Hành trình “Viễn Khúc Việt Nam ”(Paris by night số 77) : từ sáng tác đến đạo nhạc

Hành trình “Viễn Khúc Việt Nam ”(Paris by night số 77) : từ sáng tác đến đạo nhạc

LGT: Viễn Khúc Việt Nam là một nhạc phẩm của Hàn Lệ Nhân do ca sĩ Dương Triệu Vũ hát trong Paris by night số 77 phát hành năm 2005. Dương Triệu Vũ rất thích bài này và có thể coi đây “ trade mark” của Dương Triệu Vũ.

Xin giới thiệu đến quý thính giả buổi phỏng vấn của chúng tôi với nhạc sĩ Hàn Lệ Nhân về nhạc phẩm này, được sáng tác trong hoàn cảnh nào, bị cướp đi ra sao và cuối cùng thì châu về hiệp phố ra sao..

HLC: Kính thưa quý vị, nhạc phẩm VKVN được ca sĩ Dương Triệu Vũ hát trong Paris by night 77 năm 2005 và trong CD Ngày Đó Có Em năm 2006. Chúng tôi xin gửi đến quý vị tâm tình của tác giả nhạc phẩm này, nhạc sĩ Hàn Lệ Nhân hiện đang cư trú ở Paris . Xin chào nhạc sĩ HLN.

HLN : Xin chào chị Lan Chi.

HLC : Thưa nhạc sĩ, nhạc phẩm Viễn Khúc Việt Nam nghe nói có môt đời sống khá ly kỳ! Hôm nay xin phép trò chuyện với nhạc sĩ để tìm hiểu thêm về vấn đề này. Trước hết xin nhạc sĩ vui lòng cho biết nhạc sĩ đã thai nghén VKVN từ bao giờ ?

HLN : Tôi được sinh ra và lớn lên tại xứ Lào, hoàn toàn chưa hề sống ở VN. Từ trước đến nay, tôi chỉ về VN 2 lần: 1973 được vài ngày và năm 2004 cũng vậy.

HLC : Xin nhạc sĩ cho biết VKVN viết năm nào và đến với giới thưởng ngọan lần đầu ở những đâu?

HLN: Ý định viết Viễn Khúc Việt Nam được manh nha từ năm 1982. Năm 1984 tôi đã viết xong nhưng lời chưa được vừa ý. Năm 1985 chúng tôi có thêm cháu thứ ba, tôi bèn ghép tên của hai người bạn thân là Hải và Nhi lại, đặt tên cho con là Hải Nhi. Tên của bé Hải Nhi vừa là để lưu niệm tình bằng hữu, vừa hàm nghĩa là đứa trẻ này được sinh ra tại hải ngoại. Rồi để làm quà ngày đầy tháng cho bé Hải Nhi, tôi lại đưa Viễn Khúc Việt Nam ra xem kỹ lại. Và lần này tôi rất vừa ý. Coi như VKVN hoàn chỉnh năm 1985 và đã được trình bày nhiều lần trong các sinh hoạt cộng đồng tại Pháp và các đêm văn nghệ bỏ túi như Sống Với Sáng Tác Mới, Hát Cho Nhau nghe, Đêm Thơ-Nhạc Hàn Lệ Nhân…do Văn Bút VN Hải Ngoại-Trung tâm Âu Châu tổ chức.

HLC: Sau đó có ca sĩ nào phát hành CD không ?

HLN: Năm 1986 ca sĩ Tấn Phát đã hát VKVN trong băng Phút Đầu Tiên phát hành tại Paris nhưng không đề tên nhạc sĩ.

HLC: Nhưng ca sĩ Xuân Lan sau đó đã hát VKVN và có đề tên HLN?

HLN: Đúng vậy. Ca sĩ Xuân Lan phát hành băng có tên “Ngăn cách” và có để tên tôi. Băng này phát hành tại Paris nhằm ủng hộ Hội Y Sĩ Thế Giới tức Médecins du Monde trong việc cứu giúp thuyền nhân Việt Nam.

HLC: Cơ hội nào đã khiến nhạc phẩm VKVN có mặt tại Hoa Kỳ?

HLN: Sau khi ca sĩ XL phát hành băng Ngăn cách vài tháng tại Pháp thì TT Làng Văn bên Hoa K ỳ mua bià cuốn băng trên.

HLC: Mua bìa nghĩa là sao?

HLN: Mua bìa nghĩa là chỉ thay bìa chứ không được thay đổi nội dung và chỉ để phát hành ở Mỹ.

HLC: Trên thực tế, TT làng Văn có làm đúng không?

HLN: Thưa không. Họ thay bìa nhưng nội dung bên trong thì …lại không ghi tên nhạc sĩ!

HLC: Nhạc sĩ có nói chuyện với TT Làng Văn?

HLN: Tôi và ca sĩ Xuân Lan có gọi nhưng không ăn thua gì cả. Xin được nói thêm, vào năm 1986 thì hiện tượng trên cũng bình thường chứ TT Làng Văn không phải là cá biệt.

HLC: 10 năm sau, TT Thúy Nga lại sử dụng nhạc phẩm này nhưng tên tác giả là ca sĩ Tấn Phát phải không?

HLN: Đúng vậy. Khi TT Thúy Nga trình diễn đại hội PBN 77 vào 2005 thì bạn bè đã biết và mail báo tin. Tôi rất vui mừng khi thấy VKVN được xuất hiện trên một sân khấu lớn như vậy.

HLC: Và sau đó thì sao?

HLN: Sau khi Thúy Nga phát hành DVD PBN 77 – 30 Năm Viễn Xứ, thì đêm 30/4/2005, tôi bắt tay vào viết bài “Viễn Khúc Việt Nam: Ai Là Tác Giả?”, đăng lên trang Web Thúy Nga Online.com, Trinh Nữ.net và và vài Web khác, kể lại ngọn ngành nỗi long đong của đứa con tinh thần của mình, kèm theo đầy đủ vật chứng.

HLC: Vật chứng gì thưa nhạc sĩ?

HLN: Vật chứng gồm (1) Băng số 1 là nội dung nữ ký giả Hồng Trung của đài RFI tại Pháp phỏng vấn ca sĩ Tấn Phát; (2) Băng số 2 nội dung Hồng Trung phỏng vấn tôi về Viễn Khúc Việt Nam liên tiếp hai kỳ; (3) Mấy hình bià ngoài và trong của ba cuốn băng đã được phát hành (4) Bức thư viết bằng tay của ca sĩ Tấn Phát gửi cho tôi với lời lẽ kiêu mạn, xấc xược và ngụy biện chối quanh; thay vì xin lỗi. Thật là đáng tiếc.

HLC: Phản ứng của TT Thúy Nga?

HLN: Năm 2005, Net đã rất mạnh nên chỉ trong vòng 2-3 tiếng đồng hồ sau, người điều hành Thúy Nga Online tên Tom đã trả lời. Rồi vài ngày sau, từ Hoa K ỳ, giám đốc TT Thúy Nga là cô Tô Ngọc Thủy gọi về cho tôi…

HLC: Còn công khai thì TT Thúy Nga đã có hành động gì?

HLN: Trong cuốn băng kế tiếp tức PBN 78, MC Nguyễn Ngọc Ngạn đã đính chính.

HLC: Nhạc sĩ có cảm tuởng gì khi châu về hiệp phố?

HLN: Rất vui thưa chị. Xin chia sẻ tiếp, trong kỷ nguyên thông tin này chuyện viết sách để tự ca tụng mình, chuyện chôm chỉa một câu nói, vài câu bài thơ, chuyện nhận vơ một bản nhạc của người làm của mình rất dễ bị phanh phui. Tôi mong rằng những sự việc đó sẽ đừng bao giờ tái diễn nữa ở trong nước lẫn hải ngoại.

HLC: Xin cảm ơn nhạc sĩ. Nhạc phẩm VKVN do nhạc sĩ là người sinh ra, lớn lên ở Lào và không hề ở Việt Nam nên mới có những câu:

Chưa bao giờ về Hà Nội

Chưa bao giờ ghé Sài Gòn

Chưa bao giờ thăm xứ huế

Chưa bao giờ giờ thấy Việt Nam

Nhưng tôi là người Việt Nam .

Khiến người nghe cảm động. Và nếu chỉ nghe bản nhạc, có thể nhiều thính giả sẽ không hiểu vì sao có câu sau trong bản nhạc:

Quê mẹ trong tôi chỉ là văn chương

Nhưng nay thì thính giả đã rõ nhạc sĩ viết văn, soạn nhạc hoàn toàn do nhạc sĩ tự học ngôn ngữ mẹ đẻ qua sách vở.

Xin cho hỏi ai đã khuyến khích nhạc sĩ học tiếng Việt?

HLN:

Trước 1975, hầu hết những người Việt được sinh ra và lớn lên tại Lào đều được cha mẹ cho học tiếng Việt, cao nhất là lớp ba. Trường hợp của tôi, tôi học tiếng Việt hết lớp ba ở trường tiểu học Lạc Hồng tại Savannakhet, Lào. Có lẽ do thân sinh tôi là một nhà nho nên ông có những câu nói làm tôi đến nay không sao quên được, chẳng hạn ông bảo "Đã lỡ bị sinh ra là người Việt thì không cách chi thay đổi được định mệnh. Dẫu có nhập tịch xứ người thì cũng chỉ là công dân giấy. Cách đơn giản và hay nhất là chấp nhận thân phận Việt. Mà đã là người Việt thì phải biết tiếng Việt. Còn nói và viết đúng tiếng mẹ đẻ là cách tỏ lòng thành cụ thể nhất đối với cội nguồn". Từ những lời gia huấn đó, và dù tôi học và nói được nhiều ngôn ngữ khác, nhưng trước sau sách Việt vẫn là sách gối đầu của tôi. Cần nói thêm rằng, trường hợp của tôi chỉ là một trường hợp điển hình, chứ còn nhiều người Việt sinh trưởng tại Lào mà giỏi tiếng mẹ đẻ hơn tôi nhiều, đơn cử nhà văn Phan Tình tại Pháp, nhà thơ Tâm Thơ tại Hoa K ỳ…

HLC: Xin cảm ơn nhạc sĩ HLN. Vâng, thưa quý thính giả, Viễn Khúc Việt Nam là một nhạc phẩm nói lên nỗi lòng của một con dân Việt nhưng lại bị xa bầy từ thuở chưa sinh. Xa bầy và luôn bị lạc lõng. Nhạc sĩ đã tâm sự, ở Lào thì người Lào coi là người Việt, khi về Việt thì người Việt bảo là người Lèo và khi định cư ở Pháp thì người Pháp coi là người …Tầu. Mặc cảm đó đã xui khiến anh viết nhạc phẩm VKVN.

Xin cảm ơn nhạc sĩ HLN. Chúc anh có thêm nhiều sáng tác trong năm 2009 đặc biệt nói lên tâm sự của những con chim lạc bầy như anh.

HLN: cảm ơn chị Lan Chi.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Hành trình “Viễn Khúc Việt Nam ”(Paris by night số 77) : từ sáng tác đến đạo nhạc

Khỉ nuôi cọp con như con mình

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Khỉ nuôi cọp con như con mình

“Chị Hai” Với Cộng Đồng Mạng Nhỏ

Hiện nay, trừ những người quá lạc hậu thì đa số người Việt hải ngoại đều có cộng đồng mạng cho riêng mình.

Cộng đồng mạng có thể là nhiều nhóm (group) về e-mail. Nhóm nói chuyện văn thơ, nhóm nói chuyện thể thao, gia chánh. Một số “hợp thời” thì có thêm cộng đồng bạn ở facebook.

Tôi cũng vậy, có nhiều nhóm nhỏ để giao thiệp. Một cộng đồng mạng nhỏ, hay nói chuyện thời sự của riêng tôi mà tôi đặt tên là "List Thời Sự" thì có chuyện vui như vầy: đa số gọi tôi là “chị Hai”.

Nguyên ủy của “chị Hai” là từ Ms Huỳnh Quốc Bình. Lý do gì mà Bình gọi chị Hai thì tôi cũng quên rồi. Thoạt đầu, tôi trêu Bình rằng người Bắc sẽ hiểu chị Hai giống như người giúp việc đó. (cười mếu). Bình trả lời lại, dạ không phải, chị Hai là người lớn nhứt trong nhà, uy quyền, theo kiểu “hét ra lửa mửa ra khói” và đàn em thì khiếp vía chị Hai. Tôi gật gù. Thế thì nghĩa chị Hai cũng giống với nghĩa bà Tổng mà lũ em, con, cháu trong nhà đặt cho tôi. Bọn này chuyên môn vầy “ Bà Tổng phán rằng..” hay “Coi chừng bà Tổng chửi đó!”.

Mỗi khi nghe gọi chị hai, tôi vừa vui vừa buồn.

Buồn vì mới ngày nào mình là cô nữ sinh ngây thơ, ngơ ngác của Gia Long.

Buồn vì cũng mới ngày nào mình là cô sinh viên vừa tồ vừa ngố trong Khoa Học.

Nếu không có VC thì cái cô nhỏ vừa tồ, vừa ngố, vừa ngây thơ đó đã có một cuộc đời khác bây giờ rất nhiều.

Thời gian thấm thoát thoi đưa. Con đường chạy trốn cộng sản của tôi sao mà gian nan quá, để đến nỗi khi đặt chân được lên xứ tự do thì ối thôi, trí đã mòn, chân đã mỏi, mắt đã mờ. (khóc nức nở).

Bây giờ, già ơi là già. Già đến nỗi các “cậu mợ” ở tuổi tri thiên mệnh ( nghĩa là cũng già chớ bộ, đúng không), gọi tôi là chị Hai.

Vui là nghe gọi chị Hai, có cảm tưởng tình thân trong gia đình.

Út Gia Long của tôi, út Một, ( tôi có hai Út Gia Long trong nhóm nhỏ) hay viết vầy Em thấy Hai viết cái đó hay đó. Chèn đét ơi, nghe Hai, Hai, sao giống miệt quê dữ ớn nghen. Hai à, biểu chút coi. Hai à, ăn cơm chưa zậy. Nghe thiệt là thương, phải hôn bà con cô bác?

Một lần, một cô em, không phải muội Gia Long mà là dân trường tây, cô Dương Nguyệt Ánh, cũng viết vầy “Chị Hai coi nè, bài của em không biết ai trong Gia Long sửa vầy nè”. Tôi bật cười khi đọc lá mail “thân thương, thân tình, thân yêu” đó từ Ánh.

Hôm qua, tôi gọi cho một cậu em, cũng cỡ ngũ thập. Sau khi nghe cậu “Allo, chị Lan Chi”, tôi bắt đầu vầy “Em có muốn chị Hai uýnh em không!” “Sao vậy chị”.

Đấy, cộng đồng mạng nhỏ của tôi gồm toàn những người trí thức, có giáo dục, có địa vị trong xã hội Hoa Kỳ, và luôn lễ phép với chị Hai. Chúng tôi đối với nhau đúng là như chị em trong một nhà.

Thật ra, cộng đồng mạng nhỏ của tôi về thời sự cũng có vài ông lớn tuổi hơn. Tuy thế, khi nói chuyện với mấy ông này thì tôi chả ngoan như các em (tuổi tri thiên mệnh) đối với chị Hai mà tôi hay cự mấy ông đó thì có. Vd vầy:

-Không cãi nữa. Lão làm theo ý lão, mợ không nói nữa.

-Ông hay nói hồ đồ quá, người ta đánh giá mình kém đó. Bà chằng nghĩ là ông cần coi lại những điểm hồ đồ trong bài của ông.

-Lão viết cái đó OK, công nương đồng ý với lão.

Có nghĩa là các em nhỏ tuổi hơn thì ngoan với HLC, còn HLC thì coi mấy ông lớn tuổi hơn, như củ khoai lang sùng hay khoai lang Dương Ngọc gì đó! (cười cười). Hư quá nhỉ?

Nói nhỏ, một cô em đang xúi tôi viết một bài “essay” cho teacher người Mỹ là “So sánh đàn ông Mỹ với đàn ông VN”. Tôi trả lời, đề tài coi bộ hay. Tôi sẽ viết!

Hoàng Lan Chi

10/2015

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on “Chị Hai” Với Cộng Đồng Mạng Nhỏ

Video Em Bé Tranh Luận Với Mẹ

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Video Em Bé Tranh Luận Với Mẹ

Tản Mạn Tháng Mười Với Ngôn Ngữ Việt Nam

Trích LanChiYesterday-Những vụn vặt đời sống quanh tôi

Tản Mạn Tháng Mười Với Ngôn Ngữ Việt Nam

Viết Hoa

Hôm qua tôi rất thích bài viết Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt của Đào Văn Bình và đã gửi ra chia sẻ. Nhiều người cũng thích và trả lời tôi là họ ủng hộ bài viết của ô Bình.

Thật ra, bài ông Bình chưa đầy đủ lắm về cách viết Hoa của Mỹ. Tuy thế, tôi nghĩ rằng ai học văn phạm Mỹ sẽ biết được đầy đủ thôi. Bản thân tôi cũng chưa nhớ được hết quy tắc viết Hoa của Mỹ. Lý do: tôi là người khá tiếng Việt (cười), những quy tắc văn phạm Việt ăn sâu vào đầu óc; trong khi đó quy tắc Mỹ có khá nhiều cái ngược với Việt nên “bổn cô nương bị bối zối là thường”!

Ví dụ, Mỹ sẽ viết Đường Hai Bà Trưng thay cho đường Hai Bà Trưng. Tôi khó chịu với quy tắc này của Mỹ.

Ví dụ hai: Mỹ viết các mùa tổng quát là xuân hạ thu đông. Tôi cũng khó chịu với quy tắc này. Tất nhiên khi đi vào trường hợp đặc biệt thì Mỹ viết Hoa cho mùa.

Về phía Việt Nam, vào khoảng 1970 nếu tôi nhớ không lầm, gạch nối đã bị nhiều người không sử dụng. Tôi không thích quy tắc này của Việt Nam.

Tuy thế, tổng quát thì đúng như ông Đào Văn Bình khuyến cáo. Đó là chúng ta nên cố gắng học theo cách viết Hoa của Mỹ. Tôi cũng cổ vũ cho việc viết bài xã luận theo kiểu Mỹ. Đa số quý cụ ông cao niên, cựu quân nhân VN, rất thích viết dài. Một câu văn dài như môt đoạn. Điều đó làm người đọc bối rối khi đi tìm chủ từ. Một vài cụ ông đã học được kiểu viết ngắn, gọn, mạch lạc, chủ từ ở đầu câu của Mỹ như Nguyễn Đạt Thịnh, Duyên Lãng Hà Tiến Nhất, Đỗ Văn Phú, Trương Sĩ Lương v.v. Kỳ dư các ông còn lại là múa bút theo ý mình. Độc giả sẽ rất mệt mỏi khi đọc văn chương của quý cụ ông này. Quý vị không cụ ông thì đương nhiên viết rõ ràng hơn. Có thể kể Huỳnh Quốc Bình, Nguyễn Kinh Luân, Phan Quang Trọng …

I hay Y

Hôm trước một người xấu đã cố tình gửi mail mập mờ để vu oan cho Hội Ái hữu Cựu NS Gia Long Nam CA là “thủ phạm” của hai chữ Biệt Li. Sau đó tôi gửi bài cho biết việc viết I thay cho Y đã xuất hiện từ lâu tại miền Nam trước 1975 nhưng không phổ cập. Tôi chỉ muốn nói, những người sử dụng I thay cho Y trong vài trường hợp, là người quốc gia. Họ không phải dùng chữ của VC đâu.

Tự thâm tâm, tôi rất ghét khi nhìn thấy “Biệt Li” hay “Chống Mĩ”. Thiệt tình, ngó thấy dị hợm, muốn “uýnh” quá. (cười). Lão Bạch Diện Thư Sinh là bạn tôi thì tôi “chiếu cố” chứ người khác mà viết “chống Mĩ” thì tôi vứt ngay bài ấy vào sọt rác. (quá khích nhỉ?)

Lai căng

Dù muốn hay không thì có vẻ hiện giờ ngôn ngữ viết nói của chúng ta bị “ba rọi” khá nhiều. Biết làm sao khi chúng ta đang ở hải ngoại và thời buổi @. Cái gì cũng cần nhanh và gọn.

Chữ Mỹ được dùng khá nhiều cho việc nói ba rọi là work. Liệt kê vài ví dụ:

TV work chưa vậy?

Sao nó không work?

Chữ nữa là OK.

Cái gì cũng OK được cả!

Bạn Biết Sử Dụng Mail Hay Chưa

Có vẻ nhiều người trong chúng ta vẫn cẩu thả trong sử dụng mails.

Tôi thường cố gắng: 1) Viết subject cho rõ ràng. (đấy, tôi lại viết lai căng rồi!) 2) Viết lại subject khi reply. 3) Cắt bớt mail nguyên thủy. (Bấm Ctrl và C để copy ý ngắn, sau đó bấm Ctrl và A, rồi delete hết. Bấm Ctrl và V để dán lại ý ngắn rồi gõ trả lời)

Tôi cũng cố gắng viết đôi lời giới thiệu cho bài của tác giả khác. Tôi sẽ cho độc giả của tôi hiểu tôi đồng ý/không đồng ý với bài đó; hay đơn thuần chỉ là FYI (For Your Information).

Dù cố gắng trong mails chính thức nhưng với mails qua lại với bạn bè, lắm khi tôi quá vắn tắt khiến họ không hiểu. Có gì đâu, “bổn cô nương” viết nhiều quá nên mỏi tay và vắn tắt. (cười trừ).

Hoàng Lan Chi

10/2015

Bài liên quan:

§ Đào Văn Bình-Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Tản Mạn Tháng Mười Với Ngôn Ngữ Việt Nam

Đào Văn Bình-Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt

LGT: đây là một bài viết có giá trị. Cá nhân tôi nghĩ rằng, có lẽ chúng ta , cho dù cao niên nhưng nên học cách viết Hoa của Mỹ để mọi việc được thống nhất. Đa số con cháu quý vị ở Mỹ đã học cách này thì khi các em xem bài tiếng Việt, cũng cảm thấy dễ chịu.

Hoàng Lan Chi

***************

Đào Văn Bình

Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt

Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy. Ðiều này cũng dễ hiểu vì tôi không tốt nghiệp hoặc chưa theo học một truờng hoặc một lớp dạy viết văn nào. Mặc dầu tôi đã trải qua sáu năm đại học nhưng ở đại học người ta không chấm điểm theo nghệ thuật viết văn mà chấm điểm theo nội dung bài vở. Cho nên khi khởi đầu viết tác phẩm Những Sự Thực Không Thể Chối Bỏ năm 1987 thì kỹ thuật viết văn của tôi như nguyên tắc viết hoa, cách chấm câu v.v.. hoàn toàn là của Lớp Ðệ Thất, Ðệ Lục với lời dạy của thầy, cô trong môn Việt Văn rất đơn sơ mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm. Sau mười năm sống ở Mỹ tức khoảng năm 1995 và sau khi đã làm việc trong các trường học, theo dõi các bài giảng dạy viết văn của học sinh Mỹ, đọc các sách biên khảo về văn chương Hoa Kỳ tôi mới bắt đầu hiểu một số vấn đề như sau:

I. Quy tắc viết hoa

Trước khi nói về nguyên tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên tắc viết hoa của văn chương Việt Nam như thế nào. Theo tôi, khi tổ tiên chúng ta còn xử dụng tiếng Hán để làm văn tự thì chắc chắn không có quy tắc viết hoa. Khi chữ quốc ngữ được sáng tạo thì quy tắc viết hoa của chúng ta đã được mô phỏng hoặc bắt chước theo lối viết hoa của văn chương Pháp. Thế nhưng quy tắc mà chúng ta ứng dụng hoặc bắt chước lại hỗn loạn và không thống nhất. Tôi không hiểu lỗi này do cha ông chúng ta không có một Hàn Lâm Viện để đặt một quy tắc thống nhất hoặc giả đây là lỗi của nhà văn, nhà xuất bản, của ban biên tập, của người sắp chữ (sau này là người đánh máy)? Riêng bản thân tôi, cho mãi tới năm 2000 – tức là sau 15 năm viết văn tôi mới chính thức tuân thủ lối viết hoa thống nhất theo văn chương Hoa Kỳ. Ðiều này qúy vị độc giả có thể nhận thấy trong cuốn Ký Sự 15 Năm xuất bản năm 2000. Chứ còn năm tác phẩm về trước, lối viết hoa của tôi hoàn toàn không thống nhất và hết sức lộn xộn. Sau đây là lối viết hoa trong văn chương Việt Nam theo thứ tự thời gian mà tôi đưa ra như những điển hình.

Viết hoa theo Việt Nam Tự Ðiển Khai Trí Tiến Ðức(1931):

Chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa và có gạch nối giữa các chữ. Thí dụ:

Kinh-dương-vương

Hà-nội, Hà-nam, Hà-tĩnh, Giáo-sư, Giáo-sĩ, Hương-giang, Nga-la-tư, Thái-bình-dương

Thế nhưng: A-di-đà-Phật (chữ Phật cuối cùng lại viết hoa)

Lối viết hoa không thống nhất trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng:

Tên người: Viết hoa cả họ, tên và chữ lót theo văn chương Mỹ nhưng vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ: Dương-Huy, Nguyễn-Thiết-Thanh, Nguyễn-Yên. Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết: Dương-thị-Mai (chữ thịkhông viết hoa)

Tước hiệu, chức vụ: Thường không viết hoa và rất lộn xộn. Thí dụ:

cụ tú Ninh-Bắc, cụ tú Lãm, ông hàn Thanh

nhưng ở một chỗ khác lại viết Bà Cán, ông Tham Lộc

(Tham ở đây là một tước vị lại viết hoa)

Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, trường học:

Khái Hưng chỉ viết hoa chữ đầu và vẫn có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Phúc-yên, Hà-nội, chùa Bách-môn

Thế nhưng ở những chỗ khác tất cả lại viết hoa. Thí dụ:

Thạch-Lỗi, Quan-Thánh, Phú-Thọ, Trù-Mật, Ninh-Bắc, Nam-Ðịnh, Gia-Lâm

Các con đường, con sông Khái Hưng viết hoa cũng không thống nhất: Thí dụ:

đường Quan-Thánh (Quan Thánh viết hoa)

Sông Tô-lịch (sông lại viết hoa, lịch lại không viết hoa)

Ngày, tháng Khái Hưng không viết hoa. Thí dụ: thứ bảy

Lối viết hoa của Nhất Linh trong Bướm Trắng:

Về địa danh, Nhất Linh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối theo lối cũ. Thí dụ:

Sầm-sơn, Hà-nội, Khâm-thiên, Chợ-lớn

Thế nhưng Sài Gòn có chỗ lại viết:

Sài gòn (không gạch nối)

Sài-gòn (có gạch nối)

Nhật bản (không gạch nối)

Về tên người Nhất Linh viết hoa theo lối Mỹ. Thí dụ:

Bác-sĩ Trần Ðình Chuyên (không gạch nối, chữ lót viết hoa)

Nhưng ở một chỗ khác lại viết: Vũ-đình-Trương (có gạch nối và chữ lót lại không viết hoa)

Lối viết hoa không thống nhất của Thanh Tịnh trong Quê Mẹ:

Các địa danh chỉ viết hoa chữ đầu và có gạch nối.

Thí dụ:

phá Tam-giang, trường Mỹ-lý, Trung-kỳ, Hà-nội

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Trường Mỹ-lý (trường viết hoa mà không phải ở đầu câu)

làng Hòa ấp (lại không có gạch nối)

chùa Ðồng Tâm (chữ tâm lại viết hoa và không có gạch nối)

Chức vụ chỉ viết hoa chữ đầu. Thí dụ: Hương-thơ

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

ông đốc (đốc không viết hoa)

ông Huyện Phong (hai chữ sau lại viết hoa)

Miếu Thần Ðá (tất cả lại viết hoa)

miễu Thánh (chữ miễu không viết hoa)

Các tên người đều viết hoa theo lối Mỹ nhưng có gạch nối. Thí dụ:

Hoàng-Thiên-Y, Khổng-Tử, Lý-Tịnh, Na-Tra

Nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Lê Bá Xuân (không gạch nối)

Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Văn Chí:

Về tên các quốc gia: Viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Việt-Nam, Ðông-Nam-Á, Ðông-Dương, Hòa-Lan

Nhưng ở nhiều chỗ khác chỉ viết hoa chữ đầu:

Hoa-kỳ, Thái-lan, Ấn-độ, Trung-cộng, Tây-tạng,

Tên các nhân vật: Có lúc viết hoa theo lối Mỹ nhưng vẫn có gạch nối. Thí dụ:

Khuyển-Dưỡng-Nghị, Tôn-Văn, Vương-Dương-Minh

Thế nhưng ở những chỗ khác lại viết:

Phan-đình-Phùng, Tôn-thất-Thuyết (chữ lót không viết hoa)

Nhóm, hội đoàn, đoàn thể: Viết hoa không thống nhất, chỗ có gạch nối, chỗ không. Thí dụ:

Phong trào Cần-Vương

Phong trào Ðông Du (không gạch nối)

Phong trào Văn-Thân

phong trào cộng sản (cả bốn chữ lại không viết hoa)

Các địa danh viết hoa cũng không thống nhất.

Thí dụ:

Thượng-Hải, Hồng-Kông, Trà-Lùng, Hàng-Bông, Làng Cổ-Am, Yên-Báy, Hải-Phòng

Thế nhưng ở những chỗ khác lại chỉ viết hoa chữ đầu mà thôi. Thí dụ:

Hà-nội, Quảng-châu, Quảng-nam, Lạng-sơn, Dương-tư, Nam-đàn v.v…

Lối viết hoa của Duyên Anh trong Về Yêu Hoa Cúc(1970):

Ðại lược về tên người, địa danh, tên trường học, tước hiệu Duyên Anh viết hoa theo lối Mỹ và bỏ gạch nối. Thí dụ:

Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Mai Thảo, Nguyên Sa, Ðinh Hùng, Hàn Mặc Tử

Ðại Học Văn Khoa, Ðà Lạt, Hà Nội, Mỹ Tho

Thế nhưng còn hai chữ Sài Gòn thì Duyên Anh có lúc viết Sài-gòn (có gạch nối, chữ gòn không viết hoa), rồi có lúc lại viết Sài gòn (không gạch nối)

Tên các tờ báo, tạp chí lối viết hoa cũng không thống nhất. Thí dụ:

nhật báo Ðồng Nai, tuần báo Kịch Ảnh

tức là các chữ nhật báo, tuần báo không viết hoa)

thế nhưng lại viết: Ðông Dương Tạp Chí (tạp chí lại viết hoa)

Các tác phẩm văn chương chỉ viết hoa chữ đầu, chữ sau không viết hoa (tức theo lối cũ). Thí dụ:

Ngày về, Lạnh lùng, Chân trời cũ

Nhưng ở chỗ khác lại viết Tiêu Sơn Tráng Sĩ (tất cả đều viết hoa)

Lối viết hoa không thống nhất của Hoàng Khởi Phong trong Người Trăm Năm Cũ (1993):

Hoàng Khởi Phong là cựu chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp Chí Văn Học trong khoảng thời gian từ 1989-1990. Dĩ nhiên với chức năng này ông phải đọc lại và coi lại rất nhiều bài viết thế nhưng lối viết hoa của ông cũng không thống nhất – điển hình qua tác phẩm Người Trăm Năm Cũ.

Các tước vị hoặc ngôi thứ trong gia đình đều viết hoa như:

Ðề Thám, Cai Kinh, Cả Huỳnh, Cả Tuyển, Tổng đốc Lê Hoan…

Thế nhưng ở nhiều chỗ khác, các tước vị lại không viết hoa:

Thí dụ: vua Hàm Nghi, tướng Voyron, quan ba Lambert…

Các điạ danh, cách viết hoa cũng không thống nhất:

Thí dụ: Phủ Lạng Thương, tỉnh Hà Ðông, huyện Nhã Nam

(Phủ, huyện, tỉnh đều là đơn vị hành chánh thế mà phủviết hoa còn tỉnhhuyện lại không viết hoa).

Các biến cố lịch sử đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Thí dụ: Cuộc khởi nghiã Yên Thế, chiến khu Yên Thế. Ðáng lý phải viết: Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế, Chiến Khu Yên Thế.

Lối viết hoa không thống nhất của Tạ Chí Ðại Trường trong Tạp Chí Văn Học năm 2000:

Tạ Chí Ðại Trường là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học sức học rất uyên bác nhưng cũng lại không để ý đến quy tắc viết hoa. Thí dụ:

Công Giáo (tất cả đều viết hoa)

Thế nhưng ở chỗ khác lại viết: Tam giáo (chữ giáo không viết hoa)

Tự Ðức kí Dụ: Ðáng lý kí viết hoa lại không viết hoa.

truờng Bảo hoä (chữ hộ không viết hoa) nhưng lại viết trường Chu Văn An (chữ an lại viết hoa)

Hồng vệ binh maxít phương Ðông: (chữ phương không viết hoa). Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

Văn Minh Tây Phương (chữ phương lại viết hoa)

Hồng quân Trung Quốc (chữ quân đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Cộng hòa Ðại Hàn (chữ hòa đáng lý viết hoa lại không viết hoa)

Phong trào Không liên kết Thế giới thưù Ba: Các chữ trào, liên kết, giới, thứ – đáng lý phải viết hoa lại không viết hoa.

Lối viết hoa của Nguyễn Hưng Quốc trong Tạp Chí Văn Học năm 2000

Nguyễn Hưng Quốc là cây viết chủ lực cho Tạp Chí Văn Học. Là một nhà bình luận văn học rất kỹ lưỡng thế nhưng Nguyễn Hưng Quốc cũng không chú ý đến quy luật viết hoa.

Tên các tác phẩm đều viết hoa như:

Truyện Kiều

Thơ Mới của Hoài Thanh

Thế nhưng ở một chỗ khác lại viết:

thơ Nguyễn Công Trứ (chữ thơ không viết hoa)

Các tên nhóm, hội đoàn đều viết hoa như:

Nhóm Sáng Tạo (chữ nhóm viết hoa)

trường phái Phê Bình Mới (đáng lẽ chữ trường phái cũng phải viết hoa)

Rồi ở một chỗ khác lại viết:

nhóm Ngôn ngữ học tại Moscow (đáng lý phải viết: Nhóm Ngôn Ngữ Học tại Moscow

II. Quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ

Ðây là quy tắc thống nhất được áp dụng ở khắp mọi nơi. Ít khi thấy nhà văn, nhà thơ, nhà báo Hoa Kỳ vi phạm quy tắc này. Nguyên do chính là vì xã hội của họ đã ổn định cả hai trăm năm nay, việc gì cũng đã trở thành quy củ, nề nếp, có trường ốc. Ngoài ra tờ báo nào, nhà xuất bản nào cũng có một ban biên tập chịu trách nhiệm về vấn đề này chứ không “tự biên tự diễn, tự đánh máy, tự in, tự sáng chế” như chúng ta. Giới thiệu quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ ở đây không có nghĩa là cái gì của Mỹ cũng nhất. Quy tắc nào cũng tốt cả nhưng với điều kiện phải thống nhất. Không thể ở đầu trang viết: Phong trào Ðông du rồi ở cuối sách lại viết Phong Trào Ðông Du. Nếu cứ tiếp tục viết lộn xộn như thế này thì con cháu chúng ta cũng sẽ tiếp tục thừa kế cái lộn xộn đó và hậu quả là cả ngàn năm sau nền văn chương Việt Nam vẫn cứ tiếp tục lộn xộn làm người ngoại quốc điên đầu khi nghiên cứu văn chương Việt Nam. Sau đây là quy tắc viết hoa trong văn chương Hoa Kỳ:

1) Tên người:

Thí dụ: Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân, Ông Tô Hiến Thành, Ông Cao Bá Quát, Ông Tôn Thất Thuyết, Bà Ðoàn Thị Ðiểm, Ông Ðặng Trần Côn, Cô Nguyễn Thị Giang, Cô Bắc.

2) Các con vật mình nuôi và thương mến (pet):

Con Vàng, Con Vện, Con Loulou, Con Cún, Con Bống

3) Các chức vụ, tước hiệu và các chữ tắt của tên:

Thí dụ: Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sử Gia Lê Văn Hưu, Chúa Sãi, Chúa Trịnh, Bà Huyện Thanh Quan, Ðô Ðốc Tuyết, Cai Tổng Vàng, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, Giáo Sư Nguyễn C. Hách, GS Phạm B. Tâm, Ðại Sứ Cabot Lodge, Tiến Sĩ Kissinger, Tổng Thống Roosevelt.

4) Ngôi thứ trong gia đình:

Thí dụ: Cô Bảy, Bác Ba, Bà Cả Tề, Thím Năm, Cô Ba Bến Tre, Cô Năm Phỉ, Út Trà Ôn.

5) Ðịa danh, dinh thự, công viên, thành phố, quận:

Thí dụ: Thành Phố Ðà Lạt, Dinh Ðộc Lập, Phủ Thủ Hiến, Phủ Thủ Tướng, Tòa Thị Chính Nha Trang, Công Viên Tao Ðàn, Vườn Hoa Con Cóc, Vườn Hoa Chéo, Quận Gò Vấp, Quận Châu Thành Mỹ Tho, Xã An Hội…

5) Bến, cảng, phi trường:

Thí dụ: Phi Trường Tân Sơn Nhất, Ga Hàng Cỏ, Bến Vân Ðồn, Bến Sáu Kho, Bến Ðò Bính, Bến Ðò Lèn, Cảng Hải Phòng

6) Ðường:

Thí dụ: Ðường Trần Hưng Ðạo, Xa Lộ Biên Hòa, Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 7, Hương Lộ 8…

7) Chợ:

Thí dụ: Chợ Bến Thành, Chợ Ðồng Xuân, Chợ Tân Ðịnh, Chợ Bà Chiểu, Chợ Lớn, Chợ Huyệïn Thanh Vân…

8) Núi, đèo, cửa ải:

Thí dụ: Núi Hoàng Liên Sơn, Núi Sam, Núi Ba Vì, Núi Ngũ Hành, Núi Ông Voi, Núi Ngự, Ðèo Hải Vân, Ðèo Cả, Ải Nam Quan…

9) Sông, thác, hồ, suối:

Thí dụ: Sông Hồng, Sông Mã, Sông Chu, Sông Hương, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Than Thở, Hồ Ba Bể, Thác Bản Giốc, Suối Giải Oan…

10) Vịnh, biển, đảo:

Thí dụ: Vịnh Hạ Long, Vịnh Cam Ranh, Rạch Cái Cối, Vũng Rô, Quần Ðảo Hoàng Sa, Quần Ðảo Trường Sa, Ðảo Tây Sa, Côn Ðảo, Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Vọng Phu, Phá Tam Giang.

11) Ngày tháng:

Thí dụ: Tháng Giêng, Thứ Hai, nhưng mùa thu, mùa xuân (các mùa lại không viết hoa)

12) Ngày lễ:

Thí dụ: Lễ Hai Bà Trưng, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Ðán, Tết Ðoan Ngọ, Ngày Thiếu Nhi Toàn Quốc, Ngày Quốc Tế Nhân Quyền…

13) Nhóm, hội đoàn:

Thí dụ: Nhóm Sáng Tạo, Nhóm Ngàn Lau, Hội Ðua Ngựa Phú Thọ, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Hội Ái Hữu Gò Công, Câu Lạc Bộ Lướt Sóng, Môn Phái Vovinam, Môn Phái Thiếu Lâm, Trường Phái Siêu Thực, Trường Phái Dã Thú, Trường Phái Ấn Tượng.

14) Ban nhạc:

Thí dụ: Ban Thăng Long, Ban Tiếng Tơ Ðồng, Ban The Rolling Stone, Ðoàn Cải Lương Hương Mùa Thu, Ðoàn Thoại Kịch Tiếng Chuông Vàng.

15) Báo chí, tựa đề các cuốn sách, thơ, bài báo, vở kịch, bức hoạ, bản nhạc, truyện, cuốn phim và tựa đề của một bài viết (*):

Thí dụ: Nam Phong Tạp Chí, Tạp Chí Bách Khoa, Nhật Báo Người Việt, Ðoạn Tuyệt, Thơ Vũ Hoàng Chương, Truyện Kiều, Kịch Lôi Vũ, Trường Ca Mẹ Việt Nam, Cầu Sông Qwai…

16) Thánh thần và kinh sách:

Thí dụ: Trời, Phật, Chúa, Ðức Thánh Trần, Bà Chúa Liễu Hạnh, Mẹ Âu Cơ, Kinh Kim Cang, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Coran, Kinh Cựu Ước..

17) Miền, vùng của một đất nước (nhưng không phải để chỉ phương hướng). Thí dụ:

Miền Nam, Miền Bắc, Miền Trung, Vùng Cao Nguyên, Miền Tây, Bắc Bình Ðịnh…

18) Các biến cố lịch sử, tài liệu, mốc thời gian:

Thí dụ: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, Ðệ II Thế Chiến,

Thời Kỳ Bắc Thuộc, Thời Kỳ Trịnh – Nguyễn Phân Tranh, Thời Kỳ Phục Hưng, Nhà Hậu Lê, Bình Ngô Ðại Cáo…

19) Ngôn ngữ, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo:

Thí dụ: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Hoa Ngữ, Nhật Ngữ, Việt Ngữ

Thái, Nùng, Kinh, Thượng, Ra-Ðê, Việt v.v…

Việt Tịch, Pháp Tịch, Ấn Tịch…

Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Ấn Ðộ Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo…

20) Tên các con tàu, xe lửa, máy bay hoặc nhãn hiệu xe hơi:

Thí dụ: Tuần Dương Hạm Yết Kiêu, Khu Trục Hạm Vạn Kiếp, Hàng Không Mẫu Hạm Trần Hưng Ðạo…La Dalat, Citroyen, Toyota v.v…

Thiên Lôi (Thunderchief), Con Ma (Phantom)

21) Chữ đầu của câu trích dẫn:

Thí dụ: Trần Bình Trọng dõng dạc nói “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

(Trích Tuyển Tập 20 Năm Viết Văn xuất bản năm 2004)

(*) Hoàn chỉnh theo góp ý của một độc giả.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Đào Văn Bình-Cách Viết Hoa Trong Tiếng Việt

Mặc Lâm phỏng vấn Nguyễn Hưng Quốc về Võ Phiến

Mặc Lâm phỏng vấn Nguyễn Hưng Quốc

Nhà văn Võ Phiến vừa qua đời vào chiều hôm qua ngày 28 tháng 9 tại thành phố Santa Ana California hưởng thọ 90 tuổi.

Võ Phiến là cây bút nổi tiếng của văn học Việt Nam từ thập niên 60 khi cuộc chuyển mình giữa hai luồng tư tưởng tự do và cộng sản lên tới đình cao nhất. Tác phẩm của ông để lại cho Văn học Việt Nam đồ sộ không những ở con số của các trang sách mà trong từng trang sách ấy chứa đựng sự sáng tạo, trăn trở với văn học, với con đường đất nước đã lặn lội qua nhiều chế độ.

Để tưởng nhớ ông, Mặc Lâm có cuộc trao đổi với nhà phê bình văn học Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, người đã theo dõi và viết nhiều chuyên đề về nhà văn Võ Phiến. Mời quý vị theo dõi sau đây

Mặc Lâm: Thưa GS, là người theo dõi, viết nhiều về nhà văn Võ Phiến xin ông cho biết ấn tượng nào của ông về văn nghiệp của nhà văn được xem là lớn và nhiều ảnh hưởng nhất của Văn học Việt Nam hiện đại này.

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Tôi có ấn tượng rất tốt về Võ Phiến, đó là sự quan tâm của ông đối với văn chương. Ông say mê viết lách đã đành, ông còn có niềm say mê đọc những người khác. Mỗi lần thấy người nào viết hay ông trầm trồ, khen ngợi, động viên khuyến khích họ. Ông không hề có một chút gì ghen tỵ hay khó chịu.

Mỗi lần tôi ra một cuốn sách hay viết một bài báo nào đó mà ông đọc được thì ông trầm trồ khen ngợi bằng những bức thư dài 3, 4 trang để bình luận về một bài báo của tôi. Tôi nghĩ là ở Võ Phiến ngoài cái tài của ông thì điều mà người ta không thể phủ nhận được còn cái tâm của ông đối với giới viết lách, văn chương. Tôi nghĩ hiếm có người nào mà vừa say mê văn chương lại vừa rộng lượng với người khác như Võ Phiến.

Mặc Lâm: Nhà văn Võ Phiến từ nhiều chục năm qua được nhiều người cho rằng là ngòi viết chống cộng, dĩ nhiên các quan chức văn nghệ Việt Nam là những người ủng hộ cho ý kiến này nhất. Riêng GS ông có cho rằng Võ Phiến xem việc chống cộng cho mục tiêu viết lách của mình hay không?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Trước năm 1975 ở miền Nam Võ Phiến có viết nhiều thể loại khác nhau trong đó ông viết bình luận văn học, bình luận về chính trị. Ngoài ra ông còn viết tùy bút, truyện dài, truyện ngắn. Thành tựu lớn nhất của Võ Phiến là tùy bút, truyện ngắn thế nhưng người ta bị ám ảnh nhiều về những bài bình luận chính trị của Võ Phiến và người ta cho ông là cây bút chống cộng.

Tôi nghĩ điều này thật ra xuất phát từ chỗ không phải Võ Phiến viết bài chống cộng nhiều nhưng mà chủ yếu ở chỗ Võ Phiến viết bài chống cộng hay anh ạ. Sau này tôi đọc lại những bài bình luận chính trị của Võ Phiến viết về chủ nghĩa cộng sản cũng như cộng sản miền Bắc nói chung từ những năm 60-61-62… trong giai đoạn đó Võ Phiến hiểu rất rõ, rất tinh tế những âm mưu, ý đồ của cộng sản miền Bắc.

Tôi nghĩ rằng người ta gán cho Võ Phiến danh xưng nhà văn chống cộng bởi vì người ta sợ ông, sợ sự sắc sảo của ông. Bởi vậy không có gì ngẫu nhiên sau năm 1975 khi chiếm được miền Nam thì Võ Phiến được coi là cây bút đứng đầu trong danh sách chống cộng, những cây bút được coi là phản động là biệt kích chống cộng…và toàn bộ sách của ông bị cấm xuất bản thậm chí bị tịch thu, thiêu hủy.

Mặc Lâm: Giáo sư có quan hệ mật thiết với nhiều nhà văn trong nước ông thấy thái độ của họ thế nào? Họ có đồng thuận với cáo buộc của nhà nước cho rằng tác phẩm của Võ Phiến là tiền đồn chống cộng hay không?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Một cách chính thức trên sách báo xuất phát từ bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền Việt Nam thì tôi nghĩ là mọi người ai cũng thấy Võ Phiến bị lên án, bị công kích và phê phán rất nhiều, thế nhưng trong những cuộc gặp gỡ riêng tư tôi lại thấy người ta rất nể phục Võ Phiến. Ví dụ trước năm 79 hay 80-81 gì đó tôi có dịp gặp nhà thơ Chế Lan Viên một lần tại Sài Gòn ông có nhắc đến Võ Phiến và rất khen ngợi Võ Phiến. Sau này gặp nhiều người khác tôi cũng nghe người ta rất khen Võ Phiến. Một trong những người khen Võ Phiến nhiệt tình nhất là nhà văn Nguyễn Khải.

Cách đây khoản 10 năm Nguyễn Khải có dịp sang Mỹ thì ông có viết thư cho Võ Phiến và bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Võ Phiến. Nhà văn Võ Phiến có giao bức thư của nhà văn Nguyễn Khải cho tôi để tôi giữ làm tài liệu. Khá nhiều người cầm bút ở miền Bắc cũng như trong nước sau 1975 bộc lộ niềm ngưỡng mộ đối với Võ Phiến.

Mặc Lâm: Trong sự nghiệp văn chương của Võ Phiến có lẽ thành tựu lớn nhất của ông là tập Văn học Miền Nam Tổng quan, là người nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam Giáo sư đánh giá công trình này như thế nào?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Vâng, sau năm 1975 ở hải ngoại Võ Phiến viết nhiều thể loại khác nhau. Ông viết truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, tạp bút thậm chí ông làm thơ nữa! Theo tôi thành tựu lớn nhất của Võ Phiến sau năm 1975 ở hải ngoại chính là bộ Văn Học Miền Nam, trong đó bao gồm nhiều tập mà tập anh vừa nêu là tập đầu tiên, giới thiệu toàn bộ bối cảnh sinh hoạt văn học miền Nam trước năm 75 cũng như những thành tựu, những xu hướng, trường phái khác nhau trong 20 năm văn học miền Nam. Tuy nhiên sau đó ông xuất bản thêm khá nhiều tập khác, có mấy tập chuyên về thơ, về tiều thuyết, tùy bút, kịch….

Nói chung đó không những là thành tựu lớn nhất của Võ Phiến sau 1975 mà thậm chí đó là thành tựu lớn nhất của cả hải ngoại nói chung về văn học miền Nam trước 75. Cho tới bây giờ chưa có người nào viết về văn học miền Nam một cách đầy đủ, sắc sảo, tinh tế đến như vậy anh ạ.

Cho đến bây giờ khi đọc lại cuốn Văn học Miền Nam Tổng quan của Võ Phiến cũng như những bài nhận xét của Võ Phiến về một số nhà thơ, nhà văn miền Nam thì tôi nghĩ người ta sẽ hiểu hơn một nền văn học bị trù dập, bị âm mưu xóa bỏ sau 1975.

Mặc Lâm: Riêng tại hải ngoại GS có nghĩ rằng nhiều người theo dõi, đọc và bị ảnh hưởng tác phẩm của nhà văn hay không?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Thật ra có lẽ những người chịu ảnh hưởng của Võ Phiến cũng khá nhiều nhưng bàng bạc đây đó rất khó ghi nhận. Võ Phiến vốn là một nhà văn lặng lẽ tuy ông có phong cách xuất sắc riêng rất độc đáo nhưng rất lặng lẽ cho nên ảnh hưởng của Võ Phiến đối với người sáng tác khác ở hải ngoại có lẽ không rõ ràng lắm trừ chuyện ông chuyển lửa cho họ bằng sự đam mê, nồng nhiệt của mình. Khuyến khích họ cầm bút, khuyến khích họ tiếp tục sáng tác.

Mặc Lâm: Riêng về giới viết lách và nghiên cứu văn học trong thế hệ của GS có ai xem Võ Phiến là ngọn nến soi rọi trên sáng tác hay nghiên cứu của họ không?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Thế hệ chúng tôi khác hơn Võ Phiến nhiều chỗ bởi vì chúng tôi trưởng thành và ra hải ngoại sớm bởi vậy thành thật mà nói những tác phẩm chúng tôi đọc thì có lẽ của phương Tây nhiều hơn là văn học Việt Nam. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chúng tôi không chịu ảnh hưởng của Võ Phiến. Chúng tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ phong cách viết lách của ông. Chịu ảnh hưởng từ đam mê của ông, từ thái độ nghiêm túc đối với chuyện viết văn, làm thơ. Ảnh hưởng của ông đối với thế hệ chúng tôi có lẽ sâu đậm mà còn cần thời gian chúng ta mới nhận ra nó cụ thể như thế nào.

Mặc Lâm: Xin được một câu hỏi cuối, với tư cách cá nhân là người tiếp xúc thường xuyên với nhà văn Võ Phiến, GS có chia sẻ gì về sự ra đi của ông?

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: Với tư cách cá nhân của tôi do quen biết khá nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam trước 1975 cũng như ở hải ngoại sau 1975 thì người gần gũi nhất với tôi là Võ Phiến. Lý do gần gũi bởi vì từ năm 1996 tôi có xuất bản một chuyên khảo viết về Võ Phiến. Trước đó để cung cấp tài liệu thì Võ Phiến gửi thư cho tôi hầu như hàng tuần hoặc hàng tháng. Tôi nhận được hàng trăm bức thư khác nhau của ông trong đó ông kể về cuộc đời, về quan niệm của ông đối với chuyện sáng tác. Về những kỷ niệm của ông trong sinh hoạt nghệ thuật ở miền Nam trước và sau năm 1975, cho nên qua những thư từ trao đổi như vậy tôi thấy rất gần gũi với Võ Phiến.

Tôi có cảm giác Võ Phiến không phải là nhà văn ở ngoài mà là người thân trong gia đình, bởi vậy khi nghe tin Võ Phiến mất thành thật mà nói tôi rất xúc động, bàng hoàng có cảm giác nghẹn ngào như nghe một người thân của mình vừa mới qua đời.

Đó là chỗ riêng tư còn nói một cách tổng quát tôi cho sự ra đi của Võ Phiến là một mất mát với nền văn học Việt Nam nói chung. Không thể hoài nghi được trong suốt thế kỷ 20 thì Võ Phiến là một nhà văn xuất sắc nhất của chúng ta. Mất ông chúng ta mất đi một đại thụ trong văn học Việt Nam.

Mặc Lâm: Xin cám ơn GS Nguyễn Hưng Quốc.

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Mặc Lâm phỏng vấn Nguyễn Hưng Quốc về Võ Phiến

Chữ “li” trong “Biệt li” có phải là của Vc không

Mấy hôm nay có vụ Hội Việt Học (Nam CA) mời mọi người tham dự “Đêm Văn Nghệ Chủ Đề "Biệt Li" của CLBVN Viện Việt Học”. Vì hai chữ “Biệt li” này mà Hội Việt Học bị nick chuyen.9811 mỉa mai là Hội Thất Học. Mail mỉa mai này được mọi người ào chuyển tiếp theo kiểu “hồ hởi phấn khởi” vì bắt được quả tang Hội Việt Học dùng chữ Vc (cười).

Cá nhân tôi trước đây cũng bị ngộ nhận như thế. Đơn giản thôi, kiểu “biệt li” không có thời trước 1975 và hiện tại trong nước thì vc dùng nhiều. Theo tam đoạn luận thông thường thì xem như vc là chủ xị của kiểu chữ đó. Tôi chỉ được giải tỏa vào năm 2014 qua một tình cờ thôi.

Sự thể như vầy, tôi được sư huynh Lê Anh Kiệt gửi tặng cuốn “Mặt Trận Đại Học thời VNCH” của bạn sư huynh là Bạch Diện Thư Sinh. Khi đọc, tôi rất khó chịu vì một số Y bị viết thành I. Tôi mail bày tỏ với BDTS là mấy năm trước tôi lang thang net và có đọc bài của anh nhưng nó làm tôi “bối zối”. ( cười). Bối rối vì nội dung là “phe ta” mà hình thức lại dùng “chữ của VC”.

Bạch Diện TS gân cổ lên cãi với tôi. Anh nói rằng khi được học môn Ngôn Ngữ Học ở Văn Khoa thì nhóm anh đã được biết những “điều chỉnh” đó. Lẽ ra nếu không vì tình hình chiến tranh thì Bộ Quốc Gia Giáo Dục sẽ phổ biến và như thế một số quy tắc mới “I/Y” sẽ được phổ cập từ bậc tiểu học.

Tôi ngán ngẩm nói rằng, nếu Bộ đã không kịp phê chuẩn thì bây giờ cứ viết kiểu cũ đi. Chớ nếu viết vậy, mọi người không hiểu, sẽ cho là “sản phẩm made in VC”. Cộng đồng hải ngoại vốn đã rối ren nhiều thứ thì đừng làm rối ren thêm vì “I/Y”. Tuy tôi nói vậy, BDTS vẫn ngoan cố không nghe. Thôi thì trong lãnh vực ngôn ngữ , “đường lão lão Go, đường mợ mợ Go” vậy!

Hôm thứ sáu ngày 11 tháng 9, 2015 tôi nhận mail từ một muội Gia Long. Cô này fw mail từ nick kia, nội dung chỉ trích Viện Việt Học đã viết “biệt li” và mỉa mai “Viện Thất Học”. Tôi chuyển cho Bạch Diện Thư Sinh và hỏi “ Họ viết Biệt li có đúng không lão?” thì lão giả nhời vầy:

Lão nể Mợ cho nên đã đánh máy nguyên tắc 5 điểm này để "hầu" Mợ coi chơi.

I, Y và UY (GS Đoàn Xuân Kiên)

Nguyên tắc năm điểm:

Viết Y trong những trường hợp sau đây:

1) Khi tổ hợp âm /IÊ/ ở đầu một tiếng:

Thí dụ: yên, yêu, yết.

2) trong các tổ hợp âm chúm môi /UI/ và /UIÊ/ (viết là UY, UYÊ, UYA)

Thí dụ: uy, chuyện, khuya, nguy, tuy.

3) ở sau âm ngắn của A [trong chính tả hiện nay cũng viết bằng đồ vị /A/ và âm ngắn của Ơ [tức là đồ vị /Â/].

Thí dụ: cay, dày, dạy, mây.

Viết I trong những trường hợp sayu đây:

4) khi âm /I/ là nguyên âm, hay là phần âm chính của âm tiết.

Thí dụ: ỉ, bí, chim, hí, kim, lì, lính, sĩ, tị, vì, vinh.

5) Khi âm /I/ là âm cuối, đứng sau phần âm chính ở thể thường, để khép âm tiết.

Thí dụ: ngùi, đói, người, củi, hời, trai.

(Trích GS Đoàn Xuân Kiên (Anh Quốc). Bài "Nói Thêm Về Chữ I và Y Trong Chính Tả Tiếng Việt". Trang 45. Tạp chí Định Hướng, Số 32, Mùa Thu 2002. Trung Tâm Nguyễn Trường Tộ)

Tuy vậy, hôm nay, ngày 13 tháng 9 2015 khi có tên “khỉ” kia mạo nhận cựu nữ sinh Gia Long để viết mail chụp mũ cho Hội Ái hữu Cựu NS Gia Long Nam CA là “cố ý dùng I thay cho Y” và tôi bực mình vì đụng đến trường tôi nên tôi fw cho Bạch Diện TS thì lão “đùng đùng” vầy:

1. Không! Lão không tranh cãi với ai. Lão chỉ nhẹ nhàng bảo là không nên chụp nón cối cho ai viết I thay Y mà thôi. Chưa có hàn lâm viện, chưa có luật thống nhất chính tả thì ai viết sao thì viết. Lão tôn trọng tự do.

2. Lão không "ngoan cố". Lão theo tinh thần đại học khai phóng, tìm kiếm "khoa học". Ngữ Học là môn khoa học nhưng nó không cố định. Nó có đời sống, có tiến triển. Năm 1950 khác 2015.

Lão nhờ ơn Trời cho tới cái tuổi "chống gậy", "Thất thập cổ lai hi". Lão thấy cái gì đúng, nên làm thì làm. Vị nào muốn nói chuyện Ngữ Học thì lão hoan nghênh và học hỏi với điều kiện họ cống hiến cái học thức, chứ còn cứ chửi vung xích chó lên, cứ tố cáo, cứ chụp mũ mà không đưa ra lí cứ, học thuật thì (xin lỗi) lão không việc gì phải quan tâm.

Nể tình lão là bạn ‘tử tế’ nên tôi gửi lên đây bài lão viết về I/Y với hy vọng mai mốt bạn hữu tôi sẽ hiểu thêm và sẽ không nghĩ rằng đó là sản phẩm “made in Vc” nữa. Chẳng qua sau này trong nước, họ dùng thì người quốc gia cứ ngỡ đó là của vc mà thôi.

Tôi còn nhớ hồi làm cho BPSOS thì chúng tôi, những người cũ, cũng “đụng độ” Nguyễn Đình Thắng về vụ ngôn ngữ này ( cười). Chúng tôi học thời VNCH và quen viết “hòa” hay “Ủy”. Ông Nguyễn Đình Thắng, có lẽ khi phải làm tờ Mạch Sống đã học lại Việt ngữ và ông đã học quy tắc bỏ dấu từ Đoàn Xuân Kiên (Anh Quốc) (tôi đoán vậy). Đó là bỏ dấu ở âm mạnh (strong, chính ). Vì thế bài tôi và các vị cao niên viết đều bị ô Thắng sửa “hòa” thành hoà” hết (cười) (ví dụ vậy). Sau vài tháng, ô Thắng “rầy rà” tôi là sao để staffs bỏ dấu sai hoài. Tôi “gào” lại với staffs và cộng tác viên. Hồi đó tôi rất “cáu” với ô Thắng. Khi tôi cãi, (ai bỏ dấu kiểu gì thì kệ họ) thì Thắng bảo, tờ Mạch Sống phải là một tờ báo “chuẩn mực” (Giê su ma lạy chúa tôi!). Dường như về sau, tôi có buổi “conference” huấn luyện cho staffs viết bài thì vài satff gào lên với tôi, phản đối vụ bỏ dấu. Tôi mail “report”cho Thắng và Thắng quyết định “ từ nay Thắng sẽ theo chúng tôi, phe đa số” vì Thắng không muốn bài ở Mạch Sống bỏ dấu khác nhau. Sau đó thì chuyện gì xảy ra thưa các bạn? Ô Nguyễn Đình Thắng nhà tôi “bỏ dấu tầm bậy” vì ông ta nghĩ là kiểu cũ của chúng tôi bỏ thế! Ông không hiểu, có những cái thì “cũ/mới” đều bỏ dấu giống nhau. Khi “edit” bài Thắng, tôi cười lăn cù chiêng với chữ này “óan”. Thế đó, một số người sau này học quy tắc bỏ dấu hay I/Y từ Đoàn Xuân Kiên và thế là bị chụp cái mũ "dùng chữ VC"!

Đây là bài viết về I/Y của Bạch Diện Thư Sinh. Mong rằng sau khi đọc xong, có lẽ chúng ta sẽ không cò nghĩ “biệt li” là sản phẩm “made in vc” nữa. Hội Việt Học ở Nam CA đâu thể nào “xài chữ đặc quyền của Vc” được? (cười).

Hoàng Lan Chi

9/2015

VIẾT ‘I’ HAY ‘Y’

Bạch Diện Thư Sinh

Báo Trẻ số 657 ra ngày 07.01.2010 có bài “Tiếng Việt ngày nay: Chữ và Nghĩa” của tác giả Quốc Thái đã gây cho tôi nhiều thiện cảm vì tác giả là một bạn trẻ sống ở hải ngoại mà rất quan tâm tới việc gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt; hơn nữa lại còn có tinh thần chống chế độ Cộng Sản độc tài, độc đảng rất cao.

Tôi tán đồng hầu hết những điều tác giả Quốc Thái nêu ra trong bài viết, nhất là đoạn tác giả nhắc nhở cho vài vị cựu tù Cộng sản “không có ý thức”. Quốc Thái viết: “Trong công ty tôi có một Bác xưa là sĩ quan cao cấp của Quân lực VNCH mà nói với tôi rằng ‘hồi giải phóng vô, sau đó Bác đi học tập cải tạo, đất nước mình nghèo và lạc hậu, bây giờ đổi mới và phát triển rất nhiều so với thời VNCH và lúc mới giải phóng’. Tôi hỏi Bác, ai là giải phóng? Tại sao Bác gọi kẻ thù mà một thời Bác từng cầm súng chống sự xâm lăng của họ và bảo vệ miền Nam là giải phóng, họ giải phóng Bác và nhân dân miền Nam à? Và tại sao Bác lại nói rằng Bác ‘đi học tập cải tạo’, như vậy Bác tự cho rằng lý tưởng Quốc gia của Bác khi xưa là sai hay sao? Vậy tại sao Bác hiện diện ở xứ sở này để làm gì?”

Chỉ có một điều tôi xin tác giả Quốc Thái xem xét lại. Đó là việc tác giả khẳng định rằng “CS hay viết I thay cho Y, ví dụ: mỹ, thì họ viết là mĩ, kỹ thì họ viết là kĩ, v.v. và Y thì lại thay cho I, ví dụ như sỹ quan, nhạc sỹ, bác sỹ. Lối viết này tôi thấy rất nhiều trên báo của người Việt hải ngoại”.

Thiển nghĩ đây không còn phải là vấn đề Quốc – Cộng nữa mà là một vấn đề thuộc lãnh vực của môn ngữ học.

Đã có biết bao nhiêu người thắc mắc, tự hỏi viết I hay Y trong chính tả chữ quốc ngữ, cách nào đúng? Có quy tắc gì không? Xưa nay,trong từ điển cũng như trên các sách vở báo chí rõ ràng đã có chuyện viết bất nhất hai chữ này; còn trong đời thường đã từng xẩy ra biết bao nhiêu cuộc cãi vã, thiếu điều ‘thượng cẳng tay hạ cẳng chân’ với nhau chỉ vì viết I hay viết Y mà ra!

Do đó, dường như tất cả những ai quan tâm tới chữ quốc ngữ đều mong ước các nhà chuyên môn về ngữ học nghiên cứu và thống nhất với nhau về cách viết chính tả tiếng Việt, trước khi nhà nước, học đường, các nhà làm từ điển và các cơ quan truyền thông làm phần việc của họ để sớm hoàn tất việc định chuẩn hoá cách viết chính tả tiếng Việt, trong đó cách viết hai chữ I và Y nổi bật lên.

Hôm nay, nhân đọc bài viết trên báo Trẻ của tác giả Quốc Thái, tôi nhớ lại trước đây trên Mục Sưu Khảo của Vietcatholic News, tôi đã được đọc một bài viết của Linh mục Nguyễn Ngọc Huỳnh, CssR, cũng bàn về chữ nghĩa, và về cách viết chữ I và Y. Mặc dù ngày xưa tôi có “giật” được Chứng chỉ Ngữ học Việt Nam (tại Văn Khoa/Đh Saigon) thật, nhưng tự nhận, tôi không chuyên môn về ngữ học, mà chỉ là một trong muôn vàn người quan tâm tới việc thống nhất chính tả Việt ngữ và muốn học hỏi thêm với các nhà chuyên môn, và tôi đã mạo muội đúc kết ý kiến của các vị đó thành một bài ngắn nêu lên lí do và quy tắc cho việc thống nhất cách viết hai chữ I và Y trong chữ quốc ngữ .

1. Kỹ thuật hay kĩ thuật, tu sỹ hay tu sĩ?

Lm.Nguyễn Ngọc Huỳnh cho là viết cách nào cũng được vì đọc lên nghe giống nhau cả, linh mục nói thêm: nếu viết tất cả bằng chữ I thì “gọn” hơn và tốt hơn cho việc thống nhất chính tả.

Nói như Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh thì vấn đề vẫn còn tùy tiện. Thiển nghĩ, nên viết thống nhất bằng chữ I trong trường hợp này. Viết I trong trường hợp này là đúng theo nguyên tắc do Alexandre De Rhôdes đưa ra từ năm 1651: (a) chữ I dùng để ghi nguyên âm của âm tiết, có thể là nguyên âm đơn /i/ hay nguyên âm đôi /iê/ : bí, biết. (Xin đọc Gs. Đoàn Xuân Kiên. Nói Thêm Về Chữ I Và Chữ Y Trong Chính Tả Tiếng Việt. Định Hướng số 32, tr.43).

2. Chú ý hay chú í, y học hay i học?

Đây là trường hợp chữ I đứng một mình, không phụ âm đầu, không phụ âm cuối, chẳng có bán nguyên âm đệm, chẳng có bán nguyên âm cuối. Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh cho rằng trường hợp này viết Y sẽ có “thẩm mĩ hơn”, đỡ “tội nghiệp” hơn.

Giáo sư Đoàn Xuân Kiên cũng nghĩ như vậy. Ông nêu lí do vì có “sự thiên vị trong tâm lí ngôn ngữ”: “ Trong chính tả hiện nay, khi âm /i/ đứng ở đầu âm tiết thì khi viết có tình hình nước đôi: ý tưởng, nhưng í ới. Nếu theo đúng nguyên tắc (a) của De Rhodes thì phải nhất loạt viết là I mà thôi. Tuy vậy, trong khi chúng ta viết âm ỉ, ầm ĩ, đi ỉa theo đúng nguyên tắc âm vị học thì sự thiên vị trong tâm lí ngôn ngữ đã dẫn đến thói quen viết y thị, ý kiến, ỷ lại.”

Nếu tôi không lầm về thời điểm thì vào năm 1983 (không dám chắc lắm), lúc đó tôi đang ở Trại A 20 (Trại Xuân Phước, Mật khu Kì Lộ, tác giả Nguyễn Chí Thiệp gọi là Trại Kiên Giam) và đã đọc được bài báo đưa tin về Hội nghị các nhà ngữ học VN (Bắc cũng như Nam) tại Đại học Tây Ninh, tức Đại học Cao Đài trước 1975. Hội nghị này đã khuyến cáo: Tạm thời có thể tùy ý viết I hoặc Y trong trường hợp chữ này đi một mình.

3.Quy hay qui, quý hay quí, quỷ hay quỉ, quỳ hay quì, quỹ hay quĩ, quỵ hay quị?

Xin đồng ý ngay với Lm. Nguyễn Ngọc Huỳnh khi ông cho rằng quỷ là q+uỷ, nhưng bảo củi là q+ủi thì không chính xác.

Vì trong tiếng Việt, k viết trước các nguyên âm “i”, “e”, “ê”: ý kiến, kén chọn, kênh kiệu.

c viết trước các nguyên âm khác: ca hát, con cá, cô cậu, cúc cung.

q viết trước bán nguyên âm đệm “u”: qua loa, quan tòa, luẩn quẩn, loạng quạng.

Lm. NguyễnNgọc Huỳnh nhấn mạnh “u” ở đây là bán nguyên âm, vì nếu là nguyên âm thì theo nguyên tắc ta phải viết “cu”. Thế nhưng ông lại chủ trương viết được cả hai cách các chữ quy hay qui, quý hay quí, v.v., lấy lí do khi đọc lên, viết cách nào,thì nghe cũng giống nhau cả!

Đang khi đó, giáo sư Đoàn Xuân Kiên cũng nói âm /k/ được kí hiệu bằng 3 chữ cái c, k,q tùy trường hợp. Nhưng giáo sư nhấn mạnh trường hợp chữ q đi với tổ hợp âm chúm môi /ui/. Ông nhận xét trong tiếng Pháp, không bao giờ q viết một mình mà luôn luôn đi kèm với u cho nên người ta dễ lầm tưởng qu ở đây chỉ là phụ âm đầu trong trường hợp âm chúm môi và sẽ viết quí, quít vì âm /i/ nay là nguyên âm đứng làm phần âm chính của âm tiết. Sự thực thì phần chính của âm tiết chúm môi là /ui/ chứ không là /i/, cho nên nếu đã viết quyết, quyền thì tại sao lại viết quí mà không viết quý.

Tóm lại, theo giáo sư Đoàn Xuân Kiên (cư ngụ tại Anh quốc), có nguyên tắc gồm 5 điểm để viết I và Y do Alexandre De Rhodes để lại như sau:

Viết Y trong những trường hợp:

1) Khi tổ hợp âm /iê/ ở đầu một tiếng.

Thí dụ: yên, yêu, yết.

2) Trong các tổ hợp âm chúm môi /ui/ và /uiê/ (viết là uy,uyê,uya).

Thí dụ: uy, chuyện, khuya, nguy; (do đó đương nhiên sẽ viết: quy, quý, quỷ, quỳ, quỵ).

3) Ở sau âm ngắn của a [trong chính tả hiện nay cũng viết bằng đồ vị /a/ và âm ngắn của ơ [ tức là đồ vị /â/].

Thí dụ: cay, dày, đây, mây.

Viết I trong những trường hợp:

4) Khi âm /i/ là nguyên âm, hay là phần âm chính của âm tiết.

Thí dụ: ỉ, bí, chim, hí, kìm, lì, lính, sĩ, tị, vì, vinh.

5) khi âm /i/ là âm cuối, đứng sau phần âm chính ở thể thường, để khép âm tiết lại.

Thí dụ: ngùi, đói, người, củi, hồi, trai.

Trên đây là câu chuyện của những người quan tâm tới việc thống nhất chính tả tiếng Việt. Song dù các nhà ngữ học có công lao nghiên cứu đến đâu cũng chẳng đủ thẩm quyền để bắt mọi người phải viết theo nguyên tắc. Hơn nữa trong lãnh vực phong tục tập quán nói chung, lãnh vực ngôn ngữ nói riêng, vốn đã có một quy luật, đó là: thói quen là luật. Không dễ gì trong một sớm một chiều mà có thể thay đổi được một thói quen. Tuy nhiên, hãy cứ cổ võ, hãy cứ học hỏi với các nhà chuyên môn này. Hi vọng một ngày không xa, nhà nước, các học đường, các nhà làm từ điển và các cơ quan truyền thông sẽ đứng ra lãnh trách nhiệm san định, định chuẩn hóa tiếng Việt hầu có thể thống nhất chính tả Việt ngữ, làm cho tiếng Việt tiến lên trong sáng và trưởng thành. Khi đó một học sinh, sinh viên khi làm bài thi sẽ hết còn phải lo âu, như chính chúng tôi đã từng lo âu trước đây, không biết thầy mình ưng mình viết yêu quí hay yêu quý, nước Mĩ hay nước Mỹ, nhà Lí hay nhà Lý, hi sinh hay hy sinh, v.v., nếu không may viết trái ý thầy có thể sẽ bị đánh giá là lố lăng, lập dị thì rất tai hại cho kết quả thi cử.

Tới đây, mong rằng tác giả Quốc Thái và quý độc giả hiểu việc viết I hay Y không phải là vấn đề chính trị, cũng không phải là chuyện lố lăng hay lập dị, mà là chuyện ngữ học, chuyện thống nhất chính tả Việt ngữ. Muốn thống nhất thì phải dựa trên những nguyên tắc hợp lí, phải được Quốc hội chân chính (được bầu lên một cách dân chủ thực sự) chấp thuận và chính phủ ban hành thành luật. Lúc đó mới có thể bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ một cách viết chính tả duy nhất đúng.

Hiện nay tuy điều mong ước ấy chưa thành, vẫn còn tình trạng tùy tiện khi viết hai chữ I và Y, nhưng xin đừng ai quy kết cho nhau là học theo lối viết của Việt Cộng hay là lố lăng, lập dị khi viết: nhà Lí, nước Mĩ, li rượu, kĩ nghệ…hay là viết quý mà không viết quí, v.v., đang khi đó vẫn viết ỷ y, y tế, ý kiến (biệt lệ), nhưng lại viết y sĩ…, vẫn viết yêu, yên, yết, nhưng viết Ngã Ba Chú Ía, ỉa đái (xin lỗi)…. Bởi vì viết như vậy là đang áp dụng quy tắc của Alexandre De Rhodes đưa ra từ năm 1651. Quy tắc này rất hữu lí và có thể làm căn bản cho việc thống nhất cách viết hai chữ I và Y trong chữ quốc ngữ.

Bạch Diện Thư Sinh

Posted in Tạp Ghi | Comments Off on Chữ “li” trong “Biệt li” có phải là của Vc không