truy sát Thắng, tui phải can thiệp chớ. Tay này cũng từng là bạn tui. Tui đã cảnh cáo hắn là muốn đánh Thắng phải có chứng cớ. Ai dè hắn hứa với tui nhưng có trời mới hiểu hắn nghĩ gì nên hắn cứ thế vu cáo Thắng. Thử hỏi Thắng làm gì có hại cho cộng đồng hay Thắng làm tốt? Từ việc xin fund cũng trày vi tróc vẩy mới có để hoạt động, toàn là phục vụ cộng đồng đến việc không xin fund mà hô hào mọi người đóng góp để giúp cựu quân nhân hụt HO đợt đầu, được giúp ở HO đợt sau. Thử hỏi không có tổ chức BPSOS, ngư dân không giỏi Anh ngữ bị bão Katrina sẽ phải gõ cửa cơ quan Mỹ, xí xa xí xô tiếng Anh. Nếu không có tổ chức BPSOS, thì phụ nữ không giỏi tiếng Anh, khi bị bức hiếp, kêu cứu làm sao, nhờ ai giúp đỡ. Rồi các công nhân Việt trong chương trình An Toàn Nghề Nghiệp nữa, cũng nhờ BPSOS nhiều vì đa số công nhân có nói giỏi tiếng Mỹ đâu. Chưa kể chương trình khai thuế, giúp thi quốc tịch…Còn việc Thắng chơi với nhóm thế hệ 1,5 và Thắng làm gì kệ xác Thắng. Khi không la làng lên cứ làm như Thắng ba đầu sáu tay, bây giờ Thắng mà hạ san cùng năm mươi tay "hào kiệt" của Thắng thì cộng đồng sẽ thế này thế nọ. Lố bịch không thể tưởng. Tui nghi ngờ ai đó hay VT ra lịnh Hữu Nguyên tấn công Thắng quá.”. Khi “bà chằng” la lối thì …các ông thường im! (cười). ( tôi biết tỏng là mấy “chả” nhường tôi vì …thương tôi chớ không phải sợ tôi đâu!)

Tôi là phụ nữ mà ưa chuyện …không phải bếp núc. Tôi ăn theo kiểu không giống ai nghĩa là luộc rau rồi xay tất tần tật ra kèm ít trái cây và uống. Tôi chỉ nhai cái gì tôi thích thôi. Cuối tuần thì ăn bậy đồ mua ngoài tiệm chớ nấu nướng thì là nữ hoàng làm biếng. Đi shopping thì đến thẳng nơi muốn mua, chớ có la cà. Tôi thích tào lao chuyện thời sự với đàn ông hơn là tán dóc với phụ nữ.

Tôi là phụ nữ mà tính nóng hơn Trương Phi. Người nào ăn chậm, nói chậm, làm chậm là tôi hét lên rồi. Hôm vừa rồi có việc gọi ATT. Phải đi qua thông dịch nhưng tôi bảo cô thông dịch “Nó nói, chị hiểu gần hết, chỉ có nói là chị không lẹ thôi. Em tóm tắt ý chính đi!”. Tên kỹ thuật cù cưa không chịu check đường dây coi good không, tôi nổi nóng “ Ủa. Trước khi cho người xuống sửa, tui muốn check coi net đến nhà tôi good không mà không chịu làm là sao? Đưa ID number đây!”. Tên kỹ thuật nói là cậu ta sẽ kêu manager của cậu ta. Tôi nói với cô thông dịch “Chị không cần manager. Nói nó đưa ID đây.” Cái cô thông dịch này cũng hơi ngớ ngẩn, cô ta bảo “Nó đâu có quyền cho chị?”. Thế là “bà tổng” cự ngay “Ai nói với em đó? Tôi không hỏi tên nó. Mỗi nhân viên có một ID number. Tôi phải complain với boss cao của nó chớ không phải manager của nó nữa”. Vậy mà khi nường manager tiếp chuyện, “bà tổng” cũng đòi cho được ID number. Nói vậy chớ sau đó hạ hỏa, tôi cũng tha, không viết thư complain với big boss của nó nữa. Đấy, xem tôi như vậy thì làm sao tôi về VN sống với vc được?! Khi mà tụi vc nó coi dân như chó?! ( cười). Lão Phạm Bá Vinh sáng nay gọi điện thọai nói là người bạn mà tôi cũng biết vì có viết bài cho Sóng Thần, về CA chơi và lão muốn giới thiệu để đi chơi cho đỡ buồn. Tôi trả lời “Ai nói với ông là tôi buồn? Sau nữa, người nào ái mộ văn mợ thì mợ gặp một lần cho biết chứ mợ không có nhiệm vụ làm tài xế cho ai hết ông hiểu chưa? Mà ông cũng đừng bầy đặt làm mai nhé. Mợ Lan Chi là bà chằng, mợ không nể ai cả, mợ không sợ ai cả nên không có tên đàn ông nào trị được mợ hết”. Lão Phạm Bá Vinh cười ha hả!

Tóm lại tôi là phụ nữ mà có nhiều cái của phụ nữ tôi không có! Nói đúng hơn thì ngày xưa thuở nữ sinh Gia Long hay sinh viên Khoa Học, cũng có đấy, nhưng nhờ ơn …chồng con, nhờ ơn vc, những cái "đáng yêu" của phụ nữ đã biến mất không còn dấu vết (hic)!

Chỉ có một cái của phụ nữ mà tôi còn là …cô ký điệu. (cười).

Xem này thuở mười tám nhá, lúc mới vào đại học Khoa Học, tóc kiểu như Giao Linh, một bên cúp vào, một bên quớt ra đó:

Năm xưa "em" đi chùa Hương (1994)

Còn thuở hai con này: Con gái Quỳnh Chi đầm hồng, sinh nhật năm bé 11 tuổi ( 1995), mẹ bé 46 tuổi rồi nha

Với nhà đại họa….sĩ Vũ Hối ở Sài Gòn Road tại Virginia 2004:

Rồi, với "anh hùng" Trần ngọc Huế (Anh hùng và kẻ bội phản, một cuốn sách của Mỹ viết về anh Huế) và vợ chồng cô Dương Nguyệt Ánh năm 2007:

Khi đã về CA 2012

Hoàng Lan Chi

7/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Tôi là phụ nữ…

Gánh Nặng Cộng Đồng

Tuần qua, tôi ghé trụ sở BPSOS vì tôi nhờ cô Trang Khanh đem dùm albums từ VA về CA. Trước đó, Khanh cho biết thùng album rất nặng. Thật tình, tôi không nhớ nó nhiều và nặng đến thế. Kể từ khi ôm albums từ Việt Nam qua, tôi có ngó ngàng gì đâu. Cuộc sống cứ là “lu xà bu”. Tôi nói Khanh nhờ volunteer của BPSOS, lột hình ra khỏi albums cho đỡ nặng.

Khi giao thùng albums, Trang Khanh nói “BPSOS làm gì có người rảnh lột hình dùm cô. Thôi con đóng tiền đem về cho cô cho rồi. Vả lại, hình của cô chia ra từng loại. Người lột đâu phải chỉ lột không, còn phải xem rồi cho ý kiến nữa chớ!”. Tôi bật cười.

Năm 2006, khi Ts Nguyễn Đình Thắng mời tôi làm việc, Trang Khanh là Giám Đốc CT Phát Triển Cộng Đồng. Ngày đó có khoảng bốn chương trình lớn với bốn vị giám đốc. Hiện giờ, BPSOS “reorganize” và Trang Khanh là giám đốc , chỉ sau Ts Nguyễn Đình Thắng.

BPSOS có hai người mà tôi “vừa ghét vừa thương” là Ts Nguyễn Đình ThắngTrang Khanh. “Ghét” vì lý do cá nhân, “Thương” vì đó là hai mẫu người cho tinh thần “thiện nguyện”. Hai người nầy làm việc bất kể giờ giấc. Hai người nầy giỏi cả Anh lẫn Việt. Hai người nầy ngày xưa, viết bài tiếng Việt rất “chuẩn” theo kiểu Mỹ. Mở dấu ngoặc, tôi đoán là Trang Khanh được Nguyễn Đình Thắng đào tạo về khoa “viết”. Lúc làm chủ bút Mạch Sống của BPSOS, hai người nầy ít bị tôi sửa bài nhất. Nói rõ là bài của nhân viên BPSOS, tôi “edit” chi chít còn bài của hai người nầy, tôi “edit” rất ít. Hai người nầy đều giỏi về khoa ăn nói trước đám đông, trước ống kính truyền hình vì họ nắm rất vững lãnh vực họ đang phụ trách. Chỉ có một khác biệt nhỏ giữa hai người nầy: Nguyễn Đình Thắng nói năng chậm rãi, khoan thai còn Trang Khanh thì …giống “đàn ông”! Ngày đó, Trang Khanh chọc tôi “Con thấy cô với anh Thắng điệu như nhau. Nói gì chậm rì!”. Trời đất ơi, tôi thầm nghĩ “Phát thanh cho cao niên thì phải nói vừa phải cho người ta hiểu. Ai như chị, cứ như trong trại quân đội!”.

Chương trình HO đợt 2- do Nguyễn Đình Thắng tự nguyện làm để giúp các cựu quân nhân. ( sao hồi đó không thấy ông cựu quân nhân nào "mắng" Thắng chuyện này nhỉ?!!)

https://www.youtube.com/watch?v=QQYxPHI54Sk

Hai cô cháu rủ nhau ăn bánh cuốn Tây Hồ. Vừa ăn vừa lai rai chuyện BPSOS. Lại quanh quẩn những chuyện Nguyễn Đình Thắng bị vu cáo, chụp mũ. Khanh hỏi “Con không liên lạc với cộng đồng nhiều. Con thắc mắc tại sao cộng đồng có nhiều cô chú lớn tuổi mà thích nói là nói, nói không bằng cớ gì hết, kỳ vậy cô?”.

Thiệt cái tình. “Bà cố nội cô cũng không hiểu đừng nói gì đến cô!” . Tôi cười cười “Chắc họ hơi bị chập mạch. Chụp mũ Thắng tổ chức Ngày Quân Lực tỉnh bơ. Điên quá là điên. Ai thèm chú tâm ngày đó của các cụ. VC cũng chỉ hầm hừ cái tên Ngày Quốc Hận thôi vì nhiều người biết ngày đó, đã có trong cả lịch sử Mỹ, ngày đó các cụ treo cờ rũ còn chúng vui mừng. Chớ ngày 19/6, các cụ cứ múa theo ý mình, ai thèm chú ý. Thắng muốn tổ chức Ngày Vinh Danh và Tri Ân vào ngày đó để hy vọng có đông người dự, ai dè tổ chức cộng đồng Đoàn Hữu Định có vẻ mê Vịt Tê hơn. Bọn Vịt này chắc muốn kéo Nguyễn Đình Thắng về với mình không được nên ra sức phá. Năm 2014, cũng tháng vận động nhân quyền, chúng chơi cái trò cho Trúc Hồ kéo lên DC, ra vườn bông gần Quốc Hội hát hò. Chúng muốn chia số người sẽ về DC. Hồi đó, cô đã mỉa mai, chả hiểu cái màn hát hò của Trúc Hồ có tác động gì đối với VC và Mẽo? Ruồi bu. Năm nay, chúng cũng phá bằng cách cũng cho bầu đoàn thê tử Trúc Hồ kéo lên DC hát hò vào 30/4 nhưng vì kinh nghiệm năm ngoái, vì cách xa, nên chúng đã không phá nổi Nguyễn Đình Thắng. Ngày 18/6, mấy trăm người từ khắp nơi về DC, vào gặp dân cử của họ, trình bày về nhân quyền. Cô nghĩ đây là thắng lợi lớn của Thắng. Phái đoàn Michigan đi rất đông, trông rất đẹp. Đa số là người thế hệ “bản lề”, có địa vị trong xã hội Mỹ, thông thạo Anh-Việt và họ hướng dẫn người già.”

Mấy hôm trước tôi nhờ người tìm lại hộ một bài viết cũ từ 2007 của Nguyễn Đình Thắng. Chính vào năm đó, tôi hết sức xúc động khi đọc bài này. Tôi copy một đoạn trong đó và đưa vào “Thư gửi con gái”. Trong đó, tôi bày tỏ rằng tôi mong ước, sau này con gái tôi cũng dành những năm cuối đời cho lãnh vực “thiện nguyện”.

Ông Peter F. Drucker đã có một nhân cách đáng quý khi ông dành hai mươi năm cuối đời để cống hiến cho những việc thiện. Tôi nghĩ trên đời có nhiều người sống đẹp như vậy. Đây là đoạn trong bài viết “Từ thành công đến ý nghĩa” của Nguyễn Đình Thắng viết năm 2007:

http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=988

Trích: Lùi trở lại năm 2001. Thời điểm quyết định thứ hai: tôi gặp Ông Peter F. Drucker. Tôi được chọn tham gia chương trình huấn luyện kéo dài một năm với Viện Lãnh Đạo Nói Với Lãnh Đạo (Leader to Leader Institute) mà Ông sáng lập ra. Ông là vị thầy của môn quản trị kinh doanh tân thời nhưng lại dành 20 năm cuối đời để phát triển khu vực phi lợi nhuận. Ông tâm tình về quyết định này: tiến từ thành công đến điều có ý nghĩa. Tạo tài sản trong khu vực kinh doanh là sự thành công. Tham chính để ảnh hưởng chính sách là sự thành công. Tuy nhiên điều thực sự có ý nghĩa là tạo nên những thay đổi xã hội tích cực từ “rễ cỏ”; đó là xây dựng nền dân chủ từ dưới lên và trực tiếp tác động đến cuộc đời của đồng loại. Theo gương Ông Drucker, năm 2001 tôi rời bỏ công việc kỹ sư và từ đó dầm mình vào công việc phục vụ cộng đồng. ( ngưng trích)

Trời tháng Bẩy của CA không nóng không lạnh, thật dễ chịu. Internet đang luân lưu bức thư của Việt Nam Quốc Dân Đảng bày tỏ rằng họ không đối thoại với vc. Lý do, họ được tin vc muốn nói chuyện với vài người của cộng đồng thông qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên. Thật tình mà nói, năm 2007 tôi viết bài “Những người trẻ muốn vào hang cọp”, trong đó tôi mỉa mai thế hệ một rưỡi là đòi vào hang cọp bắt cọp con nhưng chưa bắt được cọp con thì đã bị cọp nhỡ chiêu hồi. Đó là 2007.

Còn bây giờ, với tiến bộ khoa học, với facebook, với smartphone có thể làm nhiều việc tức khắc như quay phim tại chỗ khi gặp một sự việc, upload ngay lên facebook, với việc Nguyễn Phú Trọng qua “chầu” Hoa Kỳ, với việc con cọp Trung Cộng đang bị Mỹ đánh vào kinh tế, thì cá nhân lại có suy nghĩ hơi khác. Nếu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ làm trung gian, tôi sẽ hỏi “ Vc muốn nói gì? Nếu điều ‘chúng mày’ muốn nói hạp ý ‘bà’ thì ‘bà’ chấp nhận, còn không hạp thì miễn!” Hạp ý “bà” là chúng mày phải thả các tù nhân lương tâm, phải nới rộng “human right” và cả “worker right”. Cái nới rộng đó của “chúng mày”, phải được bảo đảm sẽ thi hành đến nơi đến chốn chớ không được nói cho qua phà. Sau đó, lợi dụng cái “nới rộng” đó của vc lập tức người hải ngoại phải xây dựng đóm lửa ngay ở nhiều mặt trận, để vào thời điểm thuận tiện, các đốm lửa sẽ gom lại và bùng lên. Nói rõ là cổ võ cho người tranh đấu nổi lên nhiều hơn ở torng nước. Cá nhân tôi cho rằng chỉ có thế mới rút ngắn được tiến trình dân chủ cho quê hương. Lý do, chúng ta không có quân đội, không có gì cả để về giải phóng VN bằng quân sự. Với tư thế người Mỹ gốc Việt, chúng ta chỉ dùng những quyền đang có để “vận động”. Nhìn quốc gia Mỹ, dù ghét hay thương, dù mối hận năm 1975 còn đó, thì chúng ta vẫn phải công nhận đó là “đế quốc Mỹ, quốc gia number one đứng đầu thế giới”. Họ là quốc gia vạch chiến lược cho toàn thế giới và cả khối tư bản phải tuân theo. Và đương nhiên, họ vì quyền lợi của Mỹ mà có chiến thuật riêng cho từng giai đoạn. Vận dụng, lợi dụng, áp dụng thế nào để cái lợi cho quốc gia VN nhỏ bé phù hợp với cái lợi của con cọp Mỹ: là một việc làm khó. Tuy chúng ta không tin được cộng sản nhưng đành nuôi hy vọng với thời buổi net, với những kỹ thuật khoa học tối tân, thì sẽ kềm chế được phần nào cái lưu manh của bọn quỷ đỏ. Ngày xưa, người lính cộng hòa phải chiến đấu trong một trận chiến không được quyền thắng. Ngày nay, chúng ta chiến đấu trong một trận chiến không lính, không quốc gia, chỉ còn tiếng nói của người dân Mỹ gốc Việt.

Cộng đồng hải ngoại hiện nay, tương tự xã hội thời chúng ta còn quốc gia, bao giờ cũng nhiều phức tạp. Thời kỳ “thanh bình” nhất có lẽ chỉ được vài năm từ 1955 đến 1960. Sau đó là bất ổn triền miên mà phức tạp nhất là thời kỳ của nền đệ nhị cộng hòa với Nguyễn Khánh chỉnh lý, rồi đám sinh viên “nhâng nhâng” lộng hành ở đô thị, đám thầy tu của cả hai tôn giáo cũng “nhắng nhít” lôi kéo con chiên, đám nhà báo cũng “nhố nhăng” tố chính quyền, đám dân biểu thiên tả cũng “nhảm nhí” khuynh đảo hành pháp…Chính quyền lúc đó vừa đối phó với vc vừa đối phó với đủ thứ “giặc” trên trong nước.

Những kẻ lợi dụng hai chữ “tranh đấu” để phá hoại: thời nào cũng có. Những kẻ lợi dụng ba chữ “chống bất công” để phá hoại: thời nào cũng có.

Gánh nặng cộng đồng bao giờ cũng nặng nhưng tôi tin rằng thế hệ bản lề sẽ không trùm chăn vì “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại chụp (chụp mũ) e vu ( vu cáo)”. Tôi cũng tin rằng thế hệ Một sẽ sáng suốt trong nhận định, thông minh trong suy nghĩ, thận trọng trong quyết định, để chọn đúng người mà hỗ trợ, chọn đúng đối tượng để chỉ trích hầu không hối hận sau này vì đã vô tình phá hoại việc chung.

Hoàng Lan Chi

7/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Gánh Nặng Cộng Đồng

Châu Thụy với tác phẩm Vực Xoáy

Châu Thụy với tác phẩm Vực Xoáy

Dan Trần- Hoàng Lan Chi –Châu Thụy 2015

HLC: Xin chào ô Châu Thụy. Sách viết về trại tù vc khá nhiều và bài về những chuyến vượt biên cũng không phải là hiếm. Tuy nhiên với một cuốn sách viết về đề tài tìm tự do được lồng trong môt câu chuyện tình thì có lẽ Vực Xoáy là một tác phẩm đầu tiên?

Châu Thụy:

Như chị vừa nói, trước giờ đã có rất nhiều người viết về vượt biên, mỗi một con tàu ra đi tìm tự do là một câu chuyện tang thương, nhưng đã được kể lại với tính cách phóng sự; tự thuật. Riêng Vực Xoáy, tôi muốn lồng bối cảnh vào một câu chuyện tình cảm, của Vũ và Vân, để người đọc có thể dễ dàng theo dõi câu chuyện cụ thể của hai nhân vật để thấy được toàn cảnh lúc bấy giờ. Trong VX, tình yêu mang đậm chiều sâu cao thượng, tình yêu của một tâm hồn trong sáng diệu vợi, không phải thiên về nhan sắc hay xác thịt.

Tôi không biết những chuyện kể về thuyền nhân và vượt biển được lồng trong một chuyện tình lãng mạn có phải là tác phẩm đầu tiền hay không nhưng đối với tôi VX là tác phẩm đầu tay và cũng là giấc mơ, là lời hứa của bản thân mình, với những người mà tôi đã gặp hay chưa từng gặp trên đường vượt biển tìm tự do. Viết cho họ, những người không bao giờ có được cơ hội để giải bày.

HLC: Xin cho vài nét tóm lược về sách?

Châu Thụy:

Bản thân tôi cũng là một thuyền nhân. Qua những kinh nghiệm đã trải qua của chính ban thân và sau khi có cơ hội tiếp xúc rất nhiều người từng là nạn nhân, tôi may mắn được nghe câu chuyện của chính bản thân họ. Nó thật kinh khủng và tàn nhẫn. Đến giờ sau bao nhiêu năm tháng, họ vẫn còn uất nghẹn như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi muốn gửi gắm tất cả những xúc cảm của các cô gái nạn nhân vào nhân vật Vân, để người đọc cảm nhận được nỗi đau khổ vô vọng. Vũ và Vân tượng trưng cho những người trẻ mới lớn, đang mang đầy nhựa sống, với bao ước mơ về một tương lai tốt đẹp thì biến cố 1975 xảy ra, đưa tất cà vào bế tắc và tuyệt vọng. Bên cạnh đó có những nhân vật thuộc nhiều thành phần khác nhau bị xáo trộn trong xã hội thời bấy giờ. Những người có chức vụ trước năm 1975, và ngay cả thường dân bị chế độ mới vùi dập, cho đến những kẻ nổi lên nắm được chính quyền lấy cơ hội bạo ngược, trả thù…

Hơn thế nữa, truyện dài Vực Xoáy dựa trên những sự kiện hoàn tòan có thật, bằng những lời thổ lộ thấm đẫm nước mắt và đớn đau của biết bao nạn nhân. Đây là một câu truyện đầy yêu thương và cũng đầy nước mắt của hai nhân vật nam nữ ở độ tuổi đôi mươi. Từng trang sách một, tôi muốn lột trần những tâm trạng bất hạnh đến cùng cực xẩy ra trong đời họ. Họ là biểu tượng cho những thuyền nhân tìm cách trốn thoát khỏi chế độ Cộng sản. Đã có biết bao những khổ nạn trải qua trong từng bước chân, trên từng ngọn sóng: Trong đêm tối, từng làn đạn vun vút không có mục tiêu chính xác khiến thịt máu tung té. Tiếng cười hà hê của bọn hải khấu; tiếng rên xiết nghiến răng chịu đựng của những thân thể phụ nữ trần truồng trên sàn tàu; và những ánh mắt mờ dại với hơi thở ngoi ngóp đang ngấu nghiến miếng thịt của người vừa tắt thở…

Vực Xoáy là bi khúc đưa độc giả hòa mình vào thế giới; với đủ mọi cung bậc của cảm xúc đến mức tàn nhẫn nhất đã xẩy ra trên biển cả, giữa sóng gầm, bão tố, và những ác dục…Quả thật là ngoài sức tưởng tượng của con người!

HLC: từ đâu ông có ý tưởng viết Vực Xoáy? Điều gì thôi thúc ông viết về đề tài này?

Châu Thụy:

Vì là một nạn nhân của chế độ và phải bỏ nước ra đi nên trong đầu tôi luôn hằn sâu những nỗi buồn. Khi bước vào nghệ thuật Bút Họa, tôi luôn bị ám ảnh, nghĩ đến hàng ngàn người chết trên đường vượt biển, đã thôi thúc tôi phải làm một việc gì đó cho họ. Một lần khi tôi phóng bút hoa chữ “Thuyền Nhân”, quá khứ bắt đầu trở lại. Rồi giống như có động lực nào đó thúc đẩy đã cho tôi cảm xúc rất mạnh, tôi ngồi xuống viết không ngừng về chuyến đi của mình và nhiều người khác.

Tôi thiết nghĩ, có một nguồn sức mạnh có lẽ của những vong linh nạn nhân xấu số đã thúc đẩy và gợi cho tôi cái cảm hứng để hoàn thành tác phẩm Thuyền Nhân này. Rồi với bao cố gắng và may mắn, tôi lại tìm được “Miếng Ván Thuyền” thật sự từ một chiếc thuyền vượt biển mục nát trôi dạt vào bờ nằm chết khô trên một bãi cạn. Mảnh ván như một lưỡi dao cắt ngọt lên tâm trí của tôi, làm sống lại những kỷ niệm tang thương cũ và thúc dục tôi phải làm một điều gì cho những người kém may mắn đã phải vùi thân nơi này và những nơi khác không thể bị quên lãng.

Và sau hơn 5 năm, tác phẩm thuyền nhân và miếng ván thuyền mang theo những hoài bảo của tôi đưa đẩy “Vực Xoáy” vào trong tác phẩm này.

Ngoài ra, Vực Xoáy gởi ra một thông điệp tình yêu đến những lứa đôi hay những người phụ nữ đơn thân chẳng may trải qua thảm nạn hải tặc trên đường đi tìm một cuộc sống có phẩm giá làm người. Xin hãy tự tin, hãy ngẩng cao đầu đi về tương lai đang mở ra chào đón họ. Tôi mong mỏi những nạn nhân tìm được niềm an ủi, lòng tha thứ và tình thương yêu để xây dựng cuộc sống ngàn lần đẹp hơn những gì đã xảy ra cho chính họ.

HLC: Khi bắt tay vào viết, ông nghĩ thể loại nào nên chọn để gia tăng sự hấp dẫn cũng như “trong sáng, dễ đọc” cho tác phẩm?

Châu Thụy:

Thật sự mà nói, không phải là người viết văn chuyên nghiệp, tôi viết vì sự hối thúc của con tim. Tôi không sắp xếp trước cho mình một loại nào trong thể văn xuôi. Khi viết, tôi để xúc động của mình vào từng trang giấy, có những khi tôi viết trong giòng, vừa nấc vừa gõ trên phiếm máy.

Thật sự mà nói, tôi không phải là người viết văn chuyên nghiệp, tôi viết vì sự hối thúc của con tim. Tôi không hề sắp xếp trước cho mình một loại nào trong thể văn xuôi. Khi viết từng dòng truyện cho VX, tôi đã để hết tâm tư, tình cảm của mình vào từng trang viết. Có những khi tôi viết trong cảm xúc tuông tràn để dòng nước mắt nóng chảy, nghẹn ngào trong tiếng nấc và tiếng gõ trên phiếm máy.

Trong bố cục câu chuyện, phần “tôi” là tâm sự của Vũ và phần nhật ký của Vân như hai dòng sông chảy, có lúc giao nhau; có lúc tách rời. Dòng sông có khi phẳng lặng như buổi gặp nhau ban đầu, lóng lánh màu tình yêu, rồi có khi gập ghềnh, chảy xiết và có khi cạn khô. Có những đoạn văn chuyển thể không còn là diễn tả, như tâm trạng tuyệt vọng khô cằn trong những ngày lênh đênh trên biển cả. Tôi muốn VX như một bức tranh, mời người đọc không những chỉ đọc truyện, họ còn có thể tự hình dung ra một khúc phim, một bức tranh toàn cảnh của màu sắc tình yêu, khổ đau nghiệt ngã và bản chất dục vọng của con người!

HLC: Có khoảng bao nhiêu nhân chứng được tham khảo để xây dựng “Vực Xoáy”? Để gia tăng mức giá trị, ông có đề nghị một vài người nên cho phép sử dụng danh tính thật?

Châu Thụy:

Trong thời gian ở bên trại tị nạn và sau ngày định cư tại Mỹ, tôi đã có cơ hội gặp rất nhiều những nạn nhân để nghe kể về những chuyến đi rùng rợn của họ. Tôi không thể nhớ được con số là bao nhiêu. Nhưng đa số những nhân chứng hiện đang ở California và Texas.

Thật vô cùng xin lỗi là tôi đã có lời hứa với các nạn nhân trước khi phỏng vấn là xin giữ kín. Xin cho tôi được phép tiếp tục tôn trọng và giữ kín tên tuổi của họ.

Như nhân vật nữ Vân trong Vực Xoáy là một nhân vật sống, chị đang ở ngay trong Little Sài Gòn, California. Chị là một trong những người mà tôi có cơ hội được gặp để nghe kể về quá khứ thảm khốc của mình. Lắng nghe chị vừa sợ hãi, vừa xấu hổ thuật lại chuyện bất hạnh đã xẩy ra trên 35 năm qua, với hơi thở dồn dập, ngắt quãng, giọng nức nở, uất nghẹn theo từng chi tiết, từng khúc đoạn, tôi biết chị vẫn còn đang sống trong kinh hoàng, tim vẫn còn vỡ vụn, vết thương trong hồn vĩnh viễn không bao giờ được chữa lành. Tương tự, như hoàn cảnh thương đau của nhân vật Thắng trong truyện. Khi cả gia đình đi vượt biên, bố và em bị công an bắn chết, còn người chị bị bắn mù một con mắt. Ít ngày sau đó chị bị mù luôn cả hai con vì không được chữa trị trong tù. Chị ấy hiện đang ở San Jose và vẫn tiếp tục kéo dài kiếp sống lê thê trong bóng tối. Đoạn trường hơn hết là chuyện ăn thịt sống đồng loại của nhân vật Hòa trong chuyện tôi được nghe một nhân vật biết chuyện, hiện đang sống ở Houston, Texas thuật lại. Tất cả những chi tiết viết trong Vực Xoáy đều có thật và SỰ THẬT đã xẩy ra cho biết bao người tị nạn bỏ nước ra đi trong thời điểm cách nay 40 năm. Không giấy mực nào có thể kể xiết bao nỗi thống khổ, gian truân, bất hạnh nghiệt ngã mà những người vượt biển đã trả giá bằng nước mắt, máu và ngay cả sinh mạng vì hai chữ TỰ DO.

HLC: Chi tiết “ăn thịt người”, theo ông có nên phổ biến rộng rãi vì có người lý luận rằng, nó sẽ làm người phương Tây có cái nhìn kinh sợ thay vì cảm thông? Phim hay truyện về đề tài này, nếu cần phổ biến cho người Mỹ đọc thì phải hiểu tâm lý học rất khác tâm ly người Việt. Vd điển hình thanh niên Mỹ có thể khóc sướt mướt với “Love Story” nhưng với thanh niên VN thời đó thì không.

Châu Thụy:

Tôi không nghĩ chi tiết này sẽ gây hoang mang, dư luận, hay kinh tởm cho độc giả người Mỹ. Điển hình câu truyện “Đôi Mắt Phượng” đã được chuyển qua Anh ngữ, trong đó tác giả đã tả chi tiết về chuyện ăn thịt người. Tôi đã đưa câu chuyện cho những đồng nghiệp đọc, họ sửng sốt và có những thương cảm cho nạn nhân. Ngoài ra, người Mỹ đã có cơ hội xem cuốn phim “Alive” vào năm 1993, trong đó có cảnh những người sống đã xé ăn từng miếng thịt người để chết để sống còn trong một tai nạn máy bay bị rớt và gẫy đôi, nằm trên những ngọn núi tuyết chập chùng gần Chi lê và nhiều quốc gia khác lân cận.

Tôi thiết nghĩ, sự thật vẫn là sự thật tuy điều này rất kinh hãi nhưng khi ở bước vào đường cùng đối diện với cái chết, thì bản năng tự nhiên của con người ta là phải làm bất cứ điều gì để được sinh tồn. Tâm tư của những nhân vật trong Vực Xoáy khi hành động việc này cho thấy hình ảnh những người ăn thịt đã không còn biết phân biệt mình đang ăn cái gì! Họ chỉ nhai để nuốt và không biết mình đã nuốt những gì…. Họ chỉ biết một điều rằng: Họ cần phải tồn tại!

HLC: Có một điều, tạm gọi là khá ly kỳ khi ông trở về VN, ra bãi biển và gặp con thuyền có hình dáng giống hình vẽ của ông về vượt biên? Xin nói rõ hơn?

Châu Thụy:

Khi hoàn tất tác phẩm “Thuyền Nhân”, ba năm sau, trong một chuyến viếng thăm Đông Nam Á. Tôi may mắn được một người dân địa phương hướng dẫn tới thăm một vùng ven biển để nhìn lại vết tích những cuộc hải hành đầy gian khổ của thuyền nhân tị nạn nhiều năm trước. Ở đấy còn vương vãi những mảnh gỗ của những con tàu vỡ nát. Điều lạ là cạnh đó vẫn còn nguyên vẹn hình thù một con thuyền nhỏ mong manh đã bắt đầu mục rữa vì mưa gió thời gian. Con thuyền vẫn con nằm trơ vơ trên bãi cát hoang vắng, mặc cho tiếng thét gào vô tình của sóng biển từ ngoài xa vọng lại.

Tôi đứng chết lặng thật lâu trước con thuyền. Hình dáng giống tựa như tác phẩm “Thuyền Nhân” mà tôi đã vẽ. Duyên số hay định mệnh? Lòng tôi bồi hồi tưởng nhớ những nạn nhân từng có mặt trên con thuyền này và tự hỏi họ đang ở nơi nao? Có may mắn đến được bến bờ tự do như tôi hay đang an nghỉ trong lòng đại dương mà oan hồn của họ đang lang thang đi tìm công lý để bày tỏ nỗi oan khiên chưa được giải thoát?

HLC: thông điệp mà ông muốn gửi mọi người qua Vực Xoáy, là gì?

Châu Thụy:

Điều tôi ao ước là mong cuốn sách đến vớii những người trẻ, những người đến sau, và những người trong nước. Những người không biết chuyện gì xảy ra ngoài biển trong thời gian đó. Có thể họ đã nghe kể, họ biết, nhưng có rất nhiều chuyện họ không thấu hiểu hết được những đau thương. Tôi mượn câu chuyện tình cảm của Vân và Vũ, viết thành tiểu thuyết để mọi người có thể theo dõi và cảm nhận một cách dễ dàng hơn.

50 năm sau, 100 năm sau, những nhân chứng của thời vượt biên như chúng tôi không còn nữa, thì những cuốn sách này sẽ là tài liệu để họ có thể hiểu được biết bao người của thế hệ trước tìm đến thế giới tự do, đã vượt biên đã phải đau khổ như thế nào. Đọc, hiểu, buồn, so sánh để biết được rằng mình may mắn không phải chọn hai chữ tự do bằng con đường vượt biên.

HLC: Bây giờ, xin bước qua lãnh vực khác của ông. Ông, được biết đến đầu tiên về một nghệ thuật, có tên “Bút Họa”. Vì sao ông có tư tưởng về việc dùng vẽ để họa chữ và nói lên một chủ đề?

Châu Thụy:

Trong những phong trào gìn giữ văn hoá Việt Nam tại hải ngoại, chúng tôi sáng lập ra trường phái mới viết chữ và tranh được gọi là nghệ thuật Bút Họa, như là một trong những cố gắng để gìn giữ và phát huy những gì mà tổ tiên đã để lại, tiếp tục góp phần vào nền văn học qua nghệ thuật viết chữ đẹp. Trường phái đang hình thành và được đón nhận để góp phần vào sự bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam. Nghệ thuật Bút Họa là một nghệ thuật dùng chữ Quốc Ngữ để nói lên ý nghĩa và tính cách đặc thù của ngôn ngữ Việt, mang hồn tính riêng tư, độc đáo của người Việt Nam.

Như chúng ta biết, trong chữ Quốc Ngữ, khi nói đã có âm điệu nhạc tính. Khi viết, đã có những đường nét xuất thần, vừa tạo hình, vừa gợi cảm làm cho mỗi chữ mỗi câu thêm ý nghĩa, thêm phong phú và khởi sắc.

Bằng nghệ thuật Bút Họa, người họa ngữ dùng nhiều đường nét khác nhau, có nét thì sắc mạnh như cuồng phong bão tố, có nét thì uyển chuyển, mong manh như tơ lụa, nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay. Tất cả để tạo nên cái âm hưởng, chuyển cái Hồn của chữ và ý của câu để xúc tác tâm hồn người thưởng lãm, thấm sâu vào lòng người.

HLC: Tôi có được xem bút họa về nhạc sĩ Anh Bằng. Xin chia sẻ?

Châu Thụy:

Sau những lần gặp gỡ và tiếp xúc với cố nhạc sỹ, tôi rất kính trọng, yêu thương tính hiền hòa, sự khiêm nhường và lòng nhân hậu của ông. Và sau khi biết ông có chứng bệnh hiểm nghèo trong mình, tôi muốn có một tác phẩm Bút Họa để vinh danh ông khi ông còn sinh thời. Sau một thời gian dài suy nghĩ và qua nhiều lần ngồi trò chuyện với ông để tìm hiểu về âm nhạc của ông. Tác phẩm “Nhạc Sỹ Anh Bằng – Một Đời Cho Âm Nhạc” đã hoàn thành với chữ ký của ông. Tác phẩm gồm gần 200 tựa các bản nhạc được sắp xếp thành khuôn mặt của nhạc sỹ, phần bên trái của khuôn mặt là một phần của bản đồ Việt Nam, khởi sự bằng bản nhạc “Con Đường Việt Nam” rồi đến bản nhạc Nỗi Lòng Người Đi tượng chưng cho Hà Nội, dọc về miền Nam, có Huế, Nha Trang, Đà Lạt đến Sài Gòn, là những địa danh mà Nhạc sỹ đã bỏ vào các bản nhạc. Ông rất đắc ý với tác phẩm để rồi sau đó, chúng tôi đã kết nghĩa tình cha con.

HLC: còn những tác phẩm bút họa nào mà ông tâm đắc?

Châu Thụy:

1. Bức “Thuyền Nhân” Khi tạo nét cho tác phầm Thuyền Nhân, tôi đã để cho tâm tư lãng đãng trở về khung cảnh hãi hùng của con thuyền bé nhỏ, lắc lư lên xuống trên những ngọn sóng cao vút rối lao thẳng xuống vực thẳm muôn trùng! Tôi như cảm nhận thấy sự sống mong manh của cả con thuyền tan biến trong tiếng gào thét của loài hải tặc với hình ảnh những xác chết bồng bềnh trôi dạt… Phải chăng vong linh những nạn nhân xấu số đã đem lại cho tôi cảm hứng để hoàn thành tác phẩm để đời này? Nó không chỉ là một kỷ niệm của riêng tôi mà còn giúp người thưởng ngoạn, nếu là kẻ trong cuộc, cơ hội gặp lại chính mình trong những phút giây hãi hùng, hoảng loạn giữa sự sống, sự chết với những cơn cuồng nộ của đại dương và cơn khát máu của loài giặc biển! Tôi đứng chết lặng thật lâu trước tác phẩm. Lòng bồi hồi tưởng nhớ đến những nạn nhân đã từng có mặt trên những con thuyền vượt biển và tự hỏi họ đang ở nơi nao? Đã may mắn đến được bến bờ tự do như tôi hay đang an nghỉ trong lòng đại dương mà oan hồn của họ đang lang thang đi tìm công lý để bày tỏ nỗi oan khiên chưa được giải thoát?

2. Bức “Việt Nam- Lịch Sử Đấu Tranh Cho Tự Do” Sau hơn một năm suy nghĩ, đọc về lịch sử và sắp xếp tư tưởng, tôi đã đưa danh tánh nhiều vị anh hùng, liệt nữ và những trận đánh lịch sử, chống ngoại xâm vào trong tác phẩm với hình dáng của bản đồ Việt Nam. Tôi rất vui vì khách thưởng lãm đã đứng nghiêm trang và kính cẩn trước tác phẩm vì ý nghĩa cao cả mà tôi đã gửi gấm trong đó.

3. Bức “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ “, tôi đã có cơ hội gặp Cố Nhạc sỹ Nguyễn Đức Quang để nói về sự hình thành tác phẩm dựa trên lời nhạc chứa đầy sự hùng dũng của ông. Tấm hình với nền lụa màu tím, lời bản nhạc được vẽ lên như những ngọn lửa đấu tranh, cháy sáng và vươn cao như những tinh thần yêu nước của những người yêu chuộng tự do. Cố NS Nguyễn Đức Quang đã mất trước khi tác phẩm hoàn tất nên đã không có chữ ký của ông trên tác phẩm.

HLC: Xin ông cho biết có dự tính gì cho tương lai của VX?

CT: Sau khi VX được phổ biến rộng rãi từ tháng 4/2015, đã có nhiều độc giả khắp nơi không ngừng viết trên facebook và gửi về cho tôi những lời nhận xét rất cảm động. Họ đã khuyến khích và chia sẻ chân tình làm cho tôi thấy được việc mình làm đã đem lại những thành tựu chắc cũng đáng được quan tâm trong cộng đồng. Và ít nhiều, tôi cũng phần nào thấy ăn ủi vì đã thực hiện được lời hứa của mình với những nạn nhân kém may mắn trong những cuộc ra khơi. Bên cạnh đó, có nhiều người yêu cầu và mong đợi VX được chuyển dịch ra Anh Ngữ. Hiện nay tôi đang cố gắng, cũng như nổ lực rất nhiều để có một bản chuyển ngữ thật sát nghĩa, sao cho người đọc ngoại quốc khi tìm đọc VX, cũng sẽ có được những cảm xúc như những đọc giả người Việt mình. Có nhiều người tự nguyện phụ giúp tôi để chuyển dịch tác phẩm này, nhưng thời gian gấp rút đang là một khó khăn. Bên cạnh đó vấn đề tài chính để tiến hành công việc vẫn còn là một nan giải. Ngoài ra, cũng có nhiều người cổ động để VX được dựng thành phim.Vì trong biến cố vượt biên đi tìm tự do sau 1975 của dân tộc Việt Nam, đã có hàng trăm ngàn người chết thê thảm trên đường bộ và đường biển, chưa có một bộ phim nào được hình thành đi vào dòng chính để toàn thế giới nhìn ra giá trị của sự TỰ DO mà những người Việt Nam đã hy sinh đánh đổi bằng máu, nước mắt và biết bao sinh mạng đã là cái giá quá đắt để có sự thành công rạng rỡ của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Điều này không phải tự nhiên mà có!

HLC: một câu hỏi về quan điểm cá nhân trước khi tạm biệt. Quan điểm của ông trước hiện tình VN? Ông nghĩ mình sẽ làm gì để đóng góp vào tiến trình dân chủ tự do cho VN vì Vực Xoáy cũng như vài bút hoạ của ông đều nói đến khát kháo chính đáng của con người : Tự do-dân chủ?

Châu Thụy:

Là một người Việt Nam yêu nước tôi luôn hằng mong muốn quê hương được phùng thịnh như những nước tự do khác, được tự mình lựa chọn trở về đất Mẹ để sống mà không gặp bất cứ một đe dọa nào. Người nghệ sỹ chỉ còn có thể dùng những tác phẩm của mình để nói lên niềm ao ước của mình. Qua những tác phẩm, tôi mong muốn mang những tư tưởng để gieo rắc vào trong lòng những người còn có tấm lòng yêu quê hương, chuẩn bị cho một ngày chúng ta được trở về phục vụ và thở hơi thở tự do cuối đời trên quê hương yêu dấu của mình.

Liên lạc để mua sách Bút Họa và Vực Xoáy:

Qua email: chauthuy

Qua điện thoại: (714)828-9658

website: chauthuy.com

chauthuy.net

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Châu Thụy với tác phẩm Vực Xoáy